Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu mang tên "Bình đẳng giới trong các quyết định ở gia đình nhóm dân tộc thiểu số tại Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp dân tộc Dao tại Lạng Sơn và dân tộc Chăm tại Ninh Thuận)" do nghiên cứu sinh Trần Thị Thanh Loan thực hiện, thuộc chuyên ngành Xã hội học (mã số: 9310301.01), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Thu Hà và TS. Trần Thị Hồng tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2023.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bình đẳng giới là mục tiêu phát triển bền vững được khẳng định qua Tuyên bố Thiên niên kỷ (UNICEF, 2006), Báo cáo hạnh phúc thế giới năm 2016, cũng như Chiến lược quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn 2011–2020 và 2021–2030. Quyền ra quyết định giữa nam và nữ trong gia đình là chỉ báo quan trọng phản ánh địa vị, quyền lực, sự phân công lao động, mức độ tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực, cũng như mức độ thụ hưởng phúc lợi gia đình. Báo cáo thực hiện Chương trình quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn 2011–2020 của Chính phủ và các tổ chức quốc tế (Australian Aid, MOLISA, UN Women, 2021) chỉ ra rằng ở những vùng đồng bào dân tộc thiểu số, điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn, cơ sở hạ tầng kém phát triển, các thực hành văn hóa truyền thống bất lợi cho phụ nữ và trẻ em gái khiến bất bình đẳng giới tồn tại dai dẳng hơn.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: các nghiên cứu về bình đẳng giới trong gia đình nhóm dân tộc thiểu số tại Việt Nam vẫn còn hạn chế về số lượng; đặc biệt, thiếu các nghiên cứu xã hội học so sánh chuyên sâu về quyền ra quyết định gia đình giữa hai cấu trúc gia đình đối lập: chế độ mẫu hệ (dân tộc Chăm) và chế độ phụ hệ (dân tộc Dao).

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến bình đẳng giới trong các quyết định ở gia đình nhóm dân tộc Dao tại Lạng Sơn và dân tộc Chăm tại Ninh Thuận; trên cơ sở đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm tăng cường bình đẳng giới trong các quyết định ở gia đình hai nhóm dân tộc này.

Câu hỏi nghiên cứu

  • Câu hỏi 1: Thực trạng bình đẳng giới trong các quyết định ở gia đình nhóm dân tộc Dao tại Lạng Sơn và dân tộc Chăm tại Ninh Thuận được thể hiện như thế nào?
  • Câu hỏi 2: Những yếu tố nào ảnh hưởng tới bình đẳng giới trong các quyết định ở gia đình nhóm dân tộc Dao tại Lạng Sơn và dân tộc Chăm tại Ninh Thuận?

Giả thuyết nghiên cứu

  • Giả thuyết 1: Thực trạng bình đẳng giới trong các quyết định ở gia đình dân tộc Dao tại Lạng Sơn và dân tộc Chăm tại Ninh Thuận thể hiện mức độ bình đẳng giới cao thông qua tỷ lệ cả nam và nữ cùng quyết định chính các hoạt động chủ yếu của gia đình chiếm đa số. Tuy nhiên, vẫn tồn tại thực trạng tỷ lệ nam giới là người quyết định chính cao hơn nữ giới ở một số công việc liên quan đến làm ăn kinh tế, vay vốn, chi tiêu lớn, quan hệ họ hàng. So với nhóm gia đình dân tộc Dao, các quyết định ở nhóm gia đình dân tộc Chăm bình đẳng giới hơn.
  • Giả thuyết 2: Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến bình đẳng giới trong các quyết định ở gia đình dân tộc Dao tại Lạng Sơn và dân tộc Chăm tại Ninh Thuận. Trong đó những yếu tố có ảnh hưởng rõ nét là tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, dân tộc và thu nhập của phụ nữ và nam giới.

Đối tượng, phạm vi và địa bàn nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Bình đẳng giới trong các quyết định ở gia đình nhóm dân tộc Dao và dân tộc Chăm.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các quyết định giữa vợ và chồng trong gia đình hạt nhân (1–2 thế hệ) thuộc hai nhóm hoạt động chính: (1) Lĩnh vực kinh tế (làm ăn kinh tế, vay vốn/vay mượn, chi tiêu hàng ngày, chi tiêu lớn gồm mua bán/xây sửa nhà đất và mua sắm tài sản đắt tiền); (2) Lĩnh vực đời sống gia đình, quan hệ họ hàng và cộng đồng (việc học của con cái, ma chay/cưới xin, tổ chức giỗ/tết, quan hệ họ hàng, quan hệ cộng đồng).
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu định lượng thứ cấp được thu thập từ năm 2017 đến năm 2019 (từ đề tài cấp Nhà nước). Dữ liệu định tính được nghiên cứu sinh trực tiếp thu thập vào năm 2020 (tại Ninh Thuận) và năm 2021 (tại Lạng Sơn).
  • Địa bàn khảo sát thực địa:
    1. Xã Công Sơn, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn: Xã vùng núi cao biên giới Việt – Trung (vùng III theo Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021), diện tích 34,54 km², gồm 9 thôn với 289 hộ và 446 nhân khẩu, 99% là người Dao Lô Gang theo chế độ phụ hệ, phụ quyền, cư trú bên chồng.
    2. Xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận: Xã đồng bằng đạt chuẩn nông thôn mới (vùng I theo Quyết định số 861/QĐ-TTg), diện tích 6.053,25 ha, gồm 7 thôn với 4.337 hộ và 19.133 nhân khẩu, dân tộc Chăm chiếm đại đa số theo chế độ mẫu hệ, mẫu cư.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng quan có hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến quyền quyết định trong gia đình và các yếu tố ảnh hưởng, chia thành hai tuyến nội dung chính:

Thực trạng quyền quyết định trong gia đình

  • Xu hướng bình đẳng hóa và bàn bạc chung: Nhiều công trình khẳng định xu hướng cùng bàn bạc, cùng quyết định giữa vợ và chồng ngày càng phổ biến trong các gia đình Việt Nam hiện đại (Trần Thị Vân Anh, Nguyễn Hữu Minh, 2008; ISDS, 2015, 2020; Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Hồng, 2019; Hà Thị Thúy, Trần Văn Thành, 2020; Nguyễn Hữu Minh, 2021).
  • Quyết định làm ăn kinh tế và sản xuất: Các nghiên cứu chỉ ra nam giới vẫn giữ vai trò chi phối do tính quyết đoán và óc đầu tư (Vũ Mạnh Lợi, 2004; Phạm Thị Huệ, 2008; Trần Hạnh Minh Phương, 2017). Nghiên cứu của Devkota, Rauniyar và Parker (1999) tại Nepal cho thấy việc ra quyết định trong nông nghiệp có sự phân hóa theo dân tộc và loại cây trồng, vật nuôi. Tại vùng dân tộc thiểu số Việt Nam, nam giới Chăm, Raglai, Cơ Ho dù ở chế độ mẫu hệ vẫn đóng vai trò chính trong sản xuất (Lý Tùng Hiếu, 2012; Đoàn Việt, 2009; Po Dharma, 2015; Ngô Thị Phương Lan, 2015; Nguyễn Thị Phương Yến, 2007; Vũ Đình Lợi, 1994). Ở nhóm phụ hệ như người Dao, nam giới nắm quyền quyết định chủ đạo (Hoàng Bá Thịnh, Lê Thị Nhâm Tuyết, 1998; Nguyễn Thị Thanh Tâm, 2005; Vũ Tuyết Lan, 2007; Lý Hành Sơn, 2017).
  • Quyết định vay vốn: Báo cáo của Ủy ban Dân tộc và các tổ chức (2021), ISDS (2022) và Trần Hạnh Minh Phương (2017) xác nhận nam giới thường đứng tên chủ hộ, đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên chiếm ưu thế trong các thủ tục vay vốn giá trị lớn.
  • Quyết định chi tiêu: Đỗ Thị Bình (2001), Vũ Mạnh Lợi (2004), Phạm Thị Huệ (2008), ISDS (2015, 2020) và Rydstrom (2003) phân định rõ: phụ nữ chiếm ưu thế tuyệt đối trong chi tiêu sinh hoạt hàng ngày ("chi tiêu lặt vặt"), nhưng nam giới lại là người quyết định các khoản chi tiêu lớn và mua sắm tài sản giá trị. Tương tự, nghiên cứu quốc tế của Musalia (2018 tại Kenya), Hou (2011), WB (2012), Pimentel (2006 dẫn theo Shu và cs, 2012) phản ánh sự phân tầng này tùy thuộc vào bối cảnh văn hóa - thể chế.
  • Quyết định hiếu hỷ, giỗ tết, học hành và cộng đồng: Trong văn hóa Chăm mẫu hệ, phụ nữ giữ vị trí trung tâm trong thờ cúng dòng họ mẹ và nghi lễ tâm linh (Đình Hy, 1998; Phan Quốc Anh, 2006; Ngô Thị Chính, Tạ Long, 2007; Sakaya, 2010; Phú Văn Hẳn, 2015); trong khi ở người Dao phụ hệ, việc thờ cúng do nam giới độc quyền đảm nhiệm (Vũ Tuyết Lan, 2007). Về quan hệ cộng đồng, nam giới ở cả hai tộc người đều chiếm ưu thế do rào cản ngôn ngữ, giao tiếp xã hội và phân công "nam ngoại, nữ nội" (Oxfam, ActionAid, 2010; Đặng Nguyên Anh, 2016).

Các yếu tố ảnh hưởng đến bình đẳng giới trong ra quyết định

  • Quan niệm vai trò giới: Eagly (1987), Wharton (2005), Bartley và cộng sự (2005), Shu và cộng sự (2012), IWNT (2011) chỉ ra các định kiến và kỳ vọng xã hội phân định không gian quyền lực theo giới tính.
  • Đặc trưng nhân khẩu và nguồn lực xã hội:
    • Tuổi tác: Mekonnen và Asrese (2014), Nguyễn Hữu Minh và Trần Thị Hồng (2019), Darge (2014), ISDS (2022) ghi nhận các cặp vợ chồng trẻ có mức độ bình đẳng cao hơn thế hệ lớn tuổi.
    • Thu nhập và tài chính: Lý thuyết nguồn lực khẳng định đóng góp kinh tế làm tăng quyền lực thương lượng (Blumstein, Schwartz, 1983; Okwuhukwu Marcus, 2018; Vũ Mạnh Lợi và cs, 2013). Tuy nhiên, Uzulens (2012), Blumberg và Coleman (1989), Collins và cộng sự (1993) lưu ý thu nhập chỉ chuyển hóa thành quyền lực khi chuẩn mực giới vĩ mô cho phép.
    • Trình độ học vấn và nghề nghiệp: Học vấn cao tương quan thuận với mức độ tham gia quyết định của phụ nữ và xu hướng vợ chồng cùng bàn bạc (Acharya và cs, 2010; Mekonnen, Asrese, 2009; Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Hồng, 2019; Trần Thị Vân Anh, Nguyễn Hữu Minh, 2008).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tác giả xác định nghiên cứu về quyền quyết định đối với quan hệ họ hàng ở các dân tộc thiểu số tại Việt Nam vẫn là khoảng trống. Luận án giải quyết khoảng trống này thông qua phân tích so sánh thực nghiệm đa chiều giữa dân tộc Dao (phụ hệ) và dân tộc Chăm (mẫu hệ) trên cả dữ liệu định lượng quy mô lớn và dữ liệu định tính thực địa.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khái niệm cơ bản

  • Bình đẳng giới: Sự bình đẳng về vị thế, cơ hội, quyền và trách nhiệm giữa nam và nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống gia đình và xã hội.
  • Ra các quyết định trong gia đình: Quá trình lựa chọn phương án hành động trong số các phương án khác nhau đối với các hoạt động sản xuất, tiêu dùng, nuôi dạy con cái và quan hệ xã hội.
  • Bình đẳng giới trong các quyết định ở gia đình: Mức độ tham gia công bằng giữa vợ và chồng trong quá trình trao đổi, thương lượng và đưa ra lựa chọn cuối cùng đối với các công việc chung.
  • Gia đình nhóm dân tộc thiểu số: Các hộ gia đình thuộc cộng đồng các dân tộc thiểu số tại Việt Nam, mang đặc thù về luật tục, cơ cấu quan hệ thân tộc và điều kiện kinh tế - xã hội vùng cư trú.

Các cách tiếp cận lý thuyết vận dụng

  1. Cách tiếp cận theo lý thuyết nguồn lực (Resource Theory): Xem xét quyền lực ra quyết định dựa trên mức độ đóng góp nguồn lực hữu hình (thu nhập, tài sản) và vô hình (học vấn, chuyên môn, địa vị nghề nghiệp) của mỗi bên vợ hoặc chồng.
  2. Cách tiếp cận theo lý thuyết hiện đại hóa (Modernization Theory): Giải thích sự biến đổi trong cấu trúc gia đình và bình đẳng giới dưới tác động của công nghiệp hóa, đô thị hóa, sự phát triển cơ sở hạ tầng và chuyển dịch từ kinh tế tự cung tự cấp sang kinh tế thị trường.
  3. Cách tiếp cận giới (Gender Approach): Phân tích sự bất bình đẳng quyền lực dưới góc độ cấu trúc xã hội, định kiến giới và sự phân công lao động theo giới tính được kiến tạo qua văn hóa.
  4. Cách tiếp cận văn hóa (Cultural Approach): Lý giải ảnh hưởng của thiết chế phụ hệ (dân tộc Dao) và mẫu hệ (dân tộc Chăm), phong tục, tín ngưỡng, luật tục và quy tắc dòng họ đến quyền quyết định trong gia đình.

Khung phân tích và hệ biến số

Khung phân tích đặt bình đẳng giới trong các quyết định ở gia đình (biến phụ thuộc: vợ quyết định, chồng quyết định, cả hai cùng quyết định) trong mối tương quan với các nhóm biến độc lập: biến nguồn lực (thu nhập, học vấn, nghề nghiệp), biến hiện đại hóa (tuổi tác, tiếp cận thông tin, cơ sở hạ tầng), biến văn hóa - xã hội (dân tộc, hình thức tổ chức gia đình phụ hệ/mẫu hệ, chuẩn mực vai trò giới).

[Các yếu tố tác động]
- Nguồn lực: Học vấn, Nghề nghiệp, Thu nhập
- Hiện đại hóa: Độ tuổi, Cơ sở hạ tầng, Thị trường
- Văn hóa: Dân tộc (Dao phụ hệ / Chăm mẫu hệ), Luật tục
[Quá trình thương lượng & Bàn bạc giữa Vợ - Chồng]
[Bình đẳng giới trong các quyết định gia đình]
- Lĩnh vực kinh tế (Làm ăn, Vay vốn, Chi tiêu hàng ngày, Chi tiêu lớn)
- Lĩnh vực gia đình & xã hội (Học hành con cái, Hiếu hỷ, Giỗ tết, Họ hàng, Cộng đồng)

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp (kết hợp định lượng và định tính):

  • Phương pháp phân tích tài liệu: Khảo cứu văn bản pháp luật, chính sách bình đẳng giới, tài liệu thứ cấp về dân tộc học, văn hóa học và xã hội học gia đình.
  • Phương pháp phân tích số liệu thống kê có sẵn: Khai thác bộ số liệu định lượng từ đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước (giai đoạn 2017–2019). Sử dụng phương pháp thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ %) và mô hình hồi quy Logistic đa biến với chỉ số tỷ số chênh (Odds Ratio - OR) để phân tích các yếu tố tác động đến khả năng hai vợ chồng cùng quyết định.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu (PVS): Nghiên cứu sinh trực tiếp thực hiện phỏng vấn sâu các đối tượng là đại diện hộ gia đình (vợ, chồng), cán bộ xã, trưởng thôn, cán bộ phụ nữ và người có uy tín tại xã Công Sơn (Lạng Sơn, 2021) và xã Phước Hữu (Ninh Thuận, 2020).
  • Phương pháp thảo luận nhóm: Thực hiện tại các địa bàn nghiên cứu để thu thập dữ liệu định tính về chuẩn mực cộng đồng và quá trình thương lượng trong gia đình.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học liên quan đến thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến bình đẳng giới trong các quyết định ở gia đình. Nội dung điểm lại chi tiết các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo hai nhóm vấn đề:

  1. Thực trạng tham gia ra quyết định: Làm rõ sự phân hóa quyền lực trong các lĩnh vực: kinh tế hộ gia đình, vay vốn, quản lý chi tiêu (hàng ngày và tài sản lớn), chăm lo học vấn cho con cái, việc hiếu hỷ giỗ tết và các quan hệ đối ngoại họ hàng, cộng đồng.
  2. Các yếu tố tác động: Phân tích vai trò của định kiến giới, độ tuổi, học vấn, thu nhập, nghề nghiệp và văn hóa tộc người. Qua đó, Chương 1 xác lập cơ sở thực nghiệm và xác định rõ khoảng trống nghiên cứu đối với nhóm gia đình dân tộc Dao và Chăm tại Việt Nam.

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 2 trình bày 4 khái niệm nền tảng, luận giải chi tiết 4 cách tiếp cận lý thuyết (nguồn lực, hiện đại hóa, giới, văn hóa), xây dựng khung phân tích và hệ thống các biến số đo lường. Chương này mô tả chi tiết phương pháp luận xã hội học, quy trình kết hợp phân tích số liệu thống kê thứ cấp từ đề tài cấp Nhà nước với phương pháp nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm) do tác giả trực tiếp thực hiện tại hai địa bàn nghiên cứu: xã Công Sơn (huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn) và xã Phước Hữu (huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận).

Chương 3: THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG CÁC QUYẾT ĐỊNH LIÊN QUAN TỚI LĨNH VỰC KINH TẾ CỦA GIA ĐÌNH

Chương 3 tập trung phân tích thực trạng và các biến số tác động đến quyền quyết định trong lĩnh vực kinh tế của hai nhóm dân tộc:

Bảng tổng hợp các chỉ báo quyết định kinh tế và mô hình phân tích

Lĩnh vực quyết định Đặc điểm thực trạng ra quyết định Các yếu tố ảnh hưởng chính (Mô hình Logistic / Định tính)
Làm ăn kinh tế nói chung Tỷ lệ cả hai cùng quyết định chiếm tỷ lệ đáng kể, nhưng nam giới vẫn giữ tiếng nói chủ đạo ở nhiều khâu then chốt. Học vấn, kiến thức sản xuất kinh doanh, thu nhập, quan niệm nam giới là trụ cột kinh tế gia đình.
Vay vốn / Vay mượn Nam giới chiếm ưu thế trong quyết định và đứng tên thực hiện thủ tục vay vốn giá trị lớn; phụ nữ Chăm có vai trò gắn với quyền sở hữu đất đai. Đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ), năng lực lập hồ sơ sản xuất, giao tiếp với ngân hàng.
Chi tiêu hàng ngày Phụ nữ chiếm tỷ lệ áp đảo ở cả hai tộc người, được coi là công việc "chi tiêu mua sắm lặt vặt", nội trợ gia đình. Phân công vai trò giới truyền thống, quan niệm phụ nữ "biết chi tiêu, biết tiết kiệm cho gia đình".
Chi tiêu lớn (mua sắm tài sản đắt tiền, mua bán / xây sửa nhà đất) Chuyển sang ưu thế của nam giới hoặc yêu cầu bàn bạc nhưng tiếng nói quyết định cuối cùng thuộc về người chồng. Năng lực kỹ thuật, học vấn của vợ/chồng, mức độ đóng góp kinh tế, quy mô giá trị tài sản.

Luận điểm nổi bật từ dữ liệu định tính:

  • Tại gia đình người Dao (phụ hệ), nam giới tham gia giao thương bên ngoài nhiều hơn nên thường định đoạt việc làm ăn, mua sắm lớn: "Nam giới là người quyết định chính việc mua sắm đồ dùng có giá trị cho gia đình vì nam giới là người trụ cột gia đình" (Hộp 3).
  • Tại gia đình người Chăm (mẫu hệ), phụ nữ sở hữu đất đai tạo nên vị thế thương lượng rõ nét trong vay vốn: "Chồng muốn vay vốn thì phải bàn bạc với vợ vì vợ là người đứng tên sổ đỏ" (Hộp 3).

Chương 4: THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG CÁC QUYẾT ĐỊNH LIÊN QUAN TỚI LĨNH VỰC ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH, QUAN HỆ HỌ HÀNG VÀ CỘNG ĐỒNG

Chương 4 phân tích các quyết định phi kinh tế, làm nổi bật sự khác biệt văn hóa giữa chế độ phụ hệ và mẫu hệ:

Bảng tổng hợp các chỉ báo đời sống xã hội và mô hình phân tích

Lĩnh vực quyết định Nhóm dân tộc Dao (Lạng Sơn - Phụ hệ) Nhóm dân tộc Chăm (Ninh Thuận - Mẫu hệ)
Việc học của con cái Cả hai cùng bàn bạc; khi con lớn, quyền quyết định chuyển giao dần cho con cái định hướng bản thân; phụ nữ học vấn thấp ít can thiệp sâu. Vợ chồng cùng quyết định; học vấn của cha mẹ tác động thuận chiều đến việc đầu tư giáo dục cho con.
Ma chay, cưới xin Quy định văn hóa phụ hệ truyền đời: nam giới là người quyết định chính và chủ trì nghi lễ. Việc lớn của dòng tộc mẹ: nam và nữ cùng bàn bạc, thống nhất phương án tổ chức.
Tổ chức giỗ, tết Chồng quyết định chính mọi việc cúng bái rằm, tết theo luật tục dòng họ phụ hệ; phụ nữ không được cúng lễ. Vợ là người quyết định chính việc làm giỗ/tết do thờ cúng tổ tiên bên dòng họ mẹ.
Quan hệ họ hàng & Cộng đồng Nam giới chủ trì các mối quan hệ đối nội họ hàng và đối ngoại cộng đồng; đại diện tham gia các cuộc họp thôn/xã. Nam giới thay mặt phụ nữ giao tiếp xã hội, nhưng quan hệ họ hàng nội tộc mẹ có sự tham gia sâu của phụ nữ.

Luận điểm nổi bật từ dữ liệu định tính:

  • Sự khác biệt văn hóa thể hiện trực tiếp qua quyền quyết định nghi lễ: "Ở gia đình dân tộc Chăm, vợ là người quyết định chính việc làm giỗ/tết vì đây là làm giỗ/tết cho tổ tiên bên vợ. Ở gia đình người dân tộc Dao, chồng là người quyết định tổ chức các ngày rằm/ngày tết vì đó là quy định của dân tộc" (Hộp 4).
  • Quyết định cộng đồng chịu ảnh hưởng từ rào cản ngôn ngữ và phân công xã hội: "Chồng là người quyết định các quan hệ họ hàng/cộng đồng vì chồng là chủ gia đình, là 'chủ quản' về tài chính và hiểu biết hơn vợ" (Hộp 4).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học

  1. Cung cấp cơ sở khoa học đa chiều từ góc độ Xã hội học: Luận án đã làm rõ sự tương tác phức tạp giữa các yếu tố nguồn lực (kinh tế, học vấn), các yếu tố hiện đại hóa (cơ sở hạ tầng, truyền thông) và các yếu tố văn hóa (thiết chế phụ hệ, mẫu hệ) trong việc định hình quyền quyết định của vợ và chồng trong gia đình dân tộc thiểu số.
  2. Kiểm định thực nghiệm các lý thuyết xã hội học: Kết quả nghiên cứu kiểm chứng phạm vi giải thích của Lý thuyết nguồn lực và Lý thuyết hiện đại hóa trong bối cảnh các cộng đồng dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Luận án chỉ ra rằng sự gia tăng nguồn lực kinh tế của người phụ nữ chỉ thúc đẩy bình đẳng giới thực chất khi được đặt trong mối tương quan đồng thuận với các chuẩn mực văn hóa tộc người và thiết chế gia đình.
  3. Phát hiện sự biến đổi linh hoạt của cấu trúc gia đình mẫu hệ và phụ hệ: Chứng minh rằng trong gia đình Chăm mẫu hệ, nam giới vẫn có quyền lực kinh tế và đối ngoại lớn; ngược lại trong gia đình Dao phụ hệ, xu hướng dân chủ hóa và cùng bàn bạc đang gia tăng ở thế hệ trẻ có học vấn.

Đóng góp thực tiễn và các khuyến nghị đề xuất

  • Về truyền thông và nâng cao nhận thức: Hoàn thiện và đổi mới nội dung tuyên truyền về Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; xóa bỏ các định kiến giới truyền thống nhưng bảo tồn các giá trị văn hóa tốt đẹp của đồng bào Dao và Chăm. Chương trình truyền thông cần được thiết kế bằng tiếng dân tộc, phù hợp với trình độ dân trí địa phương, hướng tới nhóm nam giới lớn tuổi và phụ nữ vùng khó khăn.
  • Về phát triển nguồn nhân lực và kinh tế: Nâng cao trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức sản xuất kinh doanh cho phụ nữ dân tộc thiểu số; tạo điều kiện để phụ nữ tiếp cận các dịch vụ tài chính, nguồn vốn tín dụng ưu đãi.
  • Về chính sách và pháp lý: Đảm bảo thực thi quy định pháp luật về việc đứng tên cả vợ và chồng trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản chung của hộ gia đình nhằm củng cố vị thế pháp lý của phụ nữ trong các quyết định kinh tế lớn.
  • Về tổ chức thực hiện: Củng cố mạng lưới cán bộ làm công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ tại cấp xã; bố trí kinh phí và cán bộ chuyên trách, tránh kiêm nhiệm hình thức.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về nguồn dữ liệu thứ cấp: Luận án sử dụng bộ dữ liệu định lượng có sẵn từ đề tài cấp Nhà nước, do đó các biến số đo lường quyền quyết định được thiết kế ở mức độ khái quát cho các nhóm công việc lớn, chưa bao hàm chi tiết toàn bộ các quyết định cụ thể phát sinh trong sinh hoạt thường nhật.
  • Hạn chế về đo lường quá trình: Dữ liệu định lượng chủ yếu phản ánh kết quả cuối cùng của việc ra quyết định (ai là người quyết định chính), chưa đo lường đầy đủ thang bậc định lượng về mức độ thương lượng trong toàn bộ quá trình ra quyết định (mặc dù đã được bổ sung bằng dữ liệu định tính).
  • Hạn chế về phạm vi mẫu và thế hệ: Nghiên cứu chỉ tập trung phân tích ở nhóm gia đình hạt nhân (1–2 thế hệ) của hai cộng đồng dân tộc Dao tại Lạng Sơn và dân tộc Chăm tại Ninh Thuận, chưa đại diện cho toàn bộ các nhóm địa bàn khác của người Dao, người Chăm trên cả nước cũng như các dân tộc thiểu số khác.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu sang các dạng cấu trúc gia đình đa thế hệ (gia đình mở rộng), nghiên cứu sâu quá trình đàm phán ngầm giữa vợ và chồng, và mở rộng khảo sát ở các nhóm dân tộc thiểu số sinh sống tại các vùng địa lý khác nhau.

Giá trị tham khảo

  • Đối với các nhà nghiên cứu, giảng viên và nghiên cứu sinh: Cung cấp tài liệu tham khảo chuyên khảo về xã hội học gia đình, xã hội học giới, dân tộc học và nhân học văn hóa; minh chứng thực nghiệm về phương pháp kết hợp định tính - định lượng (mô hình hồi quy Logistic kết hợp phỏng vấn sâu) trong nghiên cứu vùng dân tộc thiểu số.
  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Cung cấp dữ liệu thực tiễn tin cậy cho Ủy ban Dân tộc, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trong việc đánh giá và triển khai Chiến lược quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn 2021–2030, Đề án "Hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2018–2025" và Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
  • Đối với chính quyền địa phương: Là cơ sở thực tế cho tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Ninh Thuận trong việc xây dựng các chính sách an sinh xã hội, phổ biến giáo dục pháp luật và nâng cao quyền năng kinh tế cho phụ nữ tại xã Công Sơn và xã Phước Hữu.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát cụ thể tại những địa bàn nào và có đặc điểm dân số ra sao?

Nghiên cứu được tiến hành tại hai địa bàn thực địa:

  • Xã Công Sơn, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn: Xã vùng III đặc biệt khó khăn biên giới Việt – Trung, diện tích 34,54 km², gồm 289 hộ với 446 nhân khẩu tại 9 thôn, 99% là người Dao Lô Gang theo chế độ phụ hệ.
  • Xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận: Xã vùng I đạt chuẩn nông thôn mới, diện tích 6.053,25 ha, gồm 4.337 hộ với 19.133 nhân khẩu tại 7 thôn, đại đa số là người Chăm theo chế độ mẫu hệ.

2. Sự khác biệt lớn nhất về quyền quyết định việc giỗ tết và thờ cúng giữa hai dân tộc là gì?

Sự khác biệt mang tính quy định văn hóa tuyệt đối:

  • Ở gia đình dân tộc Dao (phụ hệ), người chồng là người quyết định chính việc cúng lễ ngày rằm, ngày tết; phụ nữ không được can dự vào việc thờ cúng tổ tiên.
  • Ở gia đình dân tộc Chăm (mẫu hệ), người vợ là người quyết định chính việc tổ chức giỗ, tết vì đây là việc cúng bái cho tổ tiên bên dòng họ mẹ.

3. Trong lĩnh vực kinh tế, những công việc nào nam giới và nữ giới chiếm ưu thế quyết định?

  • Nữ giới chiếm ưu thế: Chi tiêu sinh hoạt hàng ngày (mua sắm thực phẩm, đồ dùng lặt vặt) ở cả hai nhóm dân tộc.
  • Nam giới chiếm ưu thế: Quyết định làm ăn kinh tế nói chung, vay vốn ngân hàng, chi tiêu các khoản tiền lớn (mua bán, xây sửa nhà đất và mua sắm đồ dùng, tài sản đắt tiền).

4. Yếu tố quyền sở hữu đất đai ảnh hưởng như thế nào đến quyết định vay vốn ở gia đình dân tộc Chăm?

Trong gia đình người Chăm, do chế độ mẫu hệ quy định quyền thừa kế đất đai thuộc về người phụ nữ, người vợ thường đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ). Vì vậy, khi người chồng muốn vay vốn làm ăn kinh tế bắt buộc phải trao đổi, bàn bạc và có sự đồng thuận của người vợ để hoàn tất thủ tục pháp lý.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Trần Thị Thanh Loan là công trình khoa học xã hội phân tích chuyên sâu về thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến bình đẳng giới trong các quyết định ở gia đình dân tộc Dao (Lạng Sơn) và dân tộc Chăm (Ninh Thuận). Kết quả nghiên cứu khẳng định sự đan xen chặt chẽ giữa các yếu tố nguồn lực, hiện đại hóa và thiết chế văn hóa tộc người (phụ hệ và mẫu hệ) trong việc chi phối quyền ra quyết định giữa vợ và chồng. Công trình cung cấp hệ thống luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn quan trọng, phục vụ công tác hoạch định chính sách bình đẳng giới và phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại Việt Nam.