Phần mở đầu - Phần nội dung với 2 chương , 4 tiết 10 z - Phần kết luận. PHẠM TRÙ VÀ NHỮNG NGUYÊN TẮC CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ XÂY DỰNG PHẠM TRÙ 1. Quan điểm của triết học Mác – Lênin về phạm trù. phạm trù – sản phẩm, điểm nút, nấc thang của nhận thức.
Phạm trù là gì? Trong “Từ điển triết học” (Rodentan) chủ biên, “Phạm trù” được định nghĩa như sau: “Phạm trù là những khái niệm cơ bản phản ánh những đặc tính, những mặt, những quan hệ căn bản nhất và chung nhất của các hiện tượng của hiện thực và nhận thức. Phạm trù hình thành trong quá trình phát triển lịch sử của nhận thức trên cơ sở thực tiễn xã hội. Chúng cho phép con người nhận thực sâu sắc cái thế giới quanh mình” [92,429]. Ngãi Tư Kỳ – nhà triết học mác – xít Trung Quốc, trong cuốn “Cương yếu chủ nghĩa duy vật biện chứng” viết: “Phạm trù là những hình thức tư duy mà người ta dùng để phản ánh những tính chất và liên hệ phổ biéen nào đó của sự vật khách quan.
Nội dung mà phạm trù phản ánh là những cái vốn có sẵn trong bản thân sự vật khách quan Những nội dung đó quyết không phải là những cái tự nảy ra một cách chủ quan trong hoạt động tư duy của con người‟ [ 51,329]. Trong “Giáo trình triết học Mác – Lênin” do hội đồng Trung ương biên soạn, xuất bản năm 1999, phạm trù được định nghĩa: “Phạm trù là khái niệm rộng nhất, phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ chung, cơ bản nhất của sự vật và hiện tượng thuộc một lĩnh vực hiện thực nhất định” [31,233]. 12 z Tuy diễn đạt khác nhau, song các định nghĩa trên đều cho thấy: 1) Phạm trù là những khái niệm, nhưng không phải khái niệm nào cũng là phạm trù, mà chỉ có những khái niệm chung – cơ bản – có ngoại diên rộng, mới là phạm trù; 2) Phạm trù phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ chung, bản chất của thế giới. Với hai tính chất cơ bản như đã nêu trên của phạm trù đủ để khẳng định phạm trù là phương tiện, công cụ quan trọng để thiết lập đủ để khẳng định phạm trù là phương tiện, công cụ quan trọng đã thiết lập hệ thống tri thức khoa học.
Luận điểm nổi tiếng sau đây của Lênin đa nói rõ đếu đó: “Trước con người có màng lưới những hiện tượng tự nhiên. Con người bản năng, người man rợ, không tự tách khỏi giới tự nhiên. Người có ý thức tự tách khỏi giới tự nhiên, những phạm trù tách khỏi giới tự nhiên tự nhiên. Người có ý thức tự tách khỏi giới tự nhiên, những phạm trù là những giai đoạn của sự tách rời đó, tức là của sự nhận thức thế giới, chúng là những điểm nút của màng lưới, giúp chúng ta nhận thức và nắm vững được mạng lưới, giúp chúng ta nhận thức và nắm vững được màng lưới” [56,102].
Bất cứ một ngành khoa học cụ thể nào cũng có hệ thống phạm trù riêng của mình. Ví dụ, trong Vật lý học có các phạm trù như khối lượng, năng lượng, nguyên tử, điện tử, ánh sáng, v.v sinh vật học nghiên cứu các phạm trù cơ bản như đồng hóa, dị hoá, di truyền, biến dị, giống, loài v. Kinh tế chính trị đề cập đến các phạm trù: hàng hoá, lao động, giá trị, giá cả, tiền tệ, tư bản. Mỹ học chú trọng việc nghiên cứu: cái đẹp, cái bi kịch, cái hài kịch, cái cao thượng, v.
Xét cả về phương diện ngoại diên lẫn nội hàm, chúng ta thấy phạm trù triết học khác về căn bản so với phạm trù của các khoa học cụ thể. Sự khác biệt đó thể hiện: - Phạm trù trong các khoa học cụ thể chỉ khái quát một khía cạnh, một mặt nhất định nào đó tương đối hẹp của hiện thực khách quan. Ví dụ, trong 13 z kinh tế chính trị, phạm trù hàng hoá chỉ phản ánh những vật phẩm được đem trao đổi, mua bán trên thị trường, còn nếu các vật phẩm đó sản xuất ra nhằm để tiêu dùng thì không phải là hàng hoá. Trong sinh vật học, đồng hoá và dị hoá dùng để chỉ các quá trình diễn ra trong giới hữu cơ mà thôi, còn đối với giới hữu cơ mà thôi, còn đối với giới vô cơ thì không có các quá trình đó.
Đối với các phạm trù triết học thì hoàn toàn khác, chúng mang tính phổ quát, tất yếu và phản ánh thế giới hiện thực trên một diện rộng, bao quát. Ví dụ bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào trong thế giới vật chất cũng đều có chất và lượng, đều chứa đựng một nội dung nhất định và tồn tại thông qua hình thức nào đó. Chúng luôn bao hàm trong mình những mâu thuẫn, và chính các mâu thuẫn đó xác định động lực của sự vận động, phát triển của sự vật. Sự vận động của chúng chịu sự tồn tại của chúng chính là hiện thực, trong lòng hiện thực đó tiềm ẩn, hàm chứa các khả năng, v.
- Phạm trù của các khoa học cụ thể chỉ khái quát, phản ánh những mối liên hệ cụ thể của đối tượng nghiên cứu. Ví dụ, các phạm t rù nguyên tử, hạt – sóng của vật lý học cho chúng ta biết về tính chất và cấu trúc của vật chất. Còn phạm trù triết học thì khác hẳn. Các phạm trù như bản chất và hiện tượng, tất yếu và ngẫu nhiên, nguyên nhân và kết quả, khả năng và hiện thực, v.
là vật, hiện tượng. Chính vì thế chúng đóng vai trò cơ sở phương pháp luận cho nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn. Nói cách khác, các phạm trù triết học là những phạm trù chung, bao quát mà bất cứ ngành khoa học cụ thể nào cũng phải đụng chạm đến khi giải quyết các vấn đề riêng của mình. Lấy phạm trù nhân quả làm thí dụ, chúng ta thấy mọi khoa học thuộc lĩnh vực tự nhiên, xã hội hay tư duy đều liên quan đến luật nhân quả.
Tóm lại, các phạm trù triết học thực chất là các phạm trù của phương pháp nhận thức, phương pháp nghiên cứu, chúng có ý nghĩa thế giới quan và phương pháp luận đối với việc nhận thức và hoạt động thực tiễn, đối với mọi 14 z khoa học cụ thể khi tiếp cận đối tượng nghiên cứu của mình. Chúng đồng thời là các phạm trù của logic, là hình thức tư duy logic, vì tư duy phản ánh hiện thực và biểu hiện mối quan hệ hiện thực của thế giới. Bởi vậy, mọi khoa học nói chung và triết học nói riêng khi muốn nói riêng khi muốn xây dựng hệ thống tri thức của mình, trước hết cần phải có một hệ thống phạm trù. Phạm trù với tư cách là sản phẩm của quá trình nhận thức.
Theo quan điểm của triết học Mác – Lênin, phạm trù là kết quả, là sản phẩm quá trình nhận thức của con người. Bởi vậy, muốn tiếp cận đúng vấn đề các nguyên tắc xây dựng phạm trù, trước hết chúng ta phải bắt đầu tư việc tìm hiểu bản chất của quá trình nhận thức và vai trò của nó trong việc sáng tạo nên phạm trù. Nhận thức là một quá trình phức tạp, nó bắt đầu từ việc xem xét hiện thực một cách sinh động, trực tiếp và hơn nữa sự xem xét đó không phải là tiêu cực, thụ động, mà loà tích cực, sáng tạo, được tiến hành trên cơ sở hoạt động thực tiễn. Nhận thức khoa học bao giờ cũng hàm chứa tính biện chứng, trong ý thức những khách thể nhận thức của con người dưới dạng ý niệm và biểu tượng.
Ở đây hoạt động thực tiễn đóng vai trò quyết định. Luận điểm sau đây của Lênin trong “Bút ký triết học” đã khắc hoạ một cách cô đọng bản chất của nhận thức: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan” [56,179]. Theo quan điểm đó thì nhận thức là một quá trình biện chứng, diễn ra qua hai giai đoạn: nhận thức cảm tính (trực quan sinh động) và nhận thức lý tính (tư duy trừu tượng). Chúng ta sẽ lần lượt phân tích từng giai đoạn cụ thể từ đó có thể rút ra kết luận về bản chất cuả nhận thức và vai trò của nó trong việc giúp con người sáng tạo nên các phạm trù.
15 z - Nhận thức cảm tính đó là khái niệm phản ánh trình độ đầu tiên của quá trình nhận thức do sự tác động trực tiếp của các khách thể nhận thức lên các giác quan của con người như thính giác, thị giác, xúc giác v. Nó được thể hiện dưới ba nấc thang cơ bản sau đây: Cảm giác, tri giác, biểu hiện. Nhận thức bắt đầu từ cảm giác. Cảm giác là một trong những năng lực, đặc tính của thế giới động vật.
Năng lực đó gắn liền một cách trực tiếp với tác động của thế giới bên ngoài, cảm giá là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Tuy nhiên cảm giác chỉ phản ánh từng mặt, từng thuộc tính bên ngoài của sự vât, mà chưa đem đến một tri thức đầy đủ, tổng quát. Muốn nhận thức đối tượng một cách rõ hơn thì cần đến tri giác. Tri giác là sự tổng nhiều cảm giác, nó đem lại cho con người sự hiểu biết hoàn chỉnh hơn, đầy đủ hơn về đổi tượng.
Tri giác nảy sinh trên cơ sở các cảm giác, là sự phối hợp bổ sung lẫn nhau của nhiều cảm giác. Nhưng tri thức mà on người nhận biết được qua tri giác vẫn chưa phải là tri thức dầy đủ, bởi vậy, nhận thức cần thiết một hình thức cao hơn là biểu tượng. Biểu tượng là hình ảnh, đặc tính, màu sắc của đối tượng được lưu giữ bằng trí nhớ và được tái hiện lại trong đầu óc con người, khi đối tượng đó không còn nằm trong tầm cảm giác, tri giác trực tiếp nữa. Biểu tượng thể hiện năng lực ghi nhận lưu giữ, tái hiện thôngtin của bộ óc con người.
Chính những thông tin này là những dữ liệu, căn cứ làm tiền đề cơ bản cho việc hình thành các khái niệm, phạm trù. Tóm lại, nhận thức cảm tính có thể cung cấp những hiểu biết ban đầu về đối tượng nhận thức, nhưng những hiểu biết đó mới chỉ dừng lại ở những liên hệ bề ngoài của đối tượng. Trong hình ảnh trực quan cảm tính bề ngoài về đối tượng người ta chưa thể phân biệt được cái bản chất và cái không bản chất, cái tất nhiên và ngẫu nhiên, tính phổ biến và cá biệt. 16 z Nhiệm vụ của nhận thức khoa học là phải nắm bắt được bản chất của đối tượng trong tính tất yếu và tính quy luật của nó.