Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VÀ XÃ NINH NHẤT, THÀNH PHỐ NINH BÌNH 1. Những vấn đề chung về xây dựng đời sống văn hóa 1. Khái niệm Đời sống văn hoá là cụm từ được sử dụng rộng rãi ở nước ta vào những năm 80, 90 của thế kỷ XX, xuất hiện trong văn kiện của Đảng từ Đại hội V (1982), Đảng ta xác định rõ hơn nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hoá, nhất là đời sống văn hoá ở cơ sở, coi đó là một chủ trương quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong xây dựng văn hoá và con người: “Một nhiệm vụ của cách mạng tư tưởng và văn hóa là đưa văn hóa thâm nhập vào cuộc sống hằng ngày của nhân dân. Đặc biệt chú trọng xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, đảm bảo mỗi nhà máy, công trường, lâm trường, mỗi đơn vị lực lượng vũ trang, công an nhân dân, mỗi cơ quan, trường học, bệnh viện, cửa hàng, mỗi xã, hợp tác xã, phường ấp, đều có đời sống văn hóa” [15].
Sau Đại hội V, xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở trở thành một phong trào phát triển sâu rộng trên địa bàn dân cư, đơn vị sản xuất, công tác, học tập tác động trực tiếp đến tư tưởng, tình cảm, đạo đức và nhu cầu hưởng thụ, sáng tạo văn hoá trong đời sống của mọi tầng lớp nhân dân. Từ đó, khái niệm về đời sống văn hoá được quan tâm và đề cập đến nhiều hơn trong các văn bản pháp lý của Đảng. Năm 2009, cuốn sách Giáo trình lý luận văn hoá và đường lối văn hoá của Đảng Cộng sản Việt Nam đã luận giải: “Đời sống văn hoá chính là những hành vi sống biểu hiện một trình độ văn hoá, bao gồm các hoạt động của xã hội, của tập thể, của từng cá nhân, nhằm mục đích văn hóa hoá tức là hoàn thiện con người” [19, tr. 9 Trong công trình nghiên cứu Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta, tác giả Hoàng Vinh cho rằng: Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm các yếu tố văn hóa tĩnh tại, (các sản phẩm văn hóa) cũng như các yếu tố văn hóa động thái (con người và các dạng hoạt động văn hóa của nó).
Xét về một phương diện khác, đời sống văn hóa bao gồm các hình thức văn hóa hiện thực và cả các hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh [36, tr. Định nghĩa cơ bản phản ánh được cấu trúc của đời sống văn hóa. Tuy nhiên, với cách hiểu này, khái niệm chưa phản ánh được mối quan hệ giữa các thành tố cấu thành đời sống văn hóa và đặc biệt chưa đề cập đến những giá trị văn hóa. Tác giả Nguyễn Hữu Thức trong công trình nghiên cứu Một số kinh nghiệm quản lý và hoạt động tư tưởng văn hóa cho rằng: Đời sống văn hóa được hiểu một cách khái quát là hiện thực sinh động của các hoạt động của con người trong môi trường sống để duy trì, đồng thời tái tạo sản phẩm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần theo những giá trị và chuẩn mực xã hôi nhất định nhằm không ngừng tác động biến đổi tự nhiên, xã hội và đáp ứng nhu cầu đổi mới nâng cao chất lượng sống của chính con người [23, tr.
Quan niệm này hoàn chỉnh và khái quát những vấn đề trong nội hàm khái niệm đời sống văn hóa, là một bước tiến trong nhận thức về khái niệm đời sống văn hóa. Con người sinh ra và trưởng thành, muốn cho đời sống cá nhân được phong phú, lành mạnh thì tất yếu người đó có quan hệ đến: - Đời sống vật chất để đảm bảo yếu tố cho người đó sinh tồn. - Đời sống tinh thần nhằm thỏa mãn nhu cầu ý thức về tình cảm, lý trí, nghị lực, tư tưởng của người đó. 10 - Đời sống xã hội để hình thành nhân cách con người.
Bản thân mỗi người đều muốn sống với cộng đồng, thông qua cộng đồng để chứng minh, khẳng định phẩm chất, năng lực của mình và hoàn thiện bản thân. Nhằm làm rõ thêm quan điểm của mình, tác giả Nguyễn Hữu Thức đã đưa ra một quan niệm nữa về “đời sống văn hóa” có nội dung khá tương đồng với quan niệm trên: Đời sống văn hóa được hiểu một cách khái quát là hiện thực sinh động các hoạt động của con người trong môi trường sống để duy trì, đồng thời tái tạo sản phẩm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần theo những giá trị và chuẩn mực xã hội nhất định nhằm không ngừng tác động, biến đổi tự nhiên, xã hội và đáp ứng nhu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng sống của chính con người [24, tr. Qua các quan điểm trên học viên đồng tình với những khái niệm mà các tác giả đã phân tích. Hiểu rõ hơn về đời sống văn hóa có thể hiểu đó là tất cả những hoạt động của con người tác động vào đời sống vật chất, đời sống tinh thần, đời sống xã hội để hướng con người vươn lên theo qui luật của cái đúng, cái đẹp, cái tốt phù hợp với phong tục tập quán của địa phương, thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam, góp phần nuôi dưỡng đời sống tinh thần của nhân dân thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.
Cũng có nhiều nghiên cứu đã phân tích đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội của con người, thể hiện chất lượng sống của con người. Đời sống văn hóa hình thành muộn hơn đời sống sinh học nhưng dần dần đã trở thành quan trọng không kém gì đời sống sinh học. Thiếu đời sống sinh học, con người không thể tồn tại nhưng nếu thiếu đời sống văn hóa, con người không thể phát triển và nâng cao chất lượng sống. 11 Từ những phân tích nêu trên, tác giả cho rằng: Đời sống văn hóa bao gồm các hoạt động của con người trong môi trường sống để duy trì hoạt động sống thường ngày, đồng thời tái tạo các sản phẩm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần theo những giá trị và chuẩn mực xã hội nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng sống của chính con người.
Cấu trúc đời sống văn hóa Từ khái niệm đời sống văn hóa và các tài liệu tổng hợp có liên quan đến đời sống văn hóa, tác giả nhận thấy đời sống văn hóa được hình thành bởi nhiều yếu tố tạo thành một hệ thống giá trị bao gồm: Hệ thống những giá trị văn hóa, hệ thống những quan hệ văn hóa và hệ thống những thiết chế văn hóa. Mỗi hệ thống đều có quá trình phát triển không ngừng và không theo một khuôn phép nhất định, cụ thể như sau: Hệ thống những giá trị văn hóa: Văn hóa bao giờ cũng là một hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn, đời sống văn hóa phản ánh sự sáng tạo và những tác động của giá trị thông qua đời sống con người. Giá trị văn hóa là sự kết tinh những thành tựu của con người trong quá trình hoạt động thực tiễn và những sáng tạo ra chính bản thân mình. Đó là những phẩm chất cao quý, có ý nghĩa tạo dựng nên vẻ đẹp truyền thống, bản sắc dân tộc như: Tinh thần đoàn kết, lòng yêu nước, thương người “lá lành đùm lá rách”, đức tính hy sinh ở người phụ nữ Việt Nam… Bên cạnh giá trị về nhân cách, các giá trị văn hóa vật thể như các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, đường làng, ngõ xóm, hiệu quả lao động sản xuất.
và những giá trị văn hóa phi vật thể như: Phong tục tập quán, tín ngưỡng. Những giá trị văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể đều tồn tại trong cộng đồng dân cư và là những thành tố quan trọng trong việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. 12 Hệ thống những giá trị văn hóa là nền tảng để triển khai các nội dung của hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Hệ thống những quan hệ văn hóa: Đời sống là sự đan xen những mối quan hệ của con người như mối quan hệ trong gia đình, làng xóm, quê hương, đất nước… trong tất cả những quan hệ ấy đều tồn tại các giá trị văn hóa đó là văn hóa ứng xử.
Trong đời sống văn hóa, quan hệ văn hóa thể hiện những cách thức ứng xử theo khuôn mẫu nhất định sao cho phù hợp với phong tục tập quán của địa phương. Những chuẩn mực, giá trị văn hóa đưa vào quan hệ ứng xử càng nhuần nhuyễn thì đời sống xã hội càng giàu chất văn hóa để con người hòa đồng, gắn kết lại với nhau, giữ thuần phong mỹ tục của truyền thống - bản sắc dân tộc trong ứng xử với cộng đồng và làm tròn vai trò một nhân cách văn hóa cao đẹp đối với chính mình. Những quan hệ văn hóa này tạo nên nét đẹp trong cộng đồng, gắn kết người với người trong tổng hòa các quan hệ xã hội tạo thành một nét truyền thống trong đời sống văn hóa. Hệ thống những quan hệ văn hóa luôn chứa đựng những giá trị văn hóa và hợp thành nền tảng của đời sống văn hóa.
Hệ thống các hoạt động văn hóa: Hoạt động văn hóa mang ý nghĩa rất rộng lớn vì nó phản ánh tổng thể nhiều giá trị trong hoạt động tinh thần của con người, có thể hiểu các hoạt động văn hóa trong đời sống văn hóa là những hoạt động sáng tạo của con người mang lại giá trị chân thiện mỹ. Hoạt động văn hóa là hoạt động đáp ứng trực tiếp nhu cầu văn hóa của nhân dân. Đời sống văn hóa lành mạnh, phong phú được biểu hiện ở các hoạt động văn hóa, mức độ tham gia của người dân, nó gồm những hoạt động cơ bản như: Hoạt động câu lạc bộ, hoạt động văn nghệ quần chúng, hoạt động thể dục thể thao, vui chơi giải trí … 13 Hệ thống những thiết chế văn hóa: Thiết chế văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu sáng tạo, học tập, trao đổi, hưởng thụ, gìn giữ văn hóa, luyện tập thể dục thể thao của các tầng lớp nhân dân. Cơ sở vật chất của hệ thống thiết chế văn hóa tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân thường xuyên đến sinh hoạt, trao đổi thông tin, rèn luyện thân thể để có sức khỏe làm việc, lao động, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, học hỏi lẫn nhau và thắt chặt thêm tình đoàn kết.
Những điều này sẽ không có được nếu hệ thống thiết chế văn hóa yếu kém, thiếu thốn, lạc hậu, tạm bợ.