ĐẶT VẤN ĐỀ Thuốc Đông y nói chung hay thuốc Nam, thuốc Bắc nói riêng là những bài thuốc thông dụng và đáng tin cậy đối với người dân Việt Nam từ xa xưa. Có thành phần chủ yếu là thảo dược với công dụng như điều trị một số bệnh về xương khớp, tiêu hóa, cảm sốt,.hay đơn giản hơn là bồi bổ sức khỏe, cải thiện vóc dáng, làn da,.Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc Đông y hợp lý đã và đang là vấn đề nan giải với tư tưởng “không bổ bề ngang cũng bổ bề dọc” của người dân nước ta. Ngoài việc cần thông qua chỉ định của bác sĩ về bài thuốc và liều lượng, tìm hiểu rõ về thành phần của các bài thuốc, hoạt tính của các loài cây cụ thể trước khi sử dụng là rất cần thiết. Mặt khác, việc tìm kiếm thông tin về các bài thuốc, vị thuốc ở nước ta rất dễ dàng, nhưng tìm hiểu về các nghiên cứu thành phần hóa học hay hoạt tính của các loài cây trong bài thuốc, vị thuốc lại rất khó khăn.
Trong đó có thể kể đến, Sài hồ nam – một vị thuốc được sử dụng phổ biến ở nước ta, dùng để chữa sốt cao, nhức đầu, cảm cúm, ngoài ra còn có các công dụng khác như phong nhiệt, lợi tiểu, hạ huyết áp,.Là một loài cây dễ tìm, dễ trồng, nhưng lại chưa được đào sâu nghiên cứu. Các công bố hiện nay đa phần chỉ dừng lại ở việc phân tích tinh dầu của các bộ phận trên mặt đất, thành phần hóa học của các đoạn kém phân cực và một số hoạt tính nhưng chủ yếu là kháng vi khuẩn. Trong khi đó một số nghiên cứu cho thấy các loài thuộc chi Pluchea chứa nhiều hợp chất thuộc nhóm polyphenol [1, 2], hợp chất này có liên quan đến tác dụng chống oxy hóa nhưng chưa được quan tâm và nghiên cứu chuyên sâu ở loài P. Nhận thấy nhu cầu về sức khỏe và sắc đẹp của con người ngày một tăng lên, cùng với sự tin dùng các sản phẩm có nguồn gốc hữu cơ, việc tìm ra nguồn thực vật có khả năng chống oxy hóa tự nhiên đã và đang là xu hướng, trở thành một đề tài thú vị và thu hút các nhà nghiên cứu.
Vì vậy, tôi quyết định thực hiện đề tài “Khảo sát thành phần hoá học và hoạt tính chống oxy hoá của phân đoạn PPT2_F5 từ cao chiết Sài hồ nam (Pluchea pteropoda Hemsl.)” để tìm hiểu rõ về thành phần hóa học và hoạt tính chống 1 oxy hóa của cây P. pteropoda, làm tiền đề cho việc sản xuất sản phẩm chống oxy hóa hữu cơ trong tương lai. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU ➢ Rễ và thân Pluchea pteropoda. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ➢ Khảo sát sơ bộ thành phần hóa thực vật rễ Pluchea pteropoda.
➢ Khảo sát thành phần hóa học cao rễ Pluchea pteropoda bằng HPLC-MS. ➢ Xác định thành phần hóa học có trong tinh dầu rễ Pluchea pteropoda bằng GC- MS. ➢ Đánh giá hoạt tính chống oxy hóa của các phân đoạn từ cao chiết Pluchea pteropoda. ➢ Phân lập và xác định cấu trúc hóa học các hợp chất của phân đoạn PPT2_F5 từ cao chiết Pluchea pteropoda.
Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN Ý nghĩa khoa học ➢ Khóa luận tốt nghiệp góp phần cung cấp thông tin về thành phần hóa học của cao rễ và tinh dầu từ cây P. ➢ Khóa luận góp phần cung cấp thông tin các bộ phận, phân đoạn có hoạt tính chống oxy hóa từ cây P. Ý nghĩa thực tiễn ➢ Khóa luận cung cấp cơ sơ để định hướng nghiên cứu phân lập các hợp chất từ cây P. ➢ Khóa luận góp phần cung cấp thông tin cho nguồn chống oxy hóa tự nhiên và định hướng cho việc sử dụng truyền thống đối với cây P.
Tổng quan về loài Pluchea pteropoda Hemsl. Phân loại khoa học và phân bố Pluchea pteropoda (P.1) được định danh lần đầu tiên vào năm 1888 bởi Hemsley, đồng danh của loài này là Pluchea leptophylla T. Hong & MY Chen (2012) [3]. Tên khoa học là Pluchea pteropoda Hemsl; tên tiếng Việt là Sài hồ nam hay còn có tên gọi khác như Sài hồ Việt, Hải sài, Lức.
Hệ thống phân loại khoa học Pluchea pteropoda [4]: Giới: Plantae Ngành: Magnoliophyta Lớp: Magnoliopsida Bộ: Asterales Họ: Asteraceae Chi: Pluchea P. pteropoda xuất hiện chủ yếu ở vùng nước lợ ven biển nhiệt đới châu Á, Đài Loan, phía nam Trung Quốc (Quảng Đông, đảo Hải Nam) và các nước Đông Nam Á. Ở Việt Nam, cây được bắt gặp ở các tỉnh như Hà Nam, Nam Định, Quảng Ninh, các tỉnh ven biển miền Trung, và đặc biệt là ở đồng bằng sông Cửu Long do tình trạng ngập mặn kéo dài. Thời gian ra hoa và sai quả là từ tháng 5-7 hằng năm.
Hạt phát tán nhờ gió và dòng nước, cây có thể trồng dễ dàng bằng phương thức giâm cành [5]. Mô tả thực vật Cây bụi cao 0,5-2 m, mọc thẳng đứng; thân trụ nhẵn, có ít lông tơ, thân non màu xanh khi già màu xanh nâu hoặc hơi tía, phân nhánh nhiều ở ngọn. Lá đơn, hình mũi mác, mọc so le từ thân, không có cuống, có mùi thơm, dài 2-6 cm, rộng 0,8-2 cm, lá phía trên nhỏ và hẹp hơn; gân lá dạng lông chim, 3-4 cặp gân bên; phiến lá dày, cả hai mặt đều nhẵn, nhạt màu hơn ở mặt dưới, mép lá có răng cưa [6]. Cụm hoa hình đầu mọc ở kẻ lá hoặc ngọn, các đầu họp lại thành 2-4 ngù, có màu đỏ nhạt hơi tím, trục cụm hoa dài khoảng 6-8 mm, hình trứng khi còn là nụ, hoa nở có hình chuông, có cuống hoặc không có; lá bắc nhiều xếp thành 4-6 hàng, lá bắc bên ngoài dài 2,5-3,5 mm, rộng 2-3 mm, hình trứng nhọn, đỉnh có tuyến; lá bắc trong dài 4-5,5 mm, rộng 0,4-0,8 mm, nhẵn, hình dải, đỉnh sắc bén [7].
Đế hoa phẳng hoặc hơi lõm, đường kính 2,5-5 mm. Hoa cái nhiều mọc ở viền ngoài, màu tím hồng, tràng hoa dạng sợi, dài 3,5-4 mm dính nhau thành hình trụ hẹp, đỉnh có 4 thùy ngắn, mặt ngoài có tuyến; hoa lưỡng tính khoảng 4-6 hoa nằm ở giữa, màu tím sáng hơn, tràng hoa dài 4-5 mm, đỉnh là 5 thùy hình tam giác, có tuyến, bao phấn có tai, mào lông ngắn hơn tràng hoa. Quả bế hơi vàng nâu hình trụ, lông thưa thớt, dạng tuyến, có mào lông không rụng; có 10 cạnh lồi theo chiều dọc, dài 0,8-1,2 mm, dày 0,4-0,5 mm; mào lông màu trắng có 10-18 sợi lông hình chuông với nhiều gai, các sợi lông dài 2,6-3,5 mm [8]. Mô tả cấu tạo thực vật được trình bày ở hình 1.
Chú thích: 1- Cách mọc 2- Lá 3- Cụm hoa hình đầu 4- Cụm hoa (mặt cắt dọc) 5- Lá bắc 6- Hoa ngoài (hoa cái) 7- Hoa trung tâm (hoa lưỡng tính) 8- Bộ nhị 9- Bộ nhụy của hoa trung tâm 10- Quả bế (mặt cắt ngang) 11- Quả bế. Mô tả cấu tạo thực vật P. Sử dụng trong nhân gian Theo Đông y, P. pteropoda có vị mặn, hơi đắng, tính hơi hàn.
Được sử dụng với mục đích hạ sốt, phát tán phong nhiệt, chống viêm, trừ ho, bổ phế, giảm đau, nhuận tràng, lợi tiểu, điều hòa kinh nguyệt; ngoài ra lá còn có tác dụng khử mùi và điều trị nhọt, ghẻ lở khi bôi lên da và dùng làm trà uống trị tiểu đường, tiêu chảy, bao tử và giảm đau lưng [10]. Những nghiên cứu về thành phần hóa học Các ký hiệu viết tắt trong cấu trúc các hợp chất được trình bày ở hình 1. Một số ký hiệu sử dụng trong cấu trúc của các hợp chất. Thành phần hóa học của P.
pteropoda Ngoài nước, hiện chưa có nghiên cứu nào về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của P. pteropoda, chỉ có nghiên cứu về bộ gen lục lạp hoàn chỉnh của Liang và cộng sự vào năm 2021 [11]. Ở Việt Nam, các nghiên cứu về thành phần hóa học P. pteropoda được thực hiện trong hơn 20 năm gần đây.
Năm 2000, qua phân tích sàng lọc hóa học của P. pteropoda, Đoàn Thanh Tường đã ghi nhận các phản ứng dương tính với cumarin, flavonoid, terpenoid, saponin; âm tính với alkaloid, glucosid tim. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đã phân phân lập và nhận dạng 5 được 7 hợp chất từ dịch chiết n-hexane: taraxast-20(30)-en-3β-yl acetate (taraxasterol acetate) (1), hop-17(21)-en-3β-yl acetate (2); hop-17(21)-en-22-ol-3β-yl acetate (3), 26α,27β,28β-neohop-13(18)-en-3β-yl acetate (boemeryl acetate) (4), stimast-5,22- diene-3β-ol (stigmasterol) (5), β-sitosterol (6), β-Sitosterol 3-O-β-D-glucopyranoside (7) [12]. Từ năm 2005-2007, các nghiên cứu của Nguyễn Thị Chung và cộng sự đã phân lập được một số hợp chất từ các bộ phận khác nhau của cây: 2-(pent-1՚,3՚-diynyl)-5- (3՚՚,4՚՚-dihidroxybut-1՚՚-ynyl)-thiophene (8) [13], triacontanoic acid (9) [14].
Cấu trúc của các hợp chất được trình bày như hình 1. 2 R=H 3 R=OH 1 4 5 8 6 R=H 7 R=Glc 9 Hình 1. Cấu trúc các hợp chất được phân lập từ P. Tinh dầu của P.
pteropoda những năm gần đây đã bắt đầu được nghiên cứu. Năm 2012, Nguyễn Thị Chung và cộng sự đã xác định thành phần chính trong tinh dầu từ phần trên mặt đất là longifolene (61,0%) [15]. Với cùng đối tượng nghiên cứu trên, năm 2022 6 Ninh Thế Sơn và cộng sự đã phân tích được 29 hợp chất dễ bay hơi (bảng 1.1) có trong tinh dầu, chiếm hàm lượng lớn nhất là 2,5-dimethoxy-p-cymene (43,5%) [16]. Thành phần hóa học của tinh dầu từ bộ phận trên mặt đất của P.
STT Tên hợp chất Rt a RIE b RIL Hàm lượng (%) 1 n-Hexanol 8,43 862 871 0,3 2 Sabinene 11,71 979 975 0,2 3 β-Pinene 11,89 985 979 0,2 4 α-Phellandrene 12,70 1010 1003 0,6 5 p-Cymene 13,36 1029 1026 0,3 6 Limonene 13,52 1034 1029 1,2 7 β-Phellandrene 13,57 1035 1030 0,4 8 Linalool 15,83 1101 1097 0,2 9 Albene 18,24 1170 1167 0,4 10 Terpinen-4-ol 18,80 1186 1177 0,3 11 α-Terpineol 19,23 1198 1189 0,1 12 Thymol methyl ether 20,64 1239 1235 0,5 13 Silphiperfol-5-ene 24,05 1340 1329 0,2 14 Silphin-1-ene 24,79 1362 1351 3,3 15 α-Copaene 25,72 1390 1377 2,2 16 β-Maaliene 26,01 1399 1382 14,0 17 α-Isocomene 26,22 1405 1388 9,0 18 2,5-Dimethoxy-p-cymene 26,97 1429 1417 43,5 19 (E)-β-Caryophyllene 27,24 1438 1419 3,9 20 α-Humulene 28,32 1472 1455 1,6 21 γ-Amorphene 29,50 1511 1496 0,2 22 δ-Cadinene 30,29 1537 1523 1,0 23 (E)-Nerolidol 31,55 1579 1563 0,4 24 Neryl isovalerate 31,75 1586 1583 2,7 25 Caryophyllene oxide 32,31 1605 1584 0,6 26 1-Epi-cubenol 33,49 1647 1629 0,2 27 α-Cadinol 34,22 1673 1654 0,9 28 Geranyl valerate 34,33 1676 1659 1,8 29 Geranyl tiglate 34,97 1699 1696 0,2 Tổng 90,4% a Chỉ số lưu giữ của dãy n-alkanes (C7-C30) trên cột HP5-MS. b Chỉ số lưu giữ lấy từ Adams book và the NIST Chemistry book. Thành phần hóa học chi Pluchea Khoảng 300 hợp chất đã được phân lập và xác định cấu trúc từ các loài thuộc chi Pluchea bao gồm terpenoid, steroid, flavonoid, lignan, thiophene, dẫn xuất của caffeoylquinic acid và phenolic. Terpenoid và steroid Nghiên cứu từ bộ phận trên mặt đất của P.
indica, Uchiyama và cộng sự đã phân lập được 5 hợp chất monoterpene glycoside [17].