Chương I: KHÁI QUÁT VE NHÃN HIỆU VÀ HUY BO HIỆU LUC ĐĂNG KY NHAN HIỆU 1. Khái quát chung về nhãn hiệu 1. Khái niệm nhãn hiệu Cách đây khoảng 4000 năm về trước, những nhãn hiệu đầu tiên trên thế giới đã ra đời. Các tài liệu và bằng chứng khảo cổ thu thập được đã cho thấy ngay từ thời xa xưa đó, các thợ thủ công ở Trung Quốc, Ấn Độ và Ba Tư đã sử dụng chữ ký hoặc biểu tượng của họ gan hoặc chạm khắc lên san pham với mục đích dau tiên dé phân biệt sản phẩm của mình và sản phẩm của người khác.
Trong thời trung cổ, việc sử dụng nhãn hiệu đã được gắn với phát triển và tăng trưởng thương mại, và do đó thuật ngữ “nhãn hiệu hàng hóa” đã ra đời.' Tuy nhiên phải tới những năm 1880, trước sự phát triển của khoa học công nghệ, bang giao quốc tế cũng như nguy cơ của nạn xâm phạm quyên sở hữu, các nước trên thế giới thấy rằng cần phải có những quy định chung để bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp. Do đó năm 1883, một hội nghị ngoại giao được họp tại Paris dé thông qua Công ước về bảo vệ sở hữu công nghiệp (Công ước Paris) và thuật ngữ “nhãn hiệu hàng hóa” chính thức được đưa vào một văn bản pháp luật quốc tế. Tuy vậy, công ước Paris vẫn chưa đưa ra được một định nghĩa cụ thé về nhãn hiệu. Tiếp đó, Tổ chức sở hữu trí tuệ thé giới (WIPO) - một trong số 16 cơ quan chuyên môn của Liên Hợp Quốc tại Mục I.a của “Luật mẫu WIPO về Nhãn hiệu, Tên thương mại và Cạnh tranh không lành mạnh cho các nước phát triển” năm 1967 đã định nghĩa nhãn hiệu hàng hóa là: Dau hiệu dùng dé phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của doanh nghiệp công nghiệp hoặc thương mại hoặc của một nhóm các doanh nghiệp do.
Dấu hiệu này có thé là một hoặc nhiều từ ngữ, chữ, số, hình, hình ảnh, biểu tượng, mau sắc, hoặc sự kết hợp của các màu sắc, hình ảnh hoặc sự trình bày đặc biệt trên bao bì, bao gói sản phẩm. Dấu hiệu này có thể là sự kết hợp của ' Kamil Idris (2005), Sở hữu tri tuệ - Một công cụ đắc lực dé phát triển kinh tế, Tổ chức Sở hữu trí tuệ thé giới, tr 149, 150 nhiễu yếu to nói trên. Nhãn hiệu hàng hóa chỉ được chấp nhận bảo hộ nếu nó chưa được cả nhân hoặc doanh nghiệp nào khác ngoài chủ sở hữu nhãn hiệu đó sử dụng hoặc nhãn hiệu đó không được trùng hoặc tương tự đến mức gây nham lẫn với một nhãn hiệu khác được đăng ký trước đó cho cùng loại san phẩm. Có thể thấy răng định nghĩa nhãn hiệu hàng hóa của WIPO đã xác định được 1 số yếu t6 cơ bản của nhãn hiệu hang hóa như chức năng của nhãn hiệu, các yếu tô cấu thành nhãn hiệu, điều kiện để một nhãn hiệu được bảo hộ.
Tuy nhiên do định nghĩa này vẫn chưa thê bao quát hết bản chất của nhãn hiệu, nó đã được WIPO tiếp tục kế thừa và thể hiện trong hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS, thông qua năm 1994), cụ thể, tại khoản 1 Điều 15c có định nghĩa nhãn hiệu: Bat ky mot dau hiệu, hoặc tổ hợp dấu hiệu nào. Có khả năng phán biệt hàng hóa dịch vụ của các doanh nghiệp khác déu có thé làm nhãn hiệu hàng hóa. Các dấu hiệu đó đặc biệt là các từ, kế cả tên riêng, các chữ cải, chữ sỐ, các yếu tô hình hoa và tổ hợp các sắc mẫu cũng như tổ hop bat kỳ của các dẫu hiệu đó phải có kha năng được đăng ky là nhãn hiệu hàng hóa. Truong hop bản thân các dấu hiệu không có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ tương ứng, các thành viên có thể quy định rằng khả năng được đăng ký thuộc vào tính phán biệt đạt được thông qua việc sử dụng.
Các thành viên có thể quy định rằng diéu kiện để được đăng kỷ các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được. Khái niệm nhãn hiệu của hiệp định TRIPS đã chỉ ra các đặc điểm của nhãn hiệu bao gồm: Thứ nhất, đó phải là một dau hiệu hoặc tô hợp các dấu hiệu. Thứ hai, các dấu hiệu đó có thé là dấu hiệu nhìn thấy được, cũng có thé là bất ky dấu hiệu nào có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu. Thứ ba, các dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp này với hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp khác.
Với khái niệm này, Hiệp định TRIPS thừa ? Hiệp định TRIPS nhận bat kỳ dấu hiệu nào cũng đều có thé được đăng ky làm nhãn hiệu hàng hóa, miễn là có khả năng phân biệt, ké cả những đối tượng mới như âm thanh, mùi hương, màu sắc, sự kết hợp màu sắc. RO ràng khái niệm nhãn hiệu của hiệp định TRIPS vừa đầy đủ nhưng vẫn linh hoạt khi cho phép các thành viên WTO tùy thuộc vào hoàn cảnh và điều kiện của mình, quy định điều kiện bảo hộ nhãn hiệu phải là dau hiệu “nhin thay được” hay có thé là dau hiệu bat kỳ, bao gồm cả những dấu hiệu như âm thanh, mùi vi hay màu sắc”. Trên cơ sở các điều ước quốc tế đã gia nhập và ký kết, khái niệm “nhãn hiệu hàng hóa” lần đầu tiên được định nghĩa tại Điều 785 Bộ luật dân sự (BLDS) năm 1995, theo đó: “nhãn hiệu hàng hóa là những dau hiệu dùng dé phân biệt hàng hóa, dich vụ cùng loại cua các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu to đó”.
Tuy nhiên, việc sử dụng thuật ngữ “nhãn hiệu hàng hóa” trong BLDS 1995 thực tế rất dé gây hiểu nhằm cho công chúng và chính các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan thực thi pháp luật. Đó là bởi trong hệ thống pháp luật Việt Nam vẫn còn tồn tại khái niệm “nhãn hàng hóa”: là các tập hợp các thông tin về chức năng, công dụng, địa điểm sản xuất, chất lượng, hạn sử dụng. Bên cạnh đó khái niệm “nhãn hiệu hàng hóa” cùng vô tình có thé tạo sự hiểu nhằm rằng nhãn hiệu chỉ được dùng cho hàng hóa và không được sử dụng cho dịch vụ, và điều này là chưa chính xác. Khái niệm nhãn hiệu theo quy định của BLDS năm 1995 còn có hạn chế do chưa quy định về việc bảo hộ các dấu hiệu hình khối hay hình dạng sản phẩm.
Để khắc phục và hoàn thiện quy định về nhãn hiệu hàng hóa, Luật sở hữu trí tuệ (SHTT) năm 2005, sửa đổi, bố sung năm 2009 đã đưa ra khái niệm nhãn hiệu: “Tà dấu hiệu ding dé phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tô chức, cá nhân khác nhau”. Có thê thấy định nghĩa “nhãn hiệu” tại Luật SHTT 2005 đã rộng hơn so với quy định của BLDS năm 1995 khi sử dụng thuật ngữ “nhãn hiệu” thay cho “nhãn hiệu hàng hóa”, do đó sẽ bao quát được trường hợp nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thé và nhãn hiệu chứng nhận. Định nghĩa nêu trên cũng thê hiện chức năng cơ bản của nhãn 3 Vũ Thị Hải Yến (2016), Bảo hộ nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý theo quy định của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương, Nhà nước và pháp luật, tr.63 hiệu, đó là dé là dé phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc khác loại của các tô chức, cá nhân khác nhau. Với một định nghĩa ngắn gọn như vậy, các quy định về điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu, khả năng phân biệt của nhãn hiệu, dấu hiệu được bảo hộ như một nhãn hiệu và các dấu hiệu không được bảo hộ như một nhãn hiệu đều không được đề cập.
Các nội dung căn bản này được nhà làm luật để ở nhóm các điều luật khác. Bên cạnh đó, việc quy định khái niệm nhãn hiệu một cách ngắn gon và khái quát như trong Luật SHTT năm 2005 có lẽ là để mở đường cho việc quy định về các loại nhãn hiệu phi truyén thống khác đã dần phổ biến trên thế giới (như dấu hiệu âm thanh, mùi vị, dấu hiệu xúc giác, bản thân màu sắc hoặc sự kết hợp của các màu sắc với nhau, hình ảnh động.) trong tương lai khi Việt Nam có đủ điều kiện mà không làm thay đổi định nghĩa của nhãn hiệu. Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu Tuy nhiên, nhãn hiệu chỉ có thể được cơ quan đăng ký quốc gia có thẩm quyền cho phép đăng ký và bảo hộ dưới tư cách là một nhãn hiệu khi nó đáp ứng được các điều kiện đã được chuẩn hóa. Nhìn chung, 2 điều kiện cơ bản để bảo hộ nhãn hiệu, đó là: - Một là nhãn hiệu phải được thé hiện ra bên ngoài bởi 1 hình thức nhất định - Hai là nhãn hiệu phải thực hiện được chức năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ thé này với chủ thê khác." Nam được tinh thần này cũng như tuân theo yêu cầu của điều 6 Công ước Paris buộc các thành viên phải có quy định về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu trong pháp luật quốc gia, Việt Nam đã cụ thê hóa điều kiện chung bảo hộ nhãn hiệu tại điều 72 Luật SHTT 2005, theo đó, nhãn hiệu: 1.
Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, ké cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tô đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc; 2. Có khả năng phán biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hang hoá, dịch vụ của chủ thé khác. * Đại học Huế - Khoa Luật (2012), Giáo trình pháp luật Sở hữu trí tuệ, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr 215 Như vậy có thể thấy một nhãn hiệu được bảo hộ ở Việt Nam khi thỏa mãn các điều kiện sau: Thứ nhất là dâu hiệu nhìn thay được và có thé được thể hiện thông qua các dau hiệu chữ cái, từ ngữ, hình vẽ hình ảnh, kế cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mau sắc. Băng quy định này Luật SHTT Việt Nam đã loại bỏ khả năng bảo hộ cho các dấu hiệu không nhìn thấy được như dấu hiệu mùi, dấu hiệu âm thanh, dấu hiệu nhận biết được về mặt xúc giác.
cũng như các dấu hiệu có thé nhìn thay được nhưng không được liệt kê như màu sắc đơn lẻ, hình ảnh động.