phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài Chƣơng 2. Năng lực tự học và dạy học blended learning Chƣơng 3. Thực nghiệm sƣ phạm 6 c CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỂ TÀI 1. Định hƣớng đổi mới giáo dục trong thời đại công nghệ 4.0 Hiện nay với sự phát triên mạnh mẽ của công nghệ thông tin (CNTT), đặc biệt là hệ thống internet làm xuất hiện nhiều hình thức dạy học mới nhƣ E- learning, dạy học từ xa,. bên cạnh các hình thức dạy học truyền thống. Tuy nhiên, các hính thức dạy học dựa vào CNTT bên cạnh những ƣu điểm vẫn có những nhƣợc điểm.
Vì vậy, việc kết hợp giữa hai hình thức dạy học trực tuyến và truyền thống thành một hình thức dạy học mới , đó là dạy học blended learning. Đây đƣợc xem là một giải pháp hữu hiệu, hệ quả tất yếu của xu thế phát triển xã hội. Ngày 27/12/2018 Bộ giáo dục và Đào tạo đã công bố Chƣơng trình giáo dục phổ thông mới là Chƣơng trình Tổng thể trong đó có 27 Chƣơng trình môn học, hoạt động giáo dục. Theo đó, Chƣơng trình giáo dục phổ thông mới đƣợc xây dựng theo mô hình phát triển năng lực, thông qua những kiến thức cơ bản, thiết thực, hiện đại và các phƣơng pháp tích cực hóa hoạt động của ngƣời học, giúp HS hình thành và phát triển những phẩm chất và năng lực mà nhà trƣờng và xã hội kì vọng.
Do đó, các yếu tố của quá trình giáo dục trong nhà trƣờng phổ thông cần đƣợc tiếp cận theo hƣớng đổi mới để tạo một diện mạo mới cho giáo dục Việt Nam, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội hiện đại. Đặc biệt hơn thế nữa trên Thế giới đang trong giai đoạn tạo bản lề của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 với trung tâm là sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, Internet tốc độ cao, robotic, công nghệ vật liệu nano. Để phù hợp xu thế này nền giáo dục cũng phải đổi mới, phát triển chƣơng trình, phƣơng pháp, trang thiết bị đào tạo linh động hơn, cập nhật hơn, hƣớng tới phát triển các kỹ năng phù hợp với thời đại 4. Thế hệ HS sau khi đƣợc đào tạo xong phải thu đƣợc những kiến thức, kỹ năng bao gồm khả năng sáng tạo, có thể thích nghi nhanh với sự thay đổi 7 c của công nghệ, có thể làm việc hiệu quả trong môi trƣờng của sự phát triển công nghệ.
Năng lực Vấn đề “năng lực” và “năng lực tự học” đã đƣợc nhiều tác giả nghiên cứu, cả lý luận chung cũng nhƣ gắn với một bối cảnh, môi trƣờng cụ thể, đơn cử: Tổng quan nghiên cứu về năng lực tự học; Phát huy năng lực tự học; Về năng lực tự học trong chƣơng trình giáo dục phổ thông tổng thể ; Phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu của HS… Nhƣ vậy “năng lực” và “năng lực tự học” của học sinh là gì? 1. Khái niệm năng lực Theo Chƣơng trình Giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ GD-ĐT, năng lực là thuộc tính cá nhân đƣợc hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con ngƣời huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác nhƣ hứng thú, niềm tin, ý chí,… để thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể [4]. Năng lực là khái niệm có mặt ở tất cả các ngành nghề của xã hội và là tiêu chí đánh giá nhân lực. Theo từ điển tiếng Việt “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó.
Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con ngƣời khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lƣợng cao”. Năng lực của con ngƣời không phải cái có sẵn mà đƣợc hình thành, phát triển qua quá trình lao động, học tập. Nhƣ vậy năng lực là tổng hòa của các yếu tố tâm sinh lý, kiến thức, kĩ năng,. để thực hiện một nhiệm vụ thành công.
Phân loại năng lực Năng lực chung là năng lực đƣợc hình thành trong tất cả các hoạt động học tập ở tất cả các môn học. Các năng lực chung của học sinh THPT đó là: 8 c năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Năng lực chuyên môn đƣợc hình thành và phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: Năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên xã hội, năng lực cộng nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất. Môn Hóa học là môn học đặc trƣng với thí nghiệm và hệ thống ngôn ngữ, danh pháp riêng của các chất.
Chính vì thế các năng lực đặc thù của môn hóa học gồm: Năng lực thực hành thí nghiệm hóa học, năng lực giải quyết vấn đề thông qua môn hóa học, năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học, năng lực tính toán, năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn. Năng lực tự học 1. Khái niệm năng lực tự học Theo Nguyễn Cảnh Toàn đƣa ra quan niệm về năng lực tự học nhƣ sau: “Năng lực tự học được hiểu là một thuộc tính kỹ năng rất phức hợp. Nó bao gồm kỹ năng và kĩ xảo cần gắn bó với động cơ và thói quen tương ứng, làm cho người học có thể đáp ứng được những yêu cầu mà công việc đặt ra”[Nguyễn Cảnh Toàn (2002), Học và dạy cách học; Nguyễn Cảnh Toàn (2009), Tự học như thế nào cho tốt).
Năng lực tự học là sự bao hàm cả cách học, kỹ năng học và nội dung học: “Năng lực tự học là sự tích hợp tổng thể cách học và kỹ năng tác động đến nội dung trong hàng loạt tình huống – vấn đề khác nhau” Năng lực tự học là những thuộc tính tâm lí mà nhờ đó chúng ta giải quyết đƣợc các vấn đề đặt ra một cách hiệu quả nhất, nhằm biến kiến thức của nhân loại thành sở hữu của riêng mình. Cấu trúc và biểu hiện của năng lực tự học Trong Chƣơng trình giáo dục phổ thông - Chƣơng trình tổng thể (ban hành ngày 26/12/2018), Bộ GD-ĐT đã đặt ra yêu cầu cần đạt về năng lực tự học, tự hoàn thiện đối với HS THPT nhƣ sau [4]: - Dựa vào kết quả học tập đã đạt đƣợc, cần xác định đƣợc mục tiêu học tập tiếp theo và khắc phục đƣợc những hạn chế của bản thân. - Tự đánh giá và điều chỉnh đƣợc kế hoạch học tập và phong cách học tập riêng cho bản thân; lựa chọn đƣợc các nguồn tài nguyên phù hợp cho các nhiệm vụ học tập khác nhau, ghi nhớ những nội dung học tập một cách có chọn lọc. - Tự điều chỉnh đƣợc cách học, rút kinh nghiệm và khắc phục đƣợc hạn chế của mình trong những nhiệm vụ học tập tiếp theo.
- Biết thƣờng xuyên tu dƣỡng theo mục tiêu phấn đấu của cá nhân. - Biết rèn luyện, khắc phục những hạn chế của bản thân. Để có thể đáp ứng đƣợc những yêu cầu trên, GV ở các trƣờng phổ thông cần vận dụng phƣơng pháp dạy học phù hợp để phát huy tối đa năng lực tự học của HS. Candy [Philip Candy (1991), Self-direction for lifelong Learning: A comprehensive guide to theory and practice] đã liệt kê 12 biểu hiện của ngƣời có năng lực tự học thành 2 nhóm: 10 c Năng lực tự học Tính cách Phƣơng pháp học 1.
Tính kỷ luật 1. Có kỹ năng tìm kiếm và thu 2. Có tƣ duy phân tích hồi thông tin 3. Có khả năng tự điều chỉnh 2.
Có kiến thức để thực hiện 4. Ham hiểu biết các hoạt động học tập 5. Có năng lực đánh giá, kỹ 6. Có năng lực giáo tiếp xã hội năng xử lý thông tin và giải 7.
Mạo hiểm, sang tạo quyết vấn đề 8. Tự tin, tích cực 9. Có khả năng tự học Sơ đồ 1. Biểu hiện của năng lực Tác giả Taylor [Tay lor, B (1995), Self- directed Learning: Revisiting an idea most appropriare for middle school students] khi nghiên cứu về vấn đề tự học của học sinh trong trƣờng phổ thông đã xác định năng lực tự học có những biểu hiện sau: 11 c Sơ đồ 1.
Biểu hiện của người có năng lực tự học Taylor đã phân tích ra có ba yếu tố cơ bản của ngƣời tự học, đó là thái độ, tính cách và kỹ năng. Có thể nhận thấy, sự phân định đó để nhằm xác định rõ ràng những biểu hiện tƣ duy của bản thân và khả năng hoạt động trong thực tế chứ không đơn thuần chỉ đề cập đến khía cạnh tâm lí của ngƣời học. Năng lực tự học cũng là một khả năng, một phẩm chất “vốn có” của mỗi cá nhân. Tuy nhiên nó luôn luôn biến đổi tùy thuộc vào hoạt động của cá nhân trong môi trƣờng văn hóa – xã hội.
Năng lực tự học là khả năng bẩm sinh của mỗi ngƣời nhƣng phải đƣợc đào tạo, rèn luyện trong hoạt động thực tiễn thì nó mới bộc lộ đƣợc những ƣu điểm giúp cho cá nhân phát triển, nếu không sẽ mãi là khả năng tiềm ẩn. Thời gian mỗi chúng ta ngồi trên ghế nhà trƣờng là rất ngắn ngủi so với cuộc đời vì vậy tự học và năng lực tự học của học sinh sẽ là 12 c nền tảng cơ bản đóng vai trò quyết định đến sự thành công của các em trên con đƣờng phía trƣớc và đó cũng chính là nền tảng để các em tự học suốt đời. Các phương pháp đánh giá năng lực tự học cho học sinh Đánh giá năng lực tự học là đánh giá các năng lực tự nhận thức và năng lực xã hội, năng lực hợp tác và các năng lực sáng tạo, có nghĩa là đánh giá theo chiều rộng. Đánh giá năng lực vừa đòi hỏi kiểm tra đƣợc mứ c đ ộ n ắ m v ữn g nội dung bài học, vừa đòi hỏi đánh giá đƣợc sự vận dụng các kiến thức học đƣợc với thực tế, và có sự vận dụng sáng tạo.
Trong đề tài này tôi đề cập tới một số phƣơng pháp đánh giá: a. Đánh giá qua quan sát Là đánh giá qua quan sát các biểu hiện và hoạt động của học sinh. Loại đánh giá này thƣờng phù hợp với đánh giá kĩ năng. Đánh giá qua hồ sơ học tập: dựa vào kết quả các bài kiểm tra để đánh giá.