Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề GDDS SKSS xuất hiện như là một hình thức GD sáng tạo với trách nhiệm hướng tới các vấn đề DS cách đây vài thập kỷ và hiện nay đã có mặt ở hàng trăm quốc gia trên thế giới. So với các ngành khoa học khác, GDDS SKSS là một ngành khoa học mới mẻ, nó ra đời nhằm giải quyết những bức bách do xã hội đặt ra. Ý tưởng đưa GDDS lần đầu tiên xuất hiện tại Thụy Điển năm 1935, tại Mỹ năm 1937.
Năm 1954, hội nghị Quốc tế về DS tổ chức tại Rôme (Italia), là cuộc họp kỹ thuật các chuyên gia DS nhằm tổng hợp thông tin về nhân khẩu học. Trong kế hoạch hành động của Quỹ DS Liên hiệp quốc, SKSS bao gồm 6 nội dung chính có liên quan mật thiết với nhau. Tuy nhiên, ở mỗi khu vực, quốc gia ngoài những nội dung trong hội nghị đề cập còn có những nội dung bổ sung và ưu tiên tùy thuộc vào từng điều kiện của mỗi quốc gia, khu vực đó. Năm 1994, Hội nghị DS Thế giới lần thứ IV tại Cai - rô (Ai Cập) với sự tham gia của 179 nước trên thế giới đã đề cập đến việc triển khai GDDS ở các quốc gia trên toàn thế giới.
Từ đây, khái niệm về SKSS, một vấn đề hết sức rộng lớn đã được tất cả mọi người quan tâm [13, tr. Chương trình hành động của Hội nghị này đã khẳng định: "Để đạt hiệu quả cao nhất, GDDS phải được bắt đầu ngay từ tiểu học và tiếp tục ở tất cả các cấp của GD chính quy, cũng như không chính quy, đồng thời có tính đến các quyền, trách nhiệm của cha mẹ và tính đến các nhu cầu của trẻ em và trẻ tuổi VTN"; “Các chính phủ, phối hợp với các tổ chức phi chính phủ cần đáp ứng nhu cầu đặc biệt của VTN và thiết lập các dịch vụ thích hợp, bao gồm KHHGĐ, tư vấn và dịch vụ cho các VTN có hoạt động tình dục; tư vấn về quan hệ giới, hành vi tình dục có trách nhiệm, SKSS và phòng chống bệnh lây nhiễm qua đường tình dục (BLNQĐTD) và nhiễm HIV; phòng và điều trị các trường hợp bị xâm hại tình dục và loạn luân” [20, tr. 6 Các chương trình SKSS đều được tiến hành theo những phương pháp linh hoạt, tuỳ từng quốc gia, từng nền văn hóa khác nhau. Tuy vậy, các phương pháp GD đều có mục đích chính và rõ ràng nhằm hướng đến lứa tuổi VTN.
GDDS SKSS được hầu hết các nước trên thế giới và trong khu vực coi là một bộ phận không thể tách rời của các chính sách và kế hoạch phát triển của mỗi quốc gia. Như vậy, có thể thấy, việc GDDS SKSS đã và đang được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm đặc biệt vì nó gắn với sự phát triển kinh tế xã hội. Các lực lượng tham gia quá trình GD này rất phong phú, trong đó, việc tổ chức GDDS SKSS trong trường học được chú trọng đúng mức, đồng thời, huy động nhiều lực lượng trong cộng đồng tham gia với nhiều mô hình và phương pháp khác nhau nhưng đều nhằm vào một mục tiêu chung. Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến vấn đề SKSS VTN.
Nhiều hoạt động nhằm tăng cường SKSS VTN đã được tiến hành như: Luật hôn nhân gia đình đã được sửa đổi và công bố; Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em đã được Việt Nam ký kết và nhiều chương trình phòng chống tệ nạn xã hội, bảo vệ chăm sóc trẻ em. Song song với hoạt động này, việc nghiên cứu về SKSS VTN đã được nhiều cơ quan nghiên cứu và cá nhân thực hiện. Tuy vậy, SKSS VTN hiện nay là vấn đề bức xúc cần được quan tâm đúng mức. Vào thập niên 60 của thế kỷ XX, Việt Nam đã có những văn bản pháp quy về dân số - kế hoạch hóa gia đình (DS - KHHGĐ).
Quyết định số 216/CP ngày 26 tháng 12 năm 1961 của Hội đồng Bộ trưởng thể hiện sự quan tâm về vấn đề giảm sinh. Quyết định số 217/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 18 tháng 12 năm 1961 hướng tới vấn đề sinh đẻ có kế hoạch. Như vậy, ngay từ những năm 60 của thế kỷ trước, Việt Nam đã gắn công tác giảm sinh với việc bảo vệ sức khỏe nhân dân nhằm giảm tỷ lệ tử vong của bà mẹ và trẻ em, từng bước nâng dần chất lượng dân số. Tiếp đến, vào những năm cuối thập kỷ 80 ( thế kỷ XX), Quốc hội nước ta thông qua Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân vào ngày 30 tháng 06 năm 1989.
Điều này sẽ tạo ra được hành lang pháp lý để thực hiện chính sách dân số – KHHGD, thực hiện quan điểm của Đảng về bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em trên toàn lãnh thổ. 7 Bước vào thế kỷ XXI, chiến lược quốc gia về sức khỏe sinh sản và vấn đề sức khỏe sinh sản cho thanh niên ở nhà trường Việt Nam cụ thể hóa nội dung nghị quyết trung ương 4 ( Khóa VII). Chiến lược xác định mục tiêu chung là: “ Bảo đảm đến năm 2010 tình trạng sức khỏe sinh sản được cải thiện rõ rệt và giảm được sự chênh lệch giữa các vùng và các đối tượng bằng cách đáp ứng tốt hơn những nhu cầu đa dạng về chăm sóc sức khỏe sinh sản phù hợp với điều kiện của các cộng đồng ở từng địa phương, đặc biệt chú ý đến các vùng và các đối tượng khó khăn”. Cùng với 7 mục tiêu cụ thể, văn bản này đề ra trách nhiệm của Bộ Giáo dục về giới, về sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục cho học sinh các cấp phổ thông, cao đẳng, đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề và các loại hình giáo dục khác”.
Dự thảo báo cáo công tác dân số giai đoạn 2011-2020 ( tổng cục dân số) xác định rõ 9 mục tiêu quan trọng. Trong đó, đáng quan tâm là mục tiêu 6,7,8,9 về chất lượng và quản lý dân số. Để thực hiện các mục tiêu quan trọng đó, báo cáo nêu lên 5 giải pháp quan trọng: tăng cường chỉ đạo công tác dân số, hoàn thiện tổ chức bộ máy và chuyên môn hóa cán bộ, xã hội hóa và hoàn thiện chính sách, đầu tư nguồn lực có hiệu quả, hợp tác quốc tế. Cho đến nay, dự thảo báo cáo này là văn bản đầu tiên đề cập đến vấn đề dân số mang tầm chiến lược giao đoạn 2011 - 2020 Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của việc GD SKSS VTN, được sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế như UNFPA, UNICEF, UNESCO, GDDS đã được thực hiện từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX.
UNFPA đã giúp đỡ Bộ GDĐT thực hiện GDDS qua 5 chu kỳ (1984-1987, 1988-1991, 1994-1996, 1997-2000, 2001- 2005) với quy mô ngày càng mở rộng, mức độ thực hiện ngày càng sâu. Các tài liệu về GDDS, sách hướng dẫn GV tiến hành GDDS ở các cấp học đã được biên soạn. GDDS đã được lồng ghép vào một số môn học như: Sinh học, Địa lý, Văn học, Giáo dục công dân. Công tác đào tạo GV giảng dạy GDDS - SKSS bước đầu đã được thực hiện.
Hiện tại, các nội dung GDDS vẫn tiếp tục được giới thiệu trong chương trình dạy học ở các trường THCS, trong đó ưu tiên các nội dung GD SKSS VTN. Đây là những nội dung mang nhiều ý nghĩa quan trọng nhưng cũng là các vấn đề mới và 8 khó dạy đối với giáo viên [22, tr. Một số công trình nghiên cứu liên quan đến SKSS VTN và vấn đề GD SKSS VTN, như: - Trong khuôn khổ dự án “Hỗ trợ chương trình Giáo dục - Đào tạo về SKSS và dân số-phát triển” mã số VIE/97/P13 (với sự tài trợ kinh phí của Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc), dưới sự chỉ đạo của Bộ GDĐT đã xây dựng tài liệu bồi dưỡng giáo viên các trường Trung học cơ sở và THPT về “Phương pháp giảng dạy các chủ đề nhạy cảm về SKSS VTN” [22]. Uỷ ban dân số, Gia đình và trẻ em được sự hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật của Quỹ dân số Liên hiệp quốc, đã tổ chức biên soạn bộ chương trình đào tạo truyền thông DS - SKSS gồm 13 cuốn [29].
- Uỷ ban quốc gia về DS phối hợp với ĐTNCSHCM biên soạn “Sổ tay hướng dẫn tuyên truyền thảo luận nhóm về SKSS VTN dành cho tuyên truyền viên và cán bộ đoàn cơ sở”[28]. - Hội KHHGĐ Quốc tế và Hội KHHGĐ Việt Nam đã tổ chức biên soạn cuốn sách “Sức khoẻ sinh sản vị thành niên” xuất bản năm 2002 [14]. - Chiến lược Dân số và chăm sóc SKSS – Uỷ ban Quốc gia DS – KHHGĐ – Trường Đại học Y khoa Hà Nội, 1997. - Tuyên truyền lồng ghép Kế hoạch hóa gia đình trong SKSS – Bộ Y tế, NXB phụ nữ 2000.
- GDSKSS vị thành niên – Bộ GD & ĐT và UNFPA, 2001. - Chiến lược Quốc gia về SKSS giai đoạn 2001 – 2010, Bộ Y tế, NXB Quân đội, Hà Nội, 2001. - Bình đẳng giới trong chăm sóc SKSS và chống bạo lực trong gia đình, hội kế hoạch hóa gia đình Việt Nam, Hà Nội, 2002. - Chương trình hành động giáo dục sức khỏe sinh sản và phòng, chống HIV/AIDS cho học sinh trung học giao đoạn 2007-2010, Bộ GD&ĐT, Hà Nội, 2007.
- “Hành trang tuổi hồng”, “ Thế giới tuổi hoa” Sở GD&ĐT TP. Đà Nẵng, 9 ĐHSP Đà Nẵng và tổ chức Rutgers WPF. Bên cạnh đó, còn có các công trình nghiên cứu khác về GD SKSS VTN như: Nguyễn Quang Vinh - Viện khoa học GD “Đưa GD tình dục và GD SKSS VTN vào nhà trường THPT,1997 [25]; Nguyễn Công Cừu “Các biện pháp quản lý hoạt động GD SKSS VTN cho HS trường Trung cấp Y tế tỉnh Đồng Tháp [7]; Huỳnh Sơn, Bùi Thị Kim Yến ở lĩnh vực quản lý và GD SKSS cho sinh viên [21]; Có thể nói, GDDS - SKSS là một vấn đề vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài, vừa có tính cấp bách. Thanh thiếu niên đang độ tuổi VTN trong các nhà trường cần được tiếp cận GDDS - SKSS một cách có hệ thống với mục tiêu và nội dung xác định từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của HS.
Làm được như vậy, công tác GD&ĐT trong nhà trường sẽ tạo ra những điều kiện vững chắc cho việc thực hiện mục tiêu GD nhân cách toàn diện cho thế hệ trẻ và thực hiện mục tiêu chính sách DS quốc gia.