Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài được thực hiện xuất phát từ bối cảnh Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với sự giao thoa của ba yếu tố văn hóa: núi, đồng bằng và biển. Trong 54 tộc người, người Tày là cộng đồng có dân số đông thứ hai trên toàn quốc và cư ngụ lâu đời tại nhiều tỉnh miền núi phía Bắc. Tại tỉnh Quảng Ninh, theo số liệu thống kê dân số năm 2009, người Tày là tộc người đông thứ 3 của tỉnh. Riêng tại huyện biên giới Bình Liêu, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm từ 93% đến 96% dân số, trong đó người Tày chiếm tỷ lệ đa số (từ 50,3% đến 58,4%).

Mặc dù Bình Liêu sở hữu hệ thống tài nguyên tự nhiên phong phú và kho tàng văn hóa dân gian đặc sắc, tiêu biểu là văn hóa Then, nhưng hoạt động du lịch tại đây chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Khách du lịch đến Quảng Ninh phần lớn tập trung tại các trung tâm đô thị và khu vui chơi giải trí ven biển, lượng khách tiếp cận các huyện vùng cao còn hạn chế. Đứng trước sức ép của quá trình giao lưu văn hóa hiện đại và nguy cơ mai một các giá trị truyền thống, tác giả thực hiện khóa luận nhằm nghiên cứu thực trạng và đề xuất phương hướng khai thác di sản Then gắn với du lịch bền vững.

Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định gồm ba nội dung chính:

  1. Hệ thống hóa và giới thiệu chi tiết về diện mạo văn hóa Then của người Tày tại huyện Bình Liêu, đánh giá tiềm năng chuyển hóa di sản thành sản phẩm du lịch.
  2. Đề xuất các giải pháp, phương án bảo tồn và phục hồi không gian văn hóa Then truyền thống của người Tày tại địa phương.
  3. Đưa ra các kiến nghị đối với chính quyền các cấp, cơ quan quản lý văn hóa và ngành du lịch nhằm phối hợp đồng bộ trong công tác quản lý, khai thác giá trị văn hóa tộc người.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các yếu tố văn hóa của người Tày tại huyện Bình Liêu, trọng tâm là văn hóa phi vật thể (nghi lễ, diễn xướng Then). Phạm vi nghiên cứu về không gian giới hạn tại địa bàn huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận đề tài dựa trên hệ thống lý luận về nhân học văn hóa, dân tộc học và kinh tế du lịch:

  • Khái niệm tộc người và văn hóa tộc người: Tác giả phân tích thuật ngữ Ethnography (Dân tộc học) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ (Ethnos - tộc người và Graphy - miêu tả), khẳng định tộc người là tập đoàn xã hội hình thành qua quá trình tự nhiên - lịch sử với ba đặc trưng: ngôn ngữ, văn hóa và ý thức cộng đồng. Văn hóa tộc người bao gồm toàn bộ giá trị vật thể và phi vật thể. Khóa luận dẫn dụng cách phân loại của các nhà dân tộc học Xô viết Ác-mê-ni (thập niên 1970) chia văn hóa tộc người thành bốn thành tố: văn hóa sản xuất, văn hóa bảo đảm đời sống, văn hóa chuẩn mực xã hội và văn hóa nhận thức xã hội; đồng thời đối chiếu với phân loại văn hóa vật thể và phi vật thể của UNESCO (năm 1988).
  • Khái niệm Then: "Then" theo tiếng Tày có nghĩa là "Thiên" (Trời). Đây là loại hình tín ngưỡng cúng vía, cầu an, diễn xướng dân gian thể hiện thế giới quan của người Tày, Nùng, Thái; phản ánh vai trò cầu nối của ông Then, bà Then giữa con người trần gian với thế giới thần linh (Mường Trời, Ngọc Hoàng).
  • Lý thuyết tài nguyên du lịch nhân văn: Tác giả xác định văn hóa tộc người vừa là nguồn lực vừa là động lực thu hút du khách, bao gồm tài nguyên vật thể (kiến trúc nhà ở, trang phục, công cụ, sản vật) và tài nguyên phi vật thể (ngôn ngữ, ẩm thực, phong tục tập quán, nghệ thuật trình diễn, lễ hội).

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp thu thập và xử lý tài liệu làm công cụ chủ đạo xuyên suốt. Nguồn dữ liệu bao gồm:

  • Giáo trình chuyên ngành Dân tộc học, Du lịch học và Văn hóa học.
  • Số liệu thống kê dân số các năm 1989, 1999, 2009 của Tổng cục Thống kê và báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội của huyện Bình Liêu.
  • Các tư liệu lịch sử, công trình khảo cứu của Thiếu tá Reversery (năm 1905 trong Revue Indochinoise), Tiểu dẫn về tỉnh Hải Ninh (1932), khảo cứu của Voong A Sáng (1949 trong Lược chí địa lý khu tự trị vùng Hải Ninh).
  • Dữ liệu thực tế và thông tin tổng hợp trên mạng Internet được chọn lọc, phân loại, so sánh và thống kê theo từng nội dung chuyên đề.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Khái quát chung về văn hóa tộc người Tày tại huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh

Chương này tập trung trình bày bức tranh tổng thể về địa lý, lịch sử, kinh tế - xã hội và diện mạo văn hóa của người Tày tại Bình Liêu. Huyện Bình Liêu nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Quảng Ninh, có 42,7 km đường biên giới giáp Trung Quốc, diện tích tự nhiên từ 417 km² đến 471,38 km², địa hình núi non hiểm trở với các đỉnh núi tiêu biểu như Cao Xiêm (1.330 m), Cao Ba Lanh (1.050 m). Hệ thống sông suối thuộc thượng nguồn sông Tiên Yên tạo nên nhiều thác nước tự nhiên như thác Khe Vằn, Khe Tiền.

Về mặt hành chính và dân cư, huyện có 8 đơn vị hành chính trực thuộc:

STT Tên đơn vị hành chính Đặc điểm dân cư chính
1 Xã Đồng Văn Địa bàn tập trung người Dao
2 Xã Hoành Mô Khu vực có cửa khẩu Hoành Mô, tập trung người Dao, Tày
3 Xã Đồng Tâm Có mỏ khoáng sản chì, kẽm ở Ngàn Phe
4 Xã Lục Hồn Tập trung các bản làng người Tày vùng thấp
5 Xã Tĩnh Húc Khu vực cư trú lâu đời của người Tày
6 Xã Vô Ngại Có mỏ quặng bô-xít, mỏ vàng Bản Ngày
7 Xã Húc Động Tập trung đông người Sán Chay (Sán Chỉ)
8 Thị trấn Bình Liêu Trung tâm hành chính, kinh tế - thương mại huyện

Về nguồn gốc lịch sử, tác giả trích dẫn các nghiên cứu của Reversery và Voong A Sáng ghi nhận người Tày tại đây gồm hai nhóm di cư từ Quảng Đông (Trung Quốc) sang từ nhiều đời trước: nhóm Phén (từ Phòng Thành) và nhóm Thổ/Thổ Nhằn (từ Khâm Châu). Cả hai nhóm đều thống nhất trong danh xưng người Tày thuộc khối Bách Việt cổ.

Đặc trưng văn hóa người Tày Bình Liêu được hệ thống hóa qua hai nhóm thành tố:

  • Văn hóa vật thể:
    • Kiến trúc nhà ở: Nhà sàn truyền thống từ 4 đến 7 hàng cột, lợp ngói âm dương, tranh hoặc lá; bên cạnh đó có nhà đất và loại nhà phòng thú ở vùng biên giới.
    • Trang phục: Đồng nhất màu chàm từ vải sợi bông dệt, không thêu thùa hoa văn phức tạp. Nam giới mặc áo cánh 4 thân, áo dài 5 thân, quần đũng chéo, đầu quấn khăn chữ nhân. Nữ giới mặc áo cánh ngắn bên trong áo dài 5 thân cài cúc đồng/vải bên nách phải, đội khăn chàm mỏ quạ, đeo trang sức bạc đơn giản và nón lá tre mái rộng. Hoa văn ngũ sắc rực rỡ chỉ xuất hiện trên mặt chăn và các tấm vải dệt thổ cẩm.
    • Công cụ và vận chuyển: Sử dụng cày chìa vôi, bừa gỗ, máng đập lúa (loóng), cọn nước thủy lợi; phương tiện vận chuyển truyền thống chủ yếu là dùng sức người gánh bằng dậu, mang túi vải hoặc dùng trâu kéo.
  • Văn hóa phi vật thể:
    • Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng Tày thuộc ngữ hệ Thái - Kadai; chữ Nôm Tày hình thành từ thế kỷ XV trên cơ sở chữ Hán - Nôm dùng trong cúng tế, ghi chép truyện thơ.
    • Văn học nghệ thuật dân gian: Kho tàng truyện cổ, tục ngữ, dân ca phong phú; tiêu biểu là hát Lượn phong slư (thơ tình thất ngôn trường thiên) và hát Then gắn liền với nhân vật dân gian tài hoa Lô Chính từ nửa thế kỷ trước.
    • Tín ngưỡng: Không theo tôn giáo lớn, chỉ thờ cúng tổ tiên, thần Bếp (Táo quân - ống tre dán giấy đỏ cạnh bếp) và Thổ công.
    • Phong tục tập quán: Gia đình phụ hệ, đề cao quyền trưởng họ và con trai trưởng. Quy trình hôn nhân gồm 5 bước: Lễ dặm hỏi, Lễ trầu cau (nhận giấy lục mệnh 12 cung), Lễ kê khai (thách cưới), Đám cưới, Lễ lại mặt. Nghi lễ mừng thọ gồm 6 bước: Dựng lương, Chuyển lương, Dâng rượu đốt đèn, Hoàn phúc, Làm lường (buộc lương), Trồng cây mệnh (mai hoặc chuối).
    • Ẩm thực truyền thống: Xôi đăm đeng ngâm nước lá cẩm ngũ sắc, bánh chưng dài không khuôn, bánh gio chấm mật ong rừng, bánh gật gù bột gạo tẻ tráng hơi nước, món khau nhục hấp thuốc bắc, món nằm quắt từ chân giò lợn hầm rượu gừng.
    • Lễ hội truyền thống: Lễ hội Lồng Tồng (xuống đồng vào tháng Giêng, tháng Hai âm lịch), Tết cơm mới (tháng 10, tháng 11 âm lịch), hội au-pò giao duyên (ngày 14 đến 16 tháng 3 âm lịch).

Chương II: Văn hóa Then của người Tày ở huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh

Chương II phân tích chuyên sâu về bản chất, phân loại và giá trị của Then trong đời sống tâm linh cũng như tiềm năng du lịch:

  • Bản chất và cấu trúc diễn xướng Then: Then là hình thức diễn xướng tổng hợp gồm âm nhạc (đàn Tính), ca từ (làn điệu Then), vũ đạo và âm thanh của chùm xóc nhạc. Ông Then, bà Then đóng vai trò là "con trời", thực hiện các cuộc hành trình tâm linh vượt qua nhiều cung cửa (trình Thổ công, Thành hoàng, Táo quân, Tổ tiên, Khảm hải, Cửa tướng, lên phủ Ngọc Hoàng) để dâng lễ vật và chuyển tải thỉnh cầu của con người.
  • Phân loại các nghi lễ Then: Khóa luận liệt kê các nghi lễ chính gồm:
    • Then cầu an giải hạ: Diễn ra vào dịp đầu năm mới để cầu sức khỏe, giải trừ vận hạn.
    • Then Nàng Hang: Tổ chức vào dịp Tết Trung thu.
    • Then cúng mụ: Tổ chức vào dịp đầy tháng trẻ nhỏ (ngày thứ 25 đối với bé trai, ngày thứ 30 đối với bé gái).
    • Then thôi tang: Làm lễ giải tỏa tang chế sau 3 năm.
    • Lẩu Then (Lễ cấp sắc): Đại lễ lớn nhất của người thực hành Then, gồm các cấp độ: Lẩu Then khai quang, tăng sắc, khao quân, cáo lão.
  • So sánh văn hóa Then giữa các địa phương: Tác giả mở rộng so sánh với Then Hà Giang (tiêu biểu là hội Lẩu Then bjoóc mạ xã Phương Độ gồm 1 thầy Then cả, 5 thầy phụ, các nàng Hương diễn ra trong 2 ngày 1 đêm), Then Lào Cai (lễ Pang Luông tại Bảo Yên, Văn Bàn với hệ thống câu đố và làn điệu giao duyên) và Then Nùng ở Lạng Sơn (sử dụng đàn Tính kết hợp quạt trình diễn).
  • Sự chuyển biến và khả năng du lịch hóa: Từ hình thức cúng bái chữa bệnh, trừ tà mang tính khép kín trong gia đình, Then đã phát triển thành nghệ thuật diễn xướng dân gian phục vụ cộng đồng và hoàn toàn có thể dàn dựng, biểu diễn phục vụ khách du lịch trải nghiệm văn hóa bản địa.

Chương III: Thực trạng và giải pháp khai thác văn hóa Then phục vụ hoạt động du lịch tại địa phương

Chương III đánh giá thực trạng công tác bảo tồn và đề xuất các giải pháp ứng dụng:

  • Thực trạng khai thác: Hoạt động du lịch văn hóa tại Bình Liêu còn ở giai đoạn sơ khai, các buổi diễn xướng Then chủ yếu phục vụ nhu cầu tâm linh nội bộ của bà con, chưa hình thành sản phẩm du lịch hoàn chỉnh; hạ tầng lưu trú và dịch vụ bổ trợ còn thiếu thốn.
  • Định hướng giải pháp:
    • Bảo tồn vốn cổ: Sưu tầm, ghi chép lại các bài cúng, làn điệu Then cổ và truyền dạy cho thế hệ trẻ.
    • Thành lập tổ chức: Nhân rộng các câu lạc bộ hát Then - đàn Tính tại các xã, thôn bản; tổ chức giao lưu văn nghệ định kỳ tại các chợ phiên, lễ hội truyền thống.
    • Gắn kết tuyến điểm: Xây dựng các tour du lịch cộng đồng kết hợp tham quan danh thắng (thác Khe Vằn, đỉnh Cao Ba Lanh, cửa khẩu Hoành Mô) với thưởng thức ẩm thực Tày và xem trình diễn Then.
    • Liên kết chính sách: Đề nghị sự phối hợp chặt chẽ giữa Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ninh, chính quyền huyện Bình Liêu và các doanh nghiệp lữ hành để đầu tư hạ tầng, xúc tiến quảng bá di sản.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể dựa trên nguồn dữ liệu khảo cứu thực tế:

  • Cung cấp bức tranh toàn diện, có hệ thống về cơ cấu tự nhiên, dân cư (người Tày chiếm trên 50% dân số) và lịch sử di cư của cộng đồng người Tày tại 8 xã, thị trấn của huyện Bình Liêu.
  • Khảo tả chi tiết các phong tục tập quán mang tính chu kỳ đời người (hôn nhân 5 bước, mừng thọ 6 bước, sinh đẻ kiêng cữ) và tri thức dân gian ẩm thực (xôi đăm đeng, bánh chưng dài, bánh gật gù, khau nhục).
  • Làm rõ cấu trúc nghi lễ và chức năng văn hóa của nghệ thuật Then Tày, đồng thời đặt Then Bình Liêu trong mối tương quan so sánh với Then Tày - Nùng ở Hà Giang, Lào Cai và Lạng Sơn.
  • Đóng góp hệ thống đề xuất mang tính ứng dụng nhằm gắn kết bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể với chiến lược đa dạng hóa sản phẩm du lịch miền núi tỉnh Quảng Ninh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn thời gian thực tập và nguồn lực, đề tài chủ yếu khai thác tài liệu thứ cấp, văn bản lưu trữ và tổng quan định tính; chưa thực hiện được các cuộc điều tra xã hội học định lượng với mẫu khảo sát lớn về mức độ hài lòng hay nhu cầu chi tiêu của du khách đối với sản phẩm Then.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Khảo sát thực nghiệm mô hình du lịch cộng đồng (homestay) gắn với biểu diễn Then tại các bản làng người Tày ở Lục Hồn hoặc Tĩnh Húc.
    • Nghiên cứu phương pháp chuyển hóa các trích đoạn nghi lễ Then thành tiết mục sân khấu hóa thích ứng với thời lượng thưởng thức của du khách lữ hành mà không làm biến dạng giá trị tâm linh bản địa.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, giảng viên và các nhà nghiên cứu thuộc các ngành: Việt Nam học, Văn hóa du lịch, Dân tộc học, Quản trị dịch vụ du lịch và Lữ hành.

Các nội dung có giá trị tham khảo nổi bật bao gồm:

  • Toàn bộ tư liệu mô tả chi tiết các bước trong nghi lễ mừng thọ (Dựng lương, Chuyển lương, Làm lường...) và các bước nghi thức cưới hỏi cổ truyền của người Tày.
  • Tư liệu phân loại các loại hình Then (Then cầu an, Nàng Hang, Then cúng mụ, Lẩu Then) và quy trình chuẩn bị hội Lẩu Then bjoóc mạ tại vùng phụ cận.
  • Bảng dữ liệu tổng hợp về địa lý, khoáng sản, tài nguyên rừng và cơ cấu dân cư huyện Bình Liêu.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo tư liệu lịch sử trong khóa luận, người Tày ở Bình Liêu có nguồn gốc từ đâu và gồm những nhóm nào?
Theo các tài liệu lịch sử của Reversery (1905) và Voong A Sáng (1949), người Tày ở Bình Liêu gồm hai nhóm chính: nhóm Phén di cư từ huyện Phòng Thành và nhóm Thổ (Thổ Nhằn) di cư từ huyện Khâm Châu, thuộc tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) sang lập nghiệp từ nhiều đời trước, cùng thuộc khối Bách Việt cổ.

2. Điểm đặc trưng nhất trong trang phục truyền thống của người Tày ở Bình Liêu là gì?
Trang phục người Tày Bình Liêu mang tính đồng nhất cao khi chỉ sử dụng một màu chàm dệt từ sợi bông, hầu như không thêu thùa hoa văn trên áo quần. Nữ giới mặc áo dài 5 thân cài cúc bên nách phải, bên trong mặc áo lót trắng, đội khăn chàm mỏ quạ; hoa văn ngũ sắc chỉ được thể hiện trên mặt chăn và thổ cẩm.

3. Nghi lễ mừng thọ của người Tày ở Bình Liêu gồm những bước thực hiện nào?
Nghi lễ mừng thọ cổ truyền gồm 6 bước tuần tự: (1) Dựng lương (lập bàn cúng và lầu váng), (2) Chuyển lương (bà Then niệm chú và truyền tay gạo, tiền vào lầu), (3) Dâng rượu, đốt đèn (con cháu dâng lễ, đốt đèn tượng trưng cho tinh anh), (4) Hoàn phúc (bà Then phát lộc gạo và tiền cho con cháu), (5) Làm lường (buộc sợi chỉ ba màu gắn lầu váng vào cây thượng lương), (6) Trồng cây mệnh (trồng cây mai hoặc chuối ngoài vườn để cầu trường thọ).

4. Khóa luận phân loại hệ thống nghi lễ Then của người Tày gồm những hình thức nào?
Hệ thống Then gồm các nghi lễ: Then cầu an giải hạ (đầu năm), Then Nàng Hang (Tết Trung thu), Then cúng mụ (đầy tháng trẻ nhỏ), Then thôi tang và đại lễ Lẩu Then (Lễ cấp sắc mở hào quang gồm các bậc: khai quang, tăng sắc, khao quân, cáo lão).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Thị Ngọc Anh đã hoàn thành việc khảo cứu toàn diện diện mạo văn hóa tộc người Tày tại huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh, đặt trọng tâm vào di sản văn hóa Then. Công trình làm rõ bản chất tín ngưỡng, giá trị nghệ thuật diễn xướng và hệ thống phong tục gắn liền với chu kỳ đời sống của cộng đồng địa phương. Các giải pháp và kiến nghị được xây dựng bám sát thực tiễn, cung cấp cơ sở tư liệu hữu ích cho công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể kết hợp định hướng phát triển du lịch bền vững tại vùng cao biên giới.