Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Pháp luật về đấu giá tài sản công ở Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thu Hồng, chuyên ngành Luật dân sự và tố tụng dân sự (mã số 938 01 01.04), bảo vệ năm 2022 tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Ngô Huy Cương.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Tài sản công (TSC) chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các quan hệ đấu giá tài sản (ĐGTS) tại Việt Nam, thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Hoạt động đấu giá TSC đóng vai trò quyết định trong việc tối đa hóa giá trị tài sản xử lý và huy động nguồn lực tài chính cho ngân sách nhà nước. Dù khuôn khổ pháp lý cơ bản đã được xác lập qua Luật ĐGTS năm 2016 và Luật Quản lý, sử dụng TSC năm 2017, thực tiễn thi hành vẫn phát sinh nhiều bất cập nghiêm trọng. Các sai phạm phổ biến gồm: định giá khởi điểm (GKĐ) chưa sát giá thị trường; lựa chọn tổ chức ĐGTS thiếu khách quan, xuất hiện các tổ chức "sân sau"; chất lượng của đội ngũ đấu giá viên (ĐGV) chưa đồng đều; hiện tượng thông đồng, dìm giá, "quân xanh, quân đỏ" và sự can thiệp của các băng nhóm đe dọa an ninh trật tự tại nhiều địa phương, gây thất thoát nguồn lực công. Khoảng trống nghiên cứu then chốt xuất phát từ sự thiếu đồng bộ giữa pháp luật ĐGTS với pháp luật quản lý, sử dụng TSC, các quy định điều chỉnh trình tự thủ tục còn kẽ hở và thiếu chế tài xử lý vi phạm hợp đồng đủ sức răn đe.

Chỉ tiêu thông tin luận án Nội dung chi tiết
Tên đề tài Pháp luật về đấu giá tài sản công ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hồng
Người hướng dẫn PGS.TS Ngô Huy Cương
Cơ sở đào tạo Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành / Mã số Luật dân sự và tố tụng dân sự / 938 01 01.04
Năm hoàn thành 2022
Dữ liệu thực tiễn Bộ Tư pháp (01/2017 - 12/2019) 86.607 cuộc đấu giá thành; tổng GKĐ 194.031 tỷ đồng; tổng giá trị bán thành 233.911 tỷ đồng; chênh lệch làm lợi cho ngân sách 38.248 tỷ đồng; nộp thuế 95 tỷ đồng

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về đấu giá TSC, từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về đấu giá TSC nói riêng và pháp luật ĐGTS nói chung. Tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài, rút ra những thành tựu cần kế thừa và xác định các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu;
  2. Làm rõ cơ sở lý luận về đấu giá TSC và pháp luật về đấu giá TSC, bao gồm khái niệm, đặc điểm, phân loại TSC; khái niệm, đặc điểm, bản chất, ý nghĩa của đấu giá TSC; phân loại đấu giá TSC; giao dịch đấu giá TSC; khái niệm, cấu trúc, nguồn và nội dung chủ yếu của pháp luật điều chỉnh;
  3. Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật Việt Nam về đấu giá TSC, chỉ rõ những bất cập, vướng mắc trong quy định thực định và nguyên nhân của những tồn tại đó;
  4. Đề xuất định hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về đấu giá TSC và pháp luật về ĐGTS.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận cơ bản về đấu giá TSC; hệ thống quy định pháp luật ĐGTS, pháp luật dân sự, pháp luật quản lý, sử dụng TSC; pháp luật nước ngoài và kinh nghiệm quốc tế; thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về đấu giá TSC tại Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về lý thuyết: Tiếp cận trên cơ sở kết hợp giữa lý thuyết chung về luật hợp đồng và lý thuyết kiểm soát của luật công.
    • Về thời gian: Tập trung nghiên cứu các hạn chế, bất cập từ năm 2005, trọng tâm từ thời điểm Luật ĐGTS năm 2016 có hiệu lực (ngày 01/7/2017) đến năm 2022.
    • Về mô hình chuyên sâu: Luận án chỉ tập trung nghiên cứu chuyên sâu và đề xuất xây dựng mô hình đấu giá tăng dần có bảo lưu nhằm tối đa hóa giá trị TSC trong bối cảnh Việt Nam, không đi sâu nghiên cứu mô hình đấu giá giảm dần có bảo lưu.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước trong nước

Trong nước, các công trình học thuật chủ yếu tiếp cận vấn đề ĐGTS dưới các góc độ:

  • Lý luận chung về đấu giá tài sản và bán đấu giá: Công trình của Nguyễn Mạnh Cường (Luận án tiến sĩ, 2012) nghiên cứu ĐGTS trong thương mại như một hình thức mua bán hàng hóa đặc biệt; Đặng Thị Bích Liễu (Luận án tiến sĩ, 2012) tiếp cận đấu giá quyền sử dụng đất (QSDĐ) dưới góc độ phương thức định đoạt tài sản của chủ sở hữu; Nguyễn Văn Úy (Luận văn thạc sĩ, 2003) và Cao Thị Thu Trang (Luận văn thạc sĩ, 2015) nhấn mạnh mục đích bán tài sản ở mức giá cao nhất. Giáo trình Luật Dân sự Tập 2 của Trường Đại học Luật Hà Nội (2009) và Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (2011) đã chuẩn hóa các tiêu chí về tính công khai, bán qua trung gian và trình tự luật định. Bên cạnh đó, Đỗ Thị Hoa, Lê Thị Ngọc (2018), Lê Thị Hương Giang (Luận án tiến sĩ, 2019) tập trung vào ĐGTS thi hành án dân sự.
  • Nghiên cứu về quản lý tài sản công dưới góc độ kinh tế: Nguyễn Mạnh Hùng phân tích cơ chế quản lý TSC khu vực hành chính sự nghiệp; Trần Việt Phương (Luận án tiến sĩ kinh tế, 2017) và Giáo trình Quản lý TSC của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2017) phân tích quyền đại diện chủ sở hữu, quyền định đoạt của Nhà nước và tính chất tách rời quyền sở hữu với quyền sử dụng thực tế.
  • Thực trạng pháp luật và bất cập qua các giai đoạn: Các bài viết của Từ Minh Liên (2020) về thời hạn nộp tiền đặt trước; Võ Hải Phương (2014) về bảo vệ người thứ ba ngay tình; Đỗ Hoàng Yến (2017), Nguyễn Đại Dân và Nguyễn Thị Thu Hồng (2017), Trần Mai Long (2017), Quản Văn Minh (2017) về quy trình thủ tục thực thi Luật ĐGTS; Lê Thị Hương Giang (2019) về bước giá và tiêu chí lựa chọn tổ chức ĐGTS.

Các hướng nghiên cứu quốc tế

  • Lịch sử đấu giá: Nhà sử học Herodotus ghi nhận các cuộc đấu giá tại Babylon từ năm 500 trước Công nguyên; thời kỳ đế chế La Mã bán đấu giá tù binh và tài sản tịch thu của con nợ; Hà Lan từ thế kỷ XV–XVII áp dụng đấu giá hoa tulip và chợ cá (đấu giá giảm dần); nước Anh thế kỷ XVII–XVIII phát triển đấu giá tăng dần, đấu giá bằng nến và sự ra đời của các nhà đấu giá Sotheby's (1744) và Christie's (1766); Pháp áp dụng đấu giá tự nguyện và đấu giá tư pháp từ thế kỷ XV; Hoa Kỳ phát triển đấu giá gắn liền với thời kỳ thuộc địa.
  • Lý thuyết kinh tế - pháp lý về đấu giá: Vijay Krishna trong tác phẩm "Auction theory" phân tích căn nguyên từ ngữ Latinh "augere" (tăng lên), sự không chắc chắn về giá trị và mục tiêu tối đa hóa doanh thu; P. Steinberg trong "Introduction to Combinatorial Auctions" xem đấu giá là phương pháp xác định giá trị tài sản có giá biến động; Flavio M. Menezes và Paulo K. Monteiro (2005) nghiên cứu mô hình đấu giá giá trị chung (common value) và cơ chế hình thành giá minh bạch; Martin Ravallion và Dominique van de Walle (2008) nghiên cứu vấn đề chuyển đổi kinh tế và đất đai tại Việt Nam; Maarten Janssen ("Auctioning Public Assets: Analysis and Alternatives", 2004) chỉ rõ đấu giá TSC là công cụ lựa chọn chủ thể tư nhân tối ưu để cung ứng dịch vụ công.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Hầu hết các công trình nghiên cứu trong nước trước đó chỉ tiếp cận ĐGTS nói chung trong giao dịch dân sự, thương mại hoặc thi hành án dân sự; một số công trình chỉ nghiên cứu riêng lẻ về đấu giá QSDĐ. Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý về đấu giá TSC tại Việt Nam theo khung khổ của Luật ĐGTS năm 2016 và Luật Quản lý, sử dụng TSC năm 2017. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách xây dựng hệ thống lý luận chuyên biệt về đấu giá TSC và đề xuất áp dụng mô hình đấu giá tăng dần có bảo lưu.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung phân tích lý thuyết

Luận án kết hợp đồng thời hai nền tảng lý thuyết:

  • Lý thuyết chung về luật hợp đồng: Tiếp cận đấu giá TSC dưới bản chất quan hệ dân sự về mua bán tài sản qua hình thức đấu giá, xem xét các giai đoạn đề nghị giao kết hợp đồng, chấp nhận giao kết, thời điểm hợp đồng có hiệu lực pháp lý và trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.
  • Lý thuyết kiểm soát của luật công: Do TSC thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, tài sản công dễ bị tổn hại bởi hiện tượng người quản lý mưu cầu lợi ích riêng. Lý thuyết kiểm soát đòi hỏi phải thiết lập cơ chế giám sát hành chính chặt chẽ, bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch và nâng cao trách nhiệm giải trình nhằm thực hiện mục tiêu quản trị tốt (good governance).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp nghiên cứu định tính và so sánh:

  • Phương pháp lịch sử, thống kê: Nghiên cứu tiến trình phát triển của pháp luật ĐGTS Việt Nam từ thời Pháp thuộc (Sắc lệnh 1935, 1936, 1937, 1938; Nghị định năm 1933, 1934; Nghị định số 83-TP/NĐ năm 1946; Sắc lệnh 85/SL năm 1950; Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1989; Nghị định số 86/CP năm 1996; Nghị định số 05/2005/NĐ-CP; Nghị định số 17/2010/NĐ-CP) đến Luật ĐGTS năm 2016. Phương pháp thống kê xử lý các số liệu báo cáo thực tế.
  • Phương pháp so sánh pháp luật: Khảo cứu kinh nghiệm pháp luật của Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Canada, Trung Quốc, Nhật Bản và đặc biệt là mô hình xử lý tài sản công tập trung của Hàn Quốc để rút ra bài học hoàn thiện pháp luật Việt Nam.
  • Phương pháp mô tả: Mô tả các quy định pháp luật thực định và các vụ việc sai phạm thực tiễn trong công tác đấu giá TSC tại các địa phương.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp và khái quát hóa: Luận giải các cấu trúc pháp lý, mối quan hệ giữa các chủ thể, nguyên nhân của các bất cập thực tế và xây dựng hệ thống giải pháp lập pháp.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Luận án sử dụng nguồn dữ liệu văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam; các báo cáo tổng kết chính thức của Bộ Tư pháp giai đoạn 2017–2019; các giáo trình đào tạo của Học viện Tư pháp, Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân; các công trình nghiên cứu, bài báo khoa học trong nước và các ấn phẩm quốc tế chuyên ngành về kinh tế học và pháp luật đấu giá.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài

Chương 1 thiết lập các tiền đề đánh giá nghiên cứu: không tách rời khoa học pháp lý với khoa học kinh tế; lựa chọn có chọn lọc các nghiên cứu nước ngoài mang tính nền tảng. Tác giả phân loại nội dung nghiên cứu thành ba nhóm: lý luận chung, thực trạng pháp luật thực định và kiến nghị hoàn thiện.

Chương này tổng thuật chi tiết tình hình nghiên cứu trong nước qua các mốc thời gian: trước năm 2005, giai đoạn 2005–2010 (thời kỳ Nghị định số 05/2005/NĐ-CP), giai đoạn 2010–2017 (thời kỳ Nghị định số 17/2010/NĐ-CP) và từ tháng 7/2017 đến nay (thời kỳ Luật ĐGTS năm 2016). Đồng thời, tác giả khảo sát các công trình quốc tế về lịch sử đấu giá từ cổ đại đến hiện đại và các lý thuyết kinh tế về đấu giá của Krishna, Steinberg, Menezes và Monteiro. Từ việc chỉ ra những thành tựu kế thừa và những điểm còn bỏ ngỏ, chương 1 xác lập hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu làm cơ sở cho toàn bộ luận án.

Chương 2: Một số vấn đề lý luận về đấu giá tài sản công và pháp luật về đấu giá tài sản công

Chương 2 phân tích các vấn đề lý luận nền tảng:

  • Đặc điểm tài sản công: Chủ sở hữu là toàn thể nhân dân do Nhà nước làm đại diện, dẫn đến sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền quản lý, sử dụng trên thực tế; mục đích sử dụng vì lợi ích công; chủng loại phong phú và có giá trị từ nhỏ đến rất lớn.
  • Phân loại tài sản công: Tác giả trình bày hệ thống phân loại 7 nhóm TSC theo đối tượng quản lý, sử dụng được quy định trong pháp luật Việt Nam:
STT Phân nhóm tài sản công Khả năng đưa ra đấu giá
1 TSC khu vực hành chính sự nghiệp Có
2 Tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Có
3 TSC tại doanh nghiệp Có
4 Tài sản xác lập quyền sở hữu toàn dân theo quy định của pháp luật Có
5 Tài sản dự trữ quốc gia Có
6 Đất đai và các loại tài nguyên khác Có
7 Tiền thuộc ngân sách nhà nước, các quỹ ngoài ngân sách, dự trữ ngoại hối Không

Bên cạnh đó, chương 2 còn phân loại TSC theo đặc tính vật lý (động sản, bất động sản); nguồn gốc hình thành (tự nhiên, nhân tạo); và thời hạn sử dụng.

  • Khái niệm, bản chất và ý nghĩa của đấu giá TSC: Đấu giá TSC là hình thức mua bán TSC đặc biệt qua tổ chức trung gian, công khai theo trình tự luật định nhằm thu hút cạnh tranh trả giá. Bản chất là quan hệ dân sự nhằm tối đa hóa giá trị tài sản xử lý. Đấu giá TSC mang 4 ý nghĩa lớn: (1) Khai thác hiệu quả nguồn lực tài chính công; (2) Lựa chọn chủ thể phù hợp để trao quyền khai thác tài sản xã hội; (3) Xác định giá trị khách quan cho các tài sản đặc thù khó định giá; (4) Đảm bảo tính công khai, minh bạch, hạn chế cơ chế "xin – cho".
  • Giao dịch đấu giá và pháp luật điều chỉnh: Phân tích quan hệ giữa người có tài sản, tổ chức ĐGTS, ĐGV và người tham gia đấu giá; bản chất của đề nghị và chấp nhận giao kết hợp đồng; hiệu lực pháp lý của giao dịch; xác định cấu trúc nguồn pháp luật điều chỉnh đấu giá TSC gồm pháp luật dân sự, pháp luật ĐGTS và pháp luật quản lý, sử dụng TSC.

Chương 3: Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về đấu giá tài sản công và thực tiễn thực hiện

Chương 3 khảo sát thực trạng quy định thực định và áp dụng pháp luật trong các nội dung:

  • Các loại TSC được đưa ra đấu giá: QSDĐ, trụ sở làm việc, ô tô, tài sản thanh lý, tài sản vi phạm hành chính, quyền khai thác khoáng sản, tần số vô tuyến điện.
  • Chủ thể: Bất cập trong việc xác định tư cách người có tài sản đấu giá do mô hình quản lý phân tán; tiêu chí lựa chọn tổ chức ĐGTS theo khoản 4 Điều 56 Luật ĐGTS năm 2016 còn chung chung, mang tính định tính, dễ bị lợi dụng để cài cắm tổ chức "sân sau".
  • Hình thức, phương thức và bước giá: Quy định về bước giá chưa cụ thể, thiếu bắt buộc áp dụng khung bước giá hợp lý trong Quy chế cuộc đấu giá, tạo kẽ hở cho việc trả giá nhỏ giọt hoặc thao túng.
  • Trình tự, thủ tục: Việc xác định GKĐ tài sản còn bất cập, xa rời giá trị thị trường; việc niêm yết, thông báo công khai chưa rộng rãi; thời hạn nộp tiền đặt trước chưa gắn kết chặt chẽ với thời hạn nộp hồ sơ, dễ làm lộ danh tính người tham gia đấu giá.
  • Thực tiễn sai phạm và tiêu cực: Xuất hiện phổ biến nạn "cò đấu giá", thông đồng dìm giá, "quân xanh, quân đỏ", các nhóm xã hội đen cản trở người dân nộp hồ sơ; tình trạng người trúng đấu giá sẵn sàng bỏ tiền đặt trước để hủy hoại kết quả phiên đấu do chế tài xử lý vi phạm hợp đồng chưa đủ mạnh.
  • Thù lao dịch vụ và chi phí: Cơ chế khống chế trần thù lao dịch vụ đấu giá chưa khuyến khích tổ chức đấu giá đầu tư nâng cấp công nghệ (như đấu giá trực tuyến) và chưa bù đắp chi phí trong trường hợp đấu giá không thành.

Chương 4: Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về đấu giá tài sản công

Chương 4 đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế:

  • Định hướng: Kế thừa quy định phù hợp và khắc phục hạn chế; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, minh bạch và ổn định; nâng cao hiệu quả theo nguyên tắc kinh tế thị trường và xu hướng hội nhập quốc tế.
  • Kiến nghị lập pháp cụ thể:
    1. Bổ sung một mục riêng quy định về đấu giá TSC trong Luật ĐGTS nhằm thiết lập cơ chế kiểm soát đặc thù đối với việc xử lý tài sản thuộc sở hữu toàn dân.
    2. Áp dụng mô hình đấu giá tăng dần có bảo lưu: Tách bạch rõ ràng giữa GKĐ (dùng để mời gọi người tham gia trả giá) và giá bảo lưu (mức giá tối thiểu bí mật mà người có tài sản chấp thuận bán, tài sản chỉ được bán thành nếu giá trả cao nhất đạt hoặc vượt giá bảo lưu).
    3. Hoàn thiện các quy định về hợp đồng đấu giá: Sửa đổi khoản 3 Điều 46 Luật ĐGTS để xác định lại bản chất của đề nghị và chấp nhận giao kết; sửa đổi khoản 3 Điều 44 và khoản 3 Điều 46 để xác lập rõ thời điểm giao kết hợp đồng; bổ sung chế tài xử lý vi phạm hợp đồng (bồi thường thiệt hại ngoài việc mất tiền đặt trước) khi người trúng đấu giá từ chối ký biên bản hoặc từ chối kết quả.
    4. Sửa đổi quy định về niêm yết, công khai thông tin tập trung, siết chặt quy trình quản lý hồ sơ đăng ký và thời điểm nộp tiền đặt trước.
    5. Sửa đổi pháp luật quản lý, sử dụng TSC về cơ chế xác định GKĐ, giá bảo lưu và trách nhiệm thanh toán tiền trúng đấu giá.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác định 5 đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:

  1. Đề xuất mô hình đấu giá tăng dần có bảo lưu: Luận án đề xuất xây dựng và áp dụng mô hình đấu giá tăng dần có bảo lưu đối với TSC tại Việt Nam nhằm bảo toàn và gia tăng giá trị tài sản xử lý, đồng thời ngăn chặn tình trạng thông đồng dìm giá ở mức giá khởi điểm thấp.
  2. Đề xuất sửa đổi, bổ sung đồng bộ Luật ĐGTS và pháp luật quản lý, sử dụng TSC: Đề xuất cơ chế định giá mới (bổ sung quy định về giá bảo lưu bên cạnh GKĐ); sửa đổi toàn diện quy định về lựa chọn tổ chức đấu giá, công bố thông tin, đăng ký tham gia, tổ chức phiên đấu và các tiêu chí xác định cuộc đấu giá không thành.
  3. Hoàn thiện lý luận và quy định về giao kết hợp đồng trong đấu giá tăng dần có bảo lưu:
    • Xác định lại hành vi đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng phù hợp với lý thuyết hợp đồng, kiến nghị sửa đổi khoản 3 Điều 46 Luật ĐGTS;
    • Xác định rõ thời điểm giao kết hợp đồng dựa trên lý thuyết luật học và kinh nghiệm quốc tế, kiến nghị sửa đổi khoản 3 Điều 44 và khoản 3 Điều 46 Luật ĐGTS;
    • Kiến nghị bổ sung chế tài xử lý theo trách nhiệm vi phạm hợp đồng đối với trường hợp người trúng đấu giá từ chối ký biên bản đấu giá hoặc từ chối kết quả đấu giá.
  4. Đề xuất sửa đổi các quy định chung của Luật ĐGTS: Hoàn thiện khái niệm tài sản đấu giá, bổ sung khung bước giá bắt buộc, cải cách cơ chế tính thù lao dịch vụ và chi phí đấu giá tài sản.
  5. Kiến nghị sửa đổi các quy định của pháp luật quản lý, sử dụng TSC liên quan đến đấu giá: Sửa đổi quy định về thẩm quyền, phương pháp định GKĐ và giá bảo lưu; phân định rõ chức năng ĐGTS của các Hội đồng đấu giá; hoàn thiện quy định về thời hạn và trách nhiệm nộp tiền trúng đấu giá.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế đã nêu trong văn bản:
    • Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu chuyên sâu vào mô hình đấu giá tăng dần có bảo lưu nhằm tối đa hóa giá trị tài sản trong điều kiện Việt Nam, không đi sâu phân tích mô hình đấu giá giảm dần có bảo lưu.
    • Về phạm vi thời gian, luận án tập trung chủ yếu vào các dữ liệu, quy định thực định từ năm 2005 đến thời điểm nghiên cứu (năm 2022), trọng tâm là giai đoạn thi hành Luật ĐGTS năm 2016.
    • Các chế định của pháp luật dân sự và pháp luật quản lý, sử dụng TSC chỉ được nghiên cứu ở mức độ liên quan trực tiếp đến quan hệ đấu giá tài sản, không khảo sát bao quát toàn bộ hệ thống quản lý công sản.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu khả năng mở rộng ứng dụng mô hình đấu giá giảm dần có bảo lưu đối với các loại tài sản công đặc thù; theo dõi và đánh giá tác động thực tế của các giải pháp lập pháp sau khi Luật ĐGTS và Luật Quản lý, sử dụng TSC được sửa đổi.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp cơ sở khoa học và luận cứ thực tiễn trực tiếp phục vụ việc sửa đổi, bổ sung Luật ĐGTS năm 2016, Luật Quản lý, sử dụng TSC năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành; hỗ trợ hoàn thiện quy chế lựa chọn tổ chức đấu giá và cơ chế xác định giá khởi điểm.
  • Đối với các tổ chức ĐGTS và đấu giá viên: Giúp nhận diện rõ bản chất pháp lý của giao dịch đấu giá, thời điểm phát sinh hiệu lực hợp đồng, cách thức áp dụng bước giá và quy trình bảo mật thông tin khách hàng nhằm phòng ngừa rủi ro tranh chấp, khiếu kiện.
  • Đối với các cơ quan được giao quản lý, xử lý tài sản công: Nâng cao trách nhiệm giám sát, minh bạch hóa việc lựa chọn đơn vị tổ chức đấu giá, ngăn chặn hiện tượng cài cắm "sân sau" và thất thoát tài sản nhà nước.
  • Đối với công tác nghiên cứu và đào tạo: Là tài liệu chuyên khảo chuyên sâu cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Luật dân sự và tố tụng dân sự, Luật kinh tế và Quản lý công.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao luận án đề xuất mô hình đấu giá tăng dần có bảo lưu thay vì giữ nguyên mô hình đấu giá theo giá khởi điểm hiện nay?

Theo luận án, cơ chế đấu giá dựa trên một mức giá khởi điểm công khai duy nhất hiện nay dễ dẫn đến tình trạng người tham gia thông đồng dìm giá sát GKĐ để trục lợi, gây thất thoát tài sản nhà nước. Mô hình đấu giá tăng dần có bảo lưu đưa ra mức giá bảo lưu được giữ bí mật; nếu mức trả giá cao nhất không đạt đến giá bảo lưu thì cuộc đấu giá không thành, từ đó bảo đảm tài sản công không bị bán dưới giá trị kỳ vọng thực tế của Nhà nước.

2. Số liệu thống kê của Bộ Tư pháp được luận án trích dẫn phản ánh kết quả đấu giá tài sản giai đoạn 2017–2019 như thế nào?

Theo báo cáo của Bộ Tư pháp từ tháng 01/2017 đến tháng 12/2019 được trích dẫn trong luận án, các tổ chức ĐGTS trên cả nước đã thực hiện thành công 86.607 cuộc đấu giá; tổng giá khởi điểm là 194.031 tỷ đồng; tổng giá trị bán thành là 233.911 tỷ đồng; mức chênh lệch làm lợi cho người có tài sản và ngân sách nhà nước đạt 38.248 tỷ đồng; số tiền nộp thuế vào ngân sách là 95 tỷ đồng.

3. Theo phân loại của luận án, nhóm tài sản công nào không thuộc đối tượng đưa ra đấu giá?

Trong hệ thống phân loại 7 nhóm TSC theo đối tượng quản lý và sử dụng được luận án trình bày tại chương 2, nhóm thứ (7) gồm "Tiền thuộc ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách và dự trữ ngoại hối nhà nước" là nhóm tài sản duy nhất không thuộc đối tượng đưa ra đấu giá; 6 nhóm tài sản còn lại đều có thể đưa ra đấu giá theo quy định.

4. Luận án kiến nghị sửa đổi những điều khoản nào trong Luật Đấu giá tài sản năm 2016 về việc giao kết hợp đồng?

Luận án kiến nghị sửa đổi khoản 3 Điều 46 Luật ĐGTS để xác định lại bản chất của đề nghị và chấp nhận giao kết hợp đồng trong phương thức trả giá lên; đồng thời kiến nghị sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 44 và khoản 3 Điều 46 Luật ĐGTS nhằm xác định chuẩn xác thời điểm giao kết hợp đồng đấu giá tài sản, gắn với trách nhiệm pháp lý ràng buộc các bên.

5. Biện pháp xử lý đối với người trúng đấu giá từ chối ký biên bản hoặc từ chối kết quả được luận án đề xuất ra sao?

Luận án đề xuất coi hành vi từ chối ký biên bản đấu giá hoặc từ chối kết quả trúng đấu giá là hành vi vi phạm hợp đồng dân sự đã giao kết. Do đó, bên cạnh việc tịch thu toàn bộ khoản tiền đặt trước theo quy định hiện hành, người vi phạm phải chịu các chế tài bồi thường thiệt hại phát sinh đối với chi phí tổ chức lại phiên đấu giá và chênh lệch giá (nếu có) theo nguyên tắc xử lý vi phạm hợp đồng.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Pháp luật về đấu giá tài sản công ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Thu Hồng là công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu về chế định đấu giá tài sản công trên cơ sở kết hợp lý thuyết luật hợp đồng và lý thuyết kiểm soát của luật công. Thông qua việc phân tích thực trạng pháp luật thực định và dữ liệu thực tiễn thi hành từ năm 2005 đến năm 2022, tác giả đã chỉ rõ các kẽ hở pháp lý và nguyên nhân dẫn đến tình trạng tiêu cực, lãng phí tài sản nhà nước. Đóng góp trọng tâm của luận án là đề xuất xây dựng mô hình đấu giá tăng dần có bảo lưu, xác định lại cơ chế giao kết hợp đồng và đề xuất hệ thống giải pháp sửa đổi đồng bộ Luật Đấu giá tài sản năm 2016 và Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017. Các kết luận và kiến nghị của công trình là nguồn tư liệu có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác lập pháp, quản trị công sản và nghiên cứu pháp luật kinh tế - dân sự tại Việt Nam.