chương 1 là trình bày những vấn đề lí luận chung liên quan đến tư tưởng nhân văn hiện thực trong văn học trên các phương diện: bản chất, 15 biểu hiện và mục đích. Nhưng trước khi đi đến tư tưởng nhân văn hiện thực thì chúng tôi sẽ trình bày sơ lược về tư tưởng nhân văn. Trong chương 2, chúng tôi đi sâu tìm hiểu biểu hiện của tư tưởng nhân văn hiện thực trong tiểu thuyết và truyện ngắn của Bảo Ninh. Các phương diện mà chúng tôi khảo sát là: tình yêu thương con người, khơi dậy những khát vọng của con người và tôn vinh những vẻ đẹp của con người.
Đây là những phương diện thể hiện sâu sắc tư tưởng nhân văn hiện thực và làm nên thành công trong sáng tác của Bảo Ninh. Chương 3, chúng tôi sẽ tìm hiểu những phương diện nghệ thuật nổi bật nhằm biểu hiện tư tưởng nhân văn hiện thực trong tiểu thuyết và truyện ngắn của Bảo Ninh. Và những phương diện nghệ thuật đó chính là: điểm nhìn trần thuật, giọng văn nghệ thuật và lời văn nghệ thuật. Nghệ thuật không chỉ góp phần biểu hiện tư tưởng nhân văn hiện thực mà còn khẳng định tài năng cũng như phong cách sáng tác của Bảo Ninh.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN HIỆN THỰC TRONG VĂN HỌC 1. Cơ sở của tư tưởng nhân văn Tư tưởng nhân văn ban đầu được thể hiện chủ yếu qua các cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân chống áp bức và những thói hư của đạo đức, mang tính tự nguyện và bộc phát. Tư tưởng này ra đời từ khi xuất hiện phong trào Phục hưng, với xuất phát điểm ban đầu từ nước Ý, thế kỉ XIV – XV, nó như một phong trào xã hội và tiếp tục phát triển qua các giai đoạn của lịch sử. Thời Phục hưng hình thành khi thời Trung cổ đang lụi tàn và xã hội tư sản đang dần hình thành, nên: “Chủ nghĩa nhân văn của những thế kỉ XV – XVI lớn lên trở thành hệ tư tưởng hệ của một giai cấp mới đang hoài thai – là giai cấp tư sản và được dùng làm chỗ dựa cho những yêu sách của giai cấp đó” [70, tr.
Thời đại này chứng kiến sự sụp đổ của những mối quan hệ cũ và ra đời những cá nhân tàn nhẫn, phi đạo đức. Xã hội rơi vào tình trạng bất ổn, đầy những hiện tượng phức tạp do xuất hiện cái xấu cái ác, các mối quan hệ xã hội rạn nứt. Các nhà nhân văn đã thể hiện sự phản kháng, chống đối của họ trước tình hình rối ren của xã hội đương thời, họ đã phản ánh điều đó thông qua các tác phẩm của mình. Thời Trung cổ, có nhiều yếu tố ảnh hưởng và chi phối đến sự hình thành của nghệ thuật hiện thực, đó là hệ tư tưởng nhà thờ, sự trì trệ tương đối của cuộc sống, phong trào giải phóng dân tộc… Hệ tư tưởng nhà thờ đã ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân, mà đặc biệt là nông dân, thợ thủ công và các nhà văn.
Họ không có quyền di chuyển ra khỏi giới hạn về ranh giới của mình trong xã hội, không được tự do và phải sống trong một xã hội bất công, phân chia giai cấp. Sự trì trệ tương đối của cuộc sống ngăn trở quá trình thâm nhập vào những mâu thuẫn bên trong của xã hội phong kiến thời bấy giờ. Chính những điều này đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển của tư duy, nhận thức thẩm mĩ trong xã hội 17 và khiến các nhà văn không có điều kiện thuận lợi để phát huy khả năng cảm nhận và thâm nhập vào cuộc sống, lịch sử. Thời đại này, sự nắm bắt hiện thực cuộc sống được xem như là một quá trình phức tạp và nhiều mâu thuẫn.
Các nhà văn Trung cổ do chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng nhà thờ nên dẫn đến việc phản ánh hiện thực đời sống với các mâu thuẫn nội tại còn nhiều hạn chế. Mặc dù văn học tiến bộ thời Trung cổ cũng đã lên tiếng phê phán nhà thờ và các tầng lớp quí tộc, bước đầu xây dựng những hình tượng mang tính hiện thực, châm biếm nhưng chưa đủ để phác họa một bức tranh hiện thực toàn cảnh về sự rộng lớn của đời sống, những mối quan hệ phức tạp cũng như những mâu thuẫn nội tại. Đến thời Phục hưng, xã hội và con người phải chịu những ảnh hưởng nặng nề từ hệ tư tưởng thống trị của đạo Thiên Chúa, chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa ngu dân, chủ nghĩa khổ hạnh, thần học,… Những tư tưởng đó buộc con người phải tin vào Chúa trời và kinh thánh, khẳng định về niềm hạnh phúc tinh thần ở thiên đường, khiến con người phải sống chịu đựng, nhẫn nhục và cầu nguyện, sám hối, chuộc tội… để đến được cõi vĩnh hằng khi chết đi. Trước tình hình đó, chủ nghĩa nhân văn đã ra đời để phản kháng, chống lại những tư tưởng sai lầm và phản động đó, đồng thời truyền bá những tư tưởng tiến bộ cũng như tiếp thu những thành tựu mới của khoa học tự nhiên, triết học… Đồng thời, những phát minh mới trong sản xuất, văn hóa, cũng đã góp phần thay đổi hệ tư tưởng trong xã hội.
Các nhà nhân văn đã ý thức được nguồn gốc gây ra bất hạnh, xã hội rối ren, tội lỗi là do những hệ tư tưởng sai lầm, trái với tự nhiên gây ra và cần đưa con người trả về với tự nhiên để phát triển đúng theo qui luật của tự nhiên. Vônghin trong quyển Chủ nghĩa nhân văn và Chủ nghĩa xã hội, có nhận xét rằng: “Chủ nghĩa nhân văn là toàn bộ những quan điểm đạo đức và chính trị bắt nguồn không phải từ cái gì siêu nhiên, kỳ ảo, từ những nguyên lí ngoài đời sống của nhân loại mà từ con người tồn tại thực tế trên mặt đất với những nhu cầu, những khả năng trần thế và hiện thực của nó, và những 18 nhu cầu, những khả năng ấy đòi phải được phát triển đầy đủ, phải được thỏa mãn” [70, tr. Thời đại Phục hưng đã đúc kết những quan điểm về sự vận động của xã hội, lịch sử. Xã hội có khởi nguyên và phát triển từ trần thế, hoàn toàn không xuất phát từ thần thánh hay các thế lực siêu nhiên.
Điều đó đã thúc đẩy các nhà nhân văn hiện thực Phục hưng tìm tòi và nghiên cứu về thực tại cùng những mối liên hệ phức tạp diễn ra bên trong của lịch sử xã hội: Có thể nói sự ra đời của chủ nghĩa nhân văn Phục hưng là một bước ngoặt quan trọng trong quá trình giải phóng tinh thần và tự ý thức của nhân loại. Từ thời Phục hưng trở về sau, trong văn học nghệ thuật, chủ nghĩa nhân văn đã bước sang một giai đoạn phát triển mới: từng bước gắn liền với cuộc đấu tranh giải phóng con người về các phương diện chính trị - xã hội và các phương diện khác thuộc nhiều lĩnh vực hoạt động của đời sống. Nó trở thành lí tưởng thẩm mĩ có sức định hướng cho những tìm tòi sáng tạo nghệ thuật và qui định bản chất của mỗi nền văn học nghệ thuật [21, tr. Những tư tưởng tiến bộ dần dần được các nhà Triết học, nghệ sĩ, nhà văn hưởng ứng và tán thành.
Họ đã đem vốn kiến thức của bản thân mình để nâng cao và hoàn thiện hơn để trở thành tư tưởng nhân văn. Tiêu biểu là các tác giả như: Leonardo de Vinci, Shakespeare, Dante, Bocaxio, Bruno, F. Becon… Các nhà văn thời kì Phục hưng là những người truyền bá mạnh mẽ nhất cho chủ nghĩa nhân văn. Họ ca ngợi lý trí, từ chối tính tầm thường và chủ nghĩa duy vật, phản ánh tinh thần của thời đại lúc bấy giờ.
Nhờ vào tinh thần đấu tranh chống lại sự cai trị hà khắc của chế độ phong kiến, chủ nghĩa nhân văn đã trở thành một trào lưu tư tưởng hiện thực với sức mạnh to lớn và có ý nghĩa sâu sắc. Theo Ăngghen: Thời kỳ văn hóa Phục hưng là thời kỳ chuyển biến quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân loại. Đó là cuộc cách mạng tiến bộ nhất mà loài người chưa từng thấy. Một thời đại cần những con người khổng lồ, khổng lồ về tư 19 tưởng về nhiệt tình và tính cách, khổng lồ về tài năng mọi mặt và về sự hiểu biết sâu rộng của họ [2, tr.
Tư tưởng nhân văn ra đời trong thời đại đầy biến động, xung đột. Cơ sở thực tiễn đó chính là nền tảng để tư tưởng nhân văn trong văn học tồn tại và phát triển. Sự xuất hiện của tư tưởng nhân văn được xem là hệ thống quan điểm lí luận với đối tượng trung tâm là con người, đánh dấu bước phát triển quan trọng về trình độ, nhận thức của xã hội loài người. Bản chất của tư tưởng nhân văn Tư tưởng nhân văn hướng về con người với tư cách là trung tâm của vũ trụ, là chủ thể của lịch sử - xã hội.
Các nhà nhân văn luôn dành tình yêu thương và đặt niềm tin mãnh liệt nơi con người. Nói về vai trò trung tâm của con người, Shakespeare đã phát biểu rằng: Con người là vẻ đẹp của thế gian, kiểu mẫu của muôn loài. Thông qua những vở bi kịch và hài kịch, Shakespeare đã tôn vinh và ca ngợi những vẻ đẹp của con người và cười chê tầng lớp quí tộc. Các nhà nhân văn chủ nghĩa như: Bocaxio, Xecvantex, Rabơle, Môngtennhơ… dưới nhiều hình thức phê phán khác nhau cũng đã kịch liệt giáng đòn vào chế độ phong kiến, Giáo hội và hệ tư tưởng tôn giáo.
Họ đã góp phần vào việc giải phóng con người và sự tiến bộ của xã hội. Tư tưởng nhân văn thời Phục hưng đã tìm thấy những biểu tượng rất sáng về con người với vẻ đẹp, ý chí và nghị lực đấu tranh chống áp bức bóc lột và giành tự do cho mình. Vì thế, mọi thứ chống đối con người, kìm hãm sự phát triển và tự do của con người đều bị lên án. Tiêu biểu nhất cho khuynh hướng này chính là ca ngợi sự tự do của con người đã được giải phóng khỏi xiềng xích, áp bức của chế độ phong kiến.
Điểm sáng ở đây là lên án Thần học và Triết học kinh viện; lên án nền luân lí đạo đức phong kiến đã chi phối và ảnh hưởng đến đời sống tinh thần, tình cảm, tư tưởng của con người; qua đó ca ngợi sự bứt phá, ý chí vươn lên làm chủ tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình. Các nhà nhân văn đã cố gắng giành lại quyền tự do cho nhân loại.