Chương 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE PHAP LUẬT AN TOÀN LAO DONG, VE SINH LAO DONG 1. Khái niệm và đặc điểm của an toàn lao động, vệ sinh lao động 1. Khái niệm an toàn lao động, vệ sinh lao động An toàn lao động là tình trạng nơi làm việc đảm bao cho NLD được làm việc trong điều kiện không nguy hiểm đến tính mạng, không bị tác động xấu đến sức khỏe. An toàn lao động luôn gắn với công cụ lao động và phương tiện lao động cụ thé.
Bởi lẽ, dé có thé tiến hành sản xuất, kinh doanh thi con người phải sử dụng công cụ lao động, phương tiện lao động dé sản xuất ra sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ. Công cụ và phương tiện lao động bao gồm từ các công cụ đơn giản đến các máy, thiết bị tỉnh vi, hiện đại, từ một chỗ làm việc đơn sơ, thậm chí không có mái che đến những nơi làm việc trong nhà xưởng với đầy đủ tiện nghi. Chúng ta cần đánh giá, xem xét mức độ ảnh hưởng của các công cụ, máy, thiết bị, nhà xưởng đối với tính mang, sức khỏe con người dé đảm bảo môi trường làm việc tốt nhất cho NLD. NLD sử dung công cụ, phương tiện lao động gan với đối tượng lao động, tiến trình công nghệ trong sản xuất, môi trường lao động |.
Vệ sinh lao động có thể hiểu như là một lĩnh vực khoa học, công nghệ chuyên ngành nghiên cứu việc quản lý- nhận dạng, đánh giá và kiểm soát nguy cơ của các tác hại nghề nghiệp, các mối nguy hại đối với sức khỏe con người, đề xuất các biện pháp cải thiện môi trường, điều kiện làm việc nhằm bảo vệ sức khỏe, nâng cao khả năng lao động và phòng ngừa bệnh nghề nghiệp cho NLD. Vệ sinh lao động có các nhiệm vụ: Nghiên cứu đặc điểm nhận dạng các tác hại nghề nghiệp, các mối nguy hại đối với sức khỏe NLĐ; nghiên cứu những biến đổi sinh lý, sinh hóa, tâm sinh lý và căng thăng do các tác hại nghề nghiệp tác động đến con người; nghiên cứu các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát nguy cơ của các tác hại nghề nghiệp; nghiên cứu xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn vệ sinh sức khỏe môi trường điêu kiện làm việc, các chê độ và kiêm tra việc thực hiện; nghiên 1. Khoản 2, Điều 3, Luật An toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 ngày 26/6/2015 cứu xây dựng các tiêu chuân khám tuyên, khám sức khỏe định kỳ và khám bệnh nghề nghiệp”. Dưới các góc độ xem xét khác nhau, ta có nhiều cách định nghĩa khái niệm ATVSLD.
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, an toàn lao động được hiểu là "tình trạng điều kiện lao động không gây ra sự nguy hiểm trong sản xuất". Vệ sinh lao động được hiểu là "tổng thể các tiêu chuẩn môi trường lao động; bảo hộ an toàn lao động, trang thiết bị bảo hộ lao động, máy móc sản xuất, thiết bị sản xuất, chế độ ăn uống tối ưu thích hợp với mỗi loại lao động; vệ sinh cá nhân của người lao động; nhà ở và các tiện nghỉ sinh hoạt; quan lý sức khỏe cho người lao động và gia đình. Nếu hiểu theo nghĩa là một yêu cầu của quá trình sản xuất thì an toàn lao động là tình trạng không có các yếu tố nguy hiểm, gây chan thương hoặc tử vong cho NLD, chang hạn như: cháy nổ, điện giật, vat rơi, đỗ sập, văng băn, khí độc. và vệ sinh lao động là yêu cầu về điều kiện, môi trường làm việc của từng loại công việc, ngành nghề dé sức khỏe NLD không bị ảnh hưởng xấu.
Nếu hiểu theo nghĩa là biện pháp áp dung trong sản xuất thì an toàn lao động là tổng hợp các biện pháp nhằm loại trừ các yếu tổ nguy hiểm phat sinh trong quá trình lao động đảm bảo cho người lao động được làm việc trong điều kiện an toàn. Vệ sinh lao động là hệ thống các biện pháp, phương tiện về tổ chức và kĩ thuật vệ sinh nhằm phòng ngừa sự tác động của các yếu tố có hại trong sản xuất đối với NLD. Với cùng ý nghĩa là bảo dam sức khỏe, tính mang NLD, công tác an toàn lao động và vệ sinh lao động luôn được tiễn hành đồng thời, hỗ trợ nhau, tạo nên môi trường lao động thuận lợi. Tuy nhiên, cần hiểu đó là hai phương điện khác nhau của một vẫn đề, chứ không nên đánh đồng, nhằm lẫn chúng là một.
Sự khác nhau chủ yêu đó là mục đích cụ thể của chúng. Việc triển khai thực hiện các biện pháp an toàn trong quá trình lao động có ý nghĩa quyết định trong việc ngăn ngừa TNLĐ và những sự cô khác có thé phát sinh trong quá trình làm việc gây thiệt hại trực tiếp cho NLD. Còn công tác vệ sinh lao động được đặt ra với các đơn vi sử dụng lao động nhằm mục đích kiến tạo một môi trường lao động xanh, sạch, trong lành, hạn 2. Khoản 3, Điều 3, Luật An toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 ngày 26/6/2015 3.
Bách khoa toàn thu mở Wikipedia, An toàn và vệ sinh lao động chế đến mức thấp nhất các tác nhân vật lí, sinh học, hóa học độc hại, giảm thiểu tình trạng người lao động mắc các BNN. Đặc điểm của an toàn lao động, vệ sinh lao động Một là: an toàn, vệ sinh lao động mang tính chất khoa học, kĩ thuật rõ nét Đây là tính chất cơ bản của công tác này bởi mọi biện pháp nhằm hạn ché, loại trừ các yếu tô nguy hiểm, độc hại đều xuất phát trên cơ sở nghiên cứu khoa học, được thực hiện bằng các giải pháp kĩ thuật, ứng dụng công nghệ. Không phải tự nhiên mà người ta đề ra được các nội dung ATVSLD. Các hoạt động điều tra, phân tích điều kiện lao động, khảo sát, đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố độc hại lên cơ thé NLD, nghiên cứu các giải pháp đảm bảo an toàn trong từng công việc cụ thể.
đều thuộc về lĩnh vực khoa học. Đồng thời, cũng từ các phát minh, ứng dụng kĩ thuật mà NLD được trang bị các phương tiện bảo hộ cá nhân cần thiết, các thiết bị vệ sinh trong môi trường chung. Đặc biệt, chính những nguyên lí khoa học, kĩ thuật là cơ sở để đề ra các tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh mang tính quốc gia, hoặc trong phạm vi ngành. Các biện pháp nhằm hạn chế, loại trừ các yếu tổ nguy hiểm, có hại đến sức khỏe NLD trong môi trường làm việc đều dựa trên cơ sở khoa học - tự nhiên và được thực hiện bằng các giải pháp kinh tế.
Nó bao gồm các hoạt động điều tra, kiểm soát điều kiện lao động; phân tích, đánh giá ảnh hưởng các yếu tố nguy hiểm, có hại đối với NLĐ, giải quyết xử lý điều kiện, môi trường lao động, ban hành các tiêu chuẩn kĩ thuật về ATVSLĐ đối với từng ngành nghè, lĩnh vực, cải tiến trang thiết bị kĩ thuật, công nghệ sản xuất. Theo quy định hiện hành, các bộ ngành chức năng có trách nhiệm phối hợp với nhau trong việc ban hành và quản lý thống nhất hệ thống tiêu chuẩn, quy phạm về ATVSLD. Về hình thức, các quy định tiêu chuẩn về ATVSLD chứa day đủ những yếu tô của một quy phạm pháp luật có tính bắt buộc chung. Bên cạnh đó, về nội dung còn chứa đựng những yêu cầu về mặt kĩ thuật nghiêm ngặt dựa trên cơ sở nghiên cứu khoa học về ATVSLĐ.
Vì tính chất này mà công tác ATVSLĐ càng phải gắn bó chặt chẽ với hoạt động đầu tư, phát triển nghiên cứu khoa học, khuyến khích các phát minh phù hợp với thực tế sản xuất, đem lại an toàn cho NLD. Hai là: các yêu cẩu về an toàn, vệ sinh lao động mang tính chất pháp lí Tính chất pháp lí của công tác ATVSLĐ thể hiện ở chỗ muốn các giải pháp khoa hoc ki thuật, các biện pháp tổ chức ATVSLĐ được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, phải thé chế hóa chúng thành những luật lệ, chế độ, chính sách, tiêu chuẩn, quy phạm, hướng dẫn dé buộc các cấp quản lí, các tổ chức và cá nhân phải nghiêm túc thực hiện. Chính vì vậy mà công tác ATVSLĐ trở nên bắt buộc phải thực hiện. Moi vi phạm về tiêu chuẩn kĩ thuật an toàn, tiêu chuẩn vệ sinh lao động trong quá trình sản xuất đều bị coi là những hành vi vi phạm pháp luật về ATVSLĐ và bị xử lí theo quy định tương ứng.
Trong chế định pháp luật về ATVSLĐ vẫn có một số quy định mang tính "định khung" khi xác định quyên lợi tối thiêu của NLD trong việc thực hiện chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật, hay tiền bồi thường cho người bị TNLĐ, nhưng xét một cách khái quát và so sánh với các cơ chế điều chỉnh của nhiều chế định khác của Luật lao động, có thé thay: Các quy định về ATVSLD mang tính "cứng nhắc" hon và khó có thể có phần linh hoạt để các bên thực hiện trong hợp đồng lao động (HĐLĐ) hoặc thỏa ước lao động tập thé. Đó cũng là nguyên nhân khách quan khiến các chủ thể khi thỏa thuận về điều kiện ATVSLD trong HDLD hay thỏa ước lao động tập thê thường ghi là "theo quy định của pháp luật hiện hành". Ba là, các yêu cau về an toàn lao động, vệ sinh lao động mang tính xã hội Việc thực hiện các quy định về ATVSLD đòi hỏi sự tham gia rộng rãi của tat cả các chủ thể, bao gồm: NLD, NSDLD, các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực lao động và các chủ thé khác (như các tô chức xã hội và các đoàn thé quần chúng có liên quan). Việc thực hiện đúng, đủ các quy định, tiêu chuẩn về ATVSLĐ cũng chính là hoạt động dam bao ATVSLD của mọi chủ thé tham gia quan hệ lao động.
Họ là người thực hiện, giám sát việc thực hiện các quy định và cũng là người phát hiện các yếu tô nguy hiểm, có hại, từ đó yêu cầu, đề xuất biện pháp giải quyết nhằm góp phần đảm bảo và cải thiện điều kiện lao động ngày một tốt hơn. Do vậy, công tác ATVSLĐ chỉ có hiệu quả khi mọi ngành, mọi tô chức, mọi cá nhân tự giác thực hiện các quy định của pháp luật về ATVSLĐ. Đó là lý do tai sao, các quy định về ATVSLD thường mang tính xã hội rộng rãi và liên quan đên nhiêu đôi tượng trong xã hội. 10 Bốn là, an toàn lao động, vệ sinh lao động đóng vai trò đặc biệt quan trong trong việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người lao động.
Ngay từ thời sơ khai, con người đã biết cải tiến công cụ, điều kiện lao động để tự bảo vệ mình.