Mở đầu cho tiến trình đó là phong trào phục hưng, mà nơi xuất phát và cũng là trung tâm chính là ở Italy. Phục hưng đã trở thành trào lưu văn hoá tư tưởng trong suốt thế kỷ XIV - XV, và đạt cực thịnh ở thế kỷ XVI. Những giá trị văn hoá, tinh thần, nhân văn cổ đại, kể cả Cơ đốc giáo sơ kỳ, sau cả mười thế kỷ bị lãng quên nay được phục hồi. 9 z Việc “phá hoại” ý thức hệ phong kiến - tôn giáo và việc đề cao tự do của con người, khôi phục và phát triển những giá trị nhân văn, có thể xem là hai thành tựu lớn của văn hoá phục hưng.
Bắt đầu từ nửa sau thế kỷ XVI, phong trào cải cách tôn giáo cũng góp phần tạo dựng một bộ mặt xã hội mới cho Châu Âu, góp phần làm cho liên minh nhà nước - nhà thờ ngày một lỏng lẻo hơn. Tân giáo Luther và Tân giáo Calvin ra đời, chủ trương đơn giản hoạt động của giáo hội, đặt niềm tin vào con người chứ không phải bằng nghi thức tôn giáo bên ngoài, dân chủ hơn trong cộng đồng tôn giáo, cũng như phóng khoáng hơn trong quan hệ tôn giáo - xã hội. Với Tân giáo, Cơ đốc giáo đã bị phê phán ngay từ bên trong, cả về mặt lý luận lẫn mặt thực tiễn. Xét về toàn bộ và suy đến cùng thì sự xuất hiện của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã dẫn tới những hệ quả tất yếu về mặt xã hội và sự phát triển khoa học trên những nét cơ bản dưới đây: Một là: Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không thoả mãn với những kiến thức khoa học tự nhiên còn ở tình trạng chưa đầy đủ, chưa sâu sắc, chưa cụ thể đã có từ trước.
Người ta không thể dựa vào kinh nghiệm đi biển thông thường và dùng thuyền gỗ để chuyên chở khối lượng hàng hoá lớn vượt các đại dương; trái lại cần phải có kỹ thuật đóng tàu mới, có máy móc mới để sản xuất và trao đổi được nhiều hàng hoá hơn, tăng được nhiều lợi nhuận hơn cho các nhà kinh doanh. Thực tế đòi hỏi khoa học tự nhiên như cơ học, toán học, thiên văn học và về sau cả vật lý học, toán học. phải có bước phát triển mới. Trước đây, tri thức của các lĩnh vực khoa học nói trên còn là một bộ phận trực tiếp trong các hệ thống triết học.
Đến thời kỳ này, nảy sinh nhu cầu các ngành khoa học cụ thể tách ra khỏi triết học và trở thành những khoa học độc lập; dùng phương pháp nghiên cứu thật chi tiết, thật cụ thể nhằm phát hiện những thuộc tính, những quy luật của vật chất như tính 10 z năng, tác dụng, độ bền vật liệu.Từ đó xuất hiện một phương pháp mới trong khoa học tự nhiên - phương pháp thực nghiệm của khoa học trên mức độ nhất định. Phương pháp này xem xét sự vật trong trạng thái cô lập, tĩnh tại, không vận động, biến đổi, không phát triển. Đó là hệ quả của điều kiện lịch sử phát triển lịch sử khoa học ở thế kỷ XVII - XVIII. Hầu hết các nhà duy vật Anh, Hà Lan, Pháp ở những thế kỷ này đều chịu ảnh hưởng bởi phương pháp tư duy siêu hình.
Những yếu tố biện chứng đôi khi cũng thấy xuất hiện ở học thuyết của họ, nhưng xét tổng quát thì họ vẫn là những nhà triết học duy vật siêu hình. Hai là: Sự xuất hiện và ngày càng phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã làm cho giai cấp tư sản thấy rằng cần phải nắm lấy chính quyền nhằm phá bỏ cát cứ phong kiến, tạo ra và mở rộng thị trường thống nhất để tăng lợi. Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản cùng hệ tư tưởng tư sản với giai cấp địa chủ phong kiến và hệ thống tư tưởng Cơ đốc giáo ngày càng sâu sắc. Mặc dù nhu cầu nắm lấy chính quyền đã thôi thúc giai cấp tư sản, nhưng vào cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, giai cấp tư sản này vẫn còn nhỏ bé về số lượng, chưa đủ sức mạnh về kinh tế và tổ chức chính trị để có thể lật đổ hoàn toàn giai cấp địa chủ phong kiến và hệ thống uy quyền của nhà thờ Thiên chúa giáo.
Thực tế lịch sử đó được phản ánh khá rõ nét trong các quan điểm triết học của các nhà duy vật thế kỷ XVII, nhất là các quan điểm triết học về xã hội của họ. Ba là : Thế kỷ XVII - XVIII là thế kỷ thắng lợi của chủ nghĩa duy vật đối với chủ nghĩa duy tâm, của phương pháp tư duy siêu hình đối với phương pháp tư duy trừu tượng duy lý thời trung cổ; và sau đó là thắng lợi của chủ nghĩa vô thần đối với hữu thần. Trong bối cảnh lịch sử như vậy, triết học Pháp không thể không chịu ảnh hưởng của bối cảnh chung Châu Âu. 11 z Có thể nói, cùng với những biến cố của lịch sử khác, những sự kiện trên cho thấy; bước sang thời kỳ phục hưng và cận đại, sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã trở thành một xu thế của lịch sử mà không gì có thể ngăn cản nổi.
Sự quá độ từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản là nền tảng thực tiễn xã hội của triết học Tây Âu thời kỳ phục hưng và cận đại. Quan niệm về con người thời kỳ này, không chỉ đơn thuần dừng lại ở việc tiếp thu và khôi phục lại các tư tưởng truyền thống, mà còn phát triển với những mầu sắc riêng của thời đại lịch sử. Ănggen nhận xét: “Từ xưa tới nay nhân loại đã trải qua, đó là một thời đại cần có những con người khổng lồ về năng lực suy nghĩ, về nhiệt tình cách mạng, khổng lồ về lắm tài, lắm nghề và về mặt học thức sâu rộng” [32, 459-460]. Thời kỳ này, sức mạnh vĩ đại của con người đã được coi trọng, ở Italia đã dấy lên khẩu hiệu “Con người hãy thời phụng chính bản thân mình”.
Hình ảnh bức tượng “người khổng lồ” (Đavít) của nhà điêu khắc Mikelan Gielo đã trở thành biểu tượng của con người thời phục hưng và cận đại. Đó là con người đầy sức sống tự do và hoài bão. Giờ đây không phải quan hệ giữa Chúa và thế giới mà chính là quan hệ con người và thế giới là vấn đề trung tâm của triết học. Ngoài những bối cảnh chung của Châu Âu, tình hình kinh tế, chính trị của nước Pháp cũng diễn ra nhiều thay đổi và diễn biến phức tạp.
* Bối cảnh nƣớc Pháp Vạch rõ tình hình kinh tế ở Pháp cuối thế kỷ XVII - đầu thế kỷ XVIII, C.Mác đã viết rằng: Trong thời kỳ ấy, kiến trúc thượng tầng của tài chính, thương nghiệp và công nghiệp, hay nói đúng hơn, bộ mặt của lâu đài xã hội là một sự chế giễu đối với tình trạng đình đốn của ngành sản xuất chủ yếu (nông nghiệp) và đối với tình trạng nghèo đói của những người sản xuất. Thế kỷ thứ XVII, nước Pháp mới chỉ có những mầm mống của chủ nghĩa tư bản - bắt đầu có sự phân hoá giầu nghèo trong tầng lớp nông dân, 12 z nhưng chưa có những công trường thủ công và một nền thủ công nghiệp phát triển rộng rãi trong sản xuất tư bản chủ nghĩa. Chế độ phong kiến với những đạo luật của nó vẫn giữ địa vị thống trị trong kinh tế. Đến thế kỷ XVIII, mâu thuẫn giữa giai cấp quý tộc và giai cấp tư sản đã trở nên hết sức gay gắt.
Nước Pháp là một nước quân chủ chuyên chế phong kiến. Nhà vua nắm quyền hành và hầu như không chịu một sự kiểm soát nào. Vua có quyền quyết định mọi công việc đối nội và đối ngoại, bổ nhiệm và cách chức các bộ trưởng và nhân viên nhà nước, ban hành và huỷ bỏ các đạo luật, trừng phạt và ân xá. Công cụ thống trị của nhà vua gồm có quân đội, cảnh sát và nhà thờ.
Hình tượng duy nhất của nền chuyên chế là nhà tù Ba-xti ở Pari. Đó là một nhà tù lâu đời và kiên cố dùng để giam người cùng với rắn rết. Nhà thờ thống trị về mặt tinh thần, lợi dụng ảnh hưởng lớn trong nông dân để thần thánh hoá nhà vua, khuyên nhủ họ tuyệt đối trung thành với chính thể chuyên chế. Tổ chức hành chính trong nước cũng tập trung vào tay nhà vua.
Vua nắm chính quyền trung ương gồm các bộ trưởng và các hội đồng giúp việc. Vua cử các quan lại thân tín nhất về làm tổng quản có quyền hành rất lớn, là người thay mặt vua để giải quyết những công việc. Cho nên bọn này cũng hết sức lộng quyền tha hồ bóc lột quần chúng mà không bị một sự nghiêm cấm nào. Hầu hết các chức vụ trong bộ máy nhà nước đều được đem ra mua bán.
Người ta chỉ cần bỏ một số tiền là trở thành viên chức và trên cương vị đó có thể bòn rút của nhân dân những món tiền lớn gấp bội. Cách tuyển lựa như vậy làm cho nhà nước trở thành một gánh nặng đối với nhân dân vì tính quan liêu, tham nhũng và bất công của nó. Hơn nữa chế độ chuyên chế đã duy trì những đạo luật, những nguyên tắc và những tập tục phong kiến trong các cơ cấu chính quyền, cho nên nó vô cùng phức tạp và rắc rối. Toàn quốc chia làm nhiều tỉnh nhỏ, mỗi tỉnh chia làm nhiều đơn vị 13 z nhỏ hơn.
Sự phân chia khu vực đó không dựa trên đặc điểm hoặc yêu cầu về kinh tế mà thường do những nguyên nhân lịch sử. Phần lớn các tỉnh là các lãnh địa phong kiến độc lập trước kia, dần dần thống nhất lại trong vương quốc Pháp. Vì vậy, các tỉnh vẫn duy trì tính chất riêng biệt của nó với những luật lệ, thuế khoá, giá cả và hệ thống đo lường khác nhau, không thống nhất. Điều đó gây ra nhiều trở ngại cho việc tổ chức hành chính và phát triển kinh tế công thương nghiệp.
Sự phát triển công nghiệp Pháp bị kìm hãm bởi những quy tắc điều chỉnh sản xuất do Nhà nước chuyên chế định ra, bởi chế độ phường hội, bởi tình trạng cung cấp sức lao động tự do có hạn, bởi các thứ trở ngại về mặt tiêu thụ và vận chuyển hàng hoá. Nội thương cũng gặp nhiều khó khăn do chế độ phong kiến gây ra vì có vô số các loại thuế quan, lại không có tiền tệ thống nhất và cũng không có những tiêu chuẩn đo lường thống nhất của Nhà nước v.