Đảng Lao Động Việt Nam và nhiệm vụ quân sự tại Campuchia giai đoạn 1970-1975

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh đảng lao động việt nam lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quốc tế về quân sự tại campuchia 1970 1975, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2015

117
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐỐI VỚI THỰC HIỆN NHIỆM VỤ QUỐC TẾ VỀ QUÂN SỰ TẠI CAMPUCHIA TỪ NĂM 1970 ĐẾN NĂM 1971

1.1. Khái quát sự lãnh đạo của Đảng đối với thực hiện nhiệm vụ quốc tế về quân sự tại Campuchia trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

1.2. Yêu cầu liên minh chiến đấu và quan hệ đoàn kết chiến đấu Việt Nam – Campuchia

1.3. Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quốc tế về quân sự tại Campuchia trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp

1.4. Đảng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quốc tế về quân sự tại Campuchia trong những năm đầu khi Mỹ mở rộng chiến tranh sang Campuchia (1970-1971). Tính toán chiến lược, kế hoạch quân sự của Mỹ và chủ trương của Đảng Lao động Việt Nam

1.5. Đảng chỉ đạo từng bước đánh bại các cuộc tiến công của Mỹ, mở rộng vùng giải phóng, đưa cách mạng Campuchia tiến lên

1.6. Tiểu kết chương

2. CHƯƠNG 2: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐỐI VỚI THỰC HIỆN NHIỆM VỤ QUỐC TẾ VỀ QUÂN SỰ TẠI CAMPUCHIA TỪ NĂM 1972 ĐẾN NĂM 1975

2.1. Những nhân tố mới tác động đến sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam

2.2. Tình hình chiến trường Đông Dương và Campuchia

2.3. Đông Dương và Campuchia trong tính toán chiến lược của Mỹ trong giai đoạn mới

2.4. Chủ trƣơng và sự chỉ đạo của Đảng Lao động Việt Nam

2.4.1. Chủ trương của Đảng

2.4.2. Chỉ đạo thực hiện

2.5. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM

3.1. Về hạn chế

3.2. Phải luôn nhận thức vai trò quan trọng của sự liên minh đoàn kết chiến đấu ba nước trong sự nghiệp cách mạng ở Đông Dương

3.3. Phải luôn tuân thủ những nguyên tắc có tính bất biến trong việc giúp đỡ lực lượng cách mạng Campuchia

3.4. Phải luôn chú trọng công tác tham mưu, nhạy bén tình hình, biết phát huy tác dụng của hậu phương, hậu cần tại chỗ đưa cách mạng hai nước đi đến thắng lợi cuối cùng

3.5. Tiểu kết chương

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về lãnh đạo Đảng Lao Động Việt Nam trong nhiệm vụ quân sự tại Campuchia 1970 1975

Giai đoạn 1970-1975 là thời kỳ quan trọng trong lịch sử quan hệ Việt Nam - Campuchia, đặc biệt là trong bối cảnh chiến tranh. Đảng Lao Động Việt Nam đã đóng vai trò lãnh đạo chủ chốt trong việc thực hiện nhiệm vụ quân sự tại Campuchia. Sự lãnh đạo này không chỉ thể hiện qua các quyết sách chiến lược mà còn qua việc xây dựng mối quan hệ đoàn kết giữa hai nước. Trong bối cảnh Mỹ mở rộng chiến tranh sang Campuchia, Đảng đã nhanh chóng điều chỉnh chiến lược để hỗ trợ cách mạng Campuchia, từ đó tạo ra những bước tiến quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

1.1. Bối cảnh lịch sử và chính trị tại Campuchia 1970 1975

Tình hình chính trị tại Campuchia trong giai đoạn này rất phức tạp. Sau khi Mỹ lật đổ Quốc trưởng Sihanúc, đất nước rơi vào hỗn loạn. Đảng Lao Động Việt Nam đã nhận thức rõ ràng về tầm quan trọng của việc hỗ trợ cách mạng Campuchia để ngăn chặn sự bành trướng của Mỹ. Sự can thiệp quân sự của Mỹ đã tạo ra một bối cảnh khẩn cấp, đòi hỏi Đảng phải có những quyết định kịp thời và chính xác.

1.2. Vai trò của Đảng Lao Động Việt Nam trong việc hỗ trợ quân sự

Đảng Lao Động Việt Nam đã triển khai nhiều biện pháp hỗ trợ quân sự cho Campuchia, bao gồm việc cử quân tình nguyện và chuyên gia quân sự. Những nỗ lực này không chỉ giúp củng cố lực lượng cách mạng Campuchia mà còn tạo ra một liên minh vững chắc giữa hai nước. Sự hỗ trợ này đã góp phần quan trọng vào việc đánh bại các cuộc tấn công của Mỹ và lực lượng phản động tại Campuchia.

II. Những thách thức trong lãnh đạo quân sự của Đảng Lao Động Việt Nam tại Campuchia

Mặc dù có nhiều thành công, nhưng Đảng Lao Động Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình lãnh đạo quân sự tại Campuchia. Những thách thức này bao gồm sự khác biệt về chiến lược giữa hai nước, sự can thiệp của Mỹ và sự nổi lên của các lực lượng phản động như Pôn Pốt. Đảng đã phải tìm cách điều chỉnh chiến lược để đối phó với những tình huống bất ngờ và phức tạp.

2.1. Sự khác biệt trong chiến lược giữa Việt Nam và Campuchia

Mặc dù có sự đoàn kết, nhưng vẫn tồn tại những khác biệt trong cách tiếp cận chiến lược giữa Đảng Lao Động Việt Nam và lực lượng cách mạng Campuchia. Những khác biệt này đôi khi dẫn đến những hiểu lầm và mâu thuẫn trong quá trình phối hợp chiến đấu.

2.2. Can thiệp quân sự của Mỹ và tác động đến chiến lược

Sự can thiệp quân sự của Mỹ đã tạo ra một áp lực lớn lên cả hai nước. Đảng Lao Động Việt Nam phải đối mặt với việc điều chỉnh chiến lược để ứng phó với các cuộc tấn công của Mỹ, đồng thời duy trì sự hỗ trợ cho cách mạng Campuchia. Điều này đòi hỏi sự linh hoạt và nhạy bén trong lãnh đạo.

III. Phương pháp lãnh đạo của Đảng Lao Động Việt Nam trong nhiệm vụ quân sự tại Campuchia

Đảng Lao Động Việt Nam đã áp dụng nhiều phương pháp lãnh đạo khác nhau để thực hiện nhiệm vụ quân sự tại Campuchia. Những phương pháp này bao gồm việc xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với lực lượng cách mạng Campuchia, tổ chức các chiến dịch quân sự phối hợp và phát triển các chiến lược thông tin để nâng cao nhận thức về tình hình chiến trường.

3.1. Xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với lực lượng cách mạng Campuchia

Đảng đã chú trọng đến việc xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với các lực lượng cách mạng Campuchia. Điều này không chỉ giúp tăng cường sức mạnh quân sự mà còn tạo ra sự đoàn kết vững chắc giữa hai nước. Các cuộc họp thường xuyên và các hoạt động giao lưu đã được tổ chức để củng cố mối quan hệ này.

3.2. Tổ chức các chiến dịch quân sự phối hợp

Đảng Lao Động Việt Nam đã tổ chức nhiều chiến dịch quân sự phối hợp với lực lượng cách mạng Campuchia. Những chiến dịch này không chỉ nhằm mục đích tiêu diệt kẻ thù mà còn để củng cố tinh thần chiến đấu của quân đội hai nước. Sự phối hợp này đã mang lại nhiều thắng lợi quan trọng trong cuộc kháng chiến.

IV. Kết quả và ứng dụng thực tiễn từ nhiệm vụ quân sự tại Campuchia

Kết quả của nhiệm vụ quân sự tại Campuchia đã mang lại nhiều bài học quý giá cho Đảng Lao Động Việt Nam. Những thành công trong việc hỗ trợ cách mạng Campuchia không chỉ giúp củng cố mối quan hệ giữa hai nước mà còn tạo ra những kinh nghiệm quý báu cho các cuộc kháng chiến sau này. Những bài học này vẫn còn giá trị cho đến ngày nay trong việc xây dựng mối quan hệ quốc tế.

4.1. Những bài học kinh nghiệm từ nhiệm vụ quân sự

Nhiệm vụ quân sự tại Campuchia đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm cho Đảng Lao Động Việt Nam. Những bài học này bao gồm tầm quan trọng của sự đoàn kết, sự linh hoạt trong chiến lược và khả năng ứng phó với các tình huống bất ngờ. Những kinh nghiệm này đã được áp dụng trong các cuộc kháng chiến sau này.

4.2. Tác động đến quan hệ Việt Nam Campuchia hiện nay

Kết quả của nhiệm vụ quân sự tại Campuchia đã tạo ra một nền tảng vững chắc cho mối quan hệ Việt Nam - Campuchia hiện nay. Sự đoàn kết và hợp tác giữa hai nước vẫn tiếp tục được duy trì và phát triển, góp phần vào sự ổn định và phát triển của khu vực.

V. Kết luận về vai trò của Đảng Lao Động Việt Nam trong nhiệm vụ quân sự tại Campuchia

Đảng Lao Động Việt Nam đã thể hiện vai trò lãnh đạo quan trọng trong nhiệm vụ quân sự tại Campuchia từ năm 1970 đến 1975. Những quyết định kịp thời và chính xác của Đảng đã giúp củng cố mối quan hệ giữa hai nước và tạo ra những thắng lợi quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Kinh nghiệm từ giai đoạn này vẫn còn giá trị cho đến ngày nay, góp phần vào việc xây dựng mối quan hệ quốc tế bền vững.

5.1. Tầm quan trọng của sự lãnh đạo trong bối cảnh chiến tranh

Sự lãnh đạo của Đảng Lao Động Việt Nam trong bối cảnh chiến tranh đã chứng minh tầm quan trọng của việc có một chiến lược rõ ràng và sự đoàn kết giữa các lực lượng cách mạng. Điều này đã giúp tạo ra những thắng lợi quan trọng trong cuộc kháng chiến.

5.2. Hướng đi tương lai cho quan hệ Việt Nam Campuchia

Mối quan hệ Việt Nam - Campuchia cần tiếp tục được củng cố và phát triển trong bối cảnh mới. Những bài học từ giai đoạn 1970-1975 sẽ là nền tảng cho sự hợp tác bền vững giữa hai nước trong tương lai.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng Lao động Việt Nam đối với thực hiện nhiệm vụ quốc tế về quân sự tại Campuchia từ năm 1970 đến năm 1971. Sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam đối với thực hiện nhiệm vụ quốc tế về quân sự tại Campuchia từ năm 1972 đến năm 1975. Nhận xét và một số kinh nghiệm 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐỐI VỚI THỰC HIỆN NHIỆM VỤ QUỐC TẾ VỀ QUÂN SỰ TẠI CAMPUCHIA TỪ NĂM 1970 ĐẾN NĂM 1971 1.

Khái quát sự lãnh đạo của Đảng đối với thực hiện nhiệm vụ quốc tế về quân sự tại Campuchia trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1. Yêu cầu liên minh chiến đấu và quan hệ đoàn kết chiến đấu Việt Nam – Campuchia Việt Nam và Campuchia là hai quốc gia cùng nằm trên bán đảo Đông Dương, với vị trí liền kề sông núi. Trong suốt chiều dài lịch sử, nhân dân hai nước Việt Nam-Campuchia đã có mối quan hệ giao lưu, gắn bó mật thiết với nhau, hai dân tộc cùng dựng nước, giữ nước và ngày nay đang trên đường phát triển kinh tế xã hội. Giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược Đông Dương, các quốc gia trên bán đảo Đông Dương không bắt kịp với xu thế của lịch sử (đã phát triển sang giai đoạn mới) để đổi mới, canh tân đất nước, giữ gìn nền độc lập, tự chủ, khiến đất nước nhanh chóng bị rơi vào tay thực dân phương Tây.

Đây cũng là xu thế khó tránh khỏi lúc đó (thực dân phương Tây có sự lớn mạnh của khoa học kỹ thuật và quân sự đã nhanh chóng chia nhau chiếm các nước trên thế giới làm thuộc địa). Khởi đầu là việc Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ (1858), nhanh chóng chiếm trọn các tỉnh Nam Bộ của Việt Nam, sau đó tràn sang xâm chiếm Vương quốc Campuchia (1863), rồi tiến đánh Trung Bộ, Bắc Bộ hoàn thành xâm lược Việt Nam (1884) và cuối cùng xâm chiếm Lào (1893). Từ đó, số phận của nhân dân ba nước Đông Dương đã gắn liền làm một, đều chịu cảnh thân phận nô lệ của thực dân Pháp. Tuy nhiên, với lòng yêu nước nồng nàn, niềm tự tôn dân tộc và tinh thần đấu tranh cách mạng, có chung một kẻ thù nên ngay từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nhân dân hai nước Việt Nam, Campuchia nói riêng và cả nhân dân Lào nói chung đã cùng nhau đứng lên tiến hành nhiều cuộc khởi nghĩa đánh đuổi thực dân Pháp 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xâm lược1.

Dù rằng ý niệm về sự liên minh quốc tế, sự đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung chưa được định hình rõ ràng trong tư tưởng những người yêu nước Việt Nam và Campuchia. Kết cục chung của những cuộc tranh đấu ấy đều nhanh chóng rơi vào thất bại, nguyên nhân là do các phong trào yêu nước thời kỳ này diễn ra lẻ tẻ, chưa kết thành một phong trào rộng lớn, thiếu một đường lối đúng đắn, phù hợp với thời đại nên chưa phát động được sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân đứng lên đấu tranh. Chính sự tự phát, liên minh đoàn kết chiến đấu đó, đã tạo tiền đề cho sự liên minh quốc tế sau này khi có Đảng lãnh đạo. Trong lúc cách mạng Đông Dương đang khủng hoảng về đường lối, ở nước Nga vào năm 1917, với sự thành công của Cách mạng tháng Mười đã mở ra một kỷ nguyên mới, định hướng cho phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trên toàn thế giới.

Trước những đòi hỏi bức thiết của lịch sử, trải qua quá trình vận động của Nguyễn Ái Quốc, đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, đến tháng 10 năm 1930 đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương (tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Đảng Nhân dân Campuchia ngày nay), đã đáp ứng nhiệm vụ lãnh đạo nhân dân các nước Đông Dương đứng lên đấu tranh, giành độc lập dân tộc. Ngay tại Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (10/1930) ngoài việc thông qua Luận cương chính trị, Hội nghị đã nhất trí ra “Án nghị quyết” về tình hình hiện tại ở Đông Dương và nhiệm vụ cần kíp của Đảng, trong đó nêu rõ: nhiệm vụ chính trị của Đảng chiếu theo tình hình chính trị hiện tại ở Đông Dương là phải khuếch trương phong trào đấu tranh cho đều khắp xứ Đông Dương, phải làm cho phong trào đấu tranh ở những chỗ đã có được thêm sâu, thêm mạnh và phải hết sức làm cho phong trào cách mạng lan rộng ra những chỗ chưa có. Đồng thời phân tích, ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia đều là thuộc địa của Pháp. Ba dân tộc khác nhau nhưng cùng chung một ách thống trị của thực dân Pháp, có 1 Điển hình như: trong những năm 1863-1888, các cuộc khởi nghĩa chống Pháp của nhân dân vùng đồng bằng sông Cửu Long (Việt Nam) đã có sự liên kết nhất định với nhân dân phía Đông Campuchia.

Nhiều đội nghĩa quân của hai nước hoạt động dọc biên giới Việt Nam, Campuchia như cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Achaxoa, Pôkum Bô năm 1864 ở tỉnh Prây Viêng (Campuchia), có sự phối hợp chiến đấu của nghĩa quân Trương Quyền ở Tây Ninh (Việt Nam) đã giành được thắng lợi lớn làm nức lòng binh sĩ. Thừa thắng PôKum Bô kéo quân về Campuchia tấn công hết vị trí này đến vị trí khác, uy hiếp thành phố Phnôm Pênh. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan hệ mật thiết với nhau về chính trị, kinh tế, địa lý, do đó cần phải liên kết chặt chẽ với nhau, đoàn kết và thống nhất hành động để chống Pháp [63, tr. “Án nghị quyết” của Trung ương Đảng đã đề ra những nhiệm vụ căn bản cho toàn Đảng và nhân dân Đông Dương phát huy được sức mạnh đoàn kết của nhân dân ba nước, là bước ngoặt quyết định cho phong trào cách mạng của mỗi nước và sự liên minh cách mạng Việt Nam-Lào-Campuchia vì một mục tiêu chung.

Ngay sau khi thành lập Đảng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương giao cho tổ chức Cộng sản các xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ có trách nhiệm giúp đỡ xây dựng cơ sở cách mạng, chi bộ Đảng ở Lào và Campuchia. Tại Campuchia các cơ sở quần chúng cách mạng, các chi bộ Đảng lần lượt được xây dựng ở Phnôm Pênh, Côngpông Chàm, Báttambang… Từ đây, liên minh chiến đấu giữa cách mạng Việt Nam-Campuchia thực sự được hình thành, gắn bó chặt chẽ với nhau. Những năm tiếp theo, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân phát triển rầm rộ trên cả ba nước Đông Dương. Tháng 9 năm 1939, Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra có tác động mạnh mẽ tới cách mạng Đông Dương, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 6 Đảng Cộng sản Đông Dương (11/1939) nêu rõ: Xứ Đông Dương có nhiều dân tộc, trong đó có ba dân tộc Việt Nam, Lào, Miên ở ba xứ khác nhau và đã từng có một lịch sử văn hóa riêng.

Nghị quyết nhấn mạnh: Ở Đông Dương, không dân tộc nào có thể giải phóng riêng rẽ, vì Đông Dương dưới quyền thống nhất của đế quốc về mặt chính trị, kinh tế và binh bị. Song các dân tộc Đông Dương không nhất thiết phải thành lập một quốc gia duy nhất vì các dân tộc Việt Nam, Miên, Lào xưa nay vẫn có sự độc lập. Mỗi dân tộc có quyền quyết định vận mệnh mình theo ý muốn của mình. Theo đó, Nghị quyết đặt ra yêu cầu phải chú ý gây dựng cơ sở Đảng, cơ sở cách mạng ở Lào và Campuchia để cùng phối hợp hành động với cách mạng Việt Nam [64, tr.

Tháng 5 năm 1941, Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 8, họp tại Pắc Pó-Cao Bằng, dưới sự chủ tọa của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, đã xác định nhiệm vụ trước mắt: tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, đánh đuổi Pháp, Nhật, chủ trương thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Minh), đồng thời tích cực giúp đỡ Lào và Campuchia thành lập Ai Lao độc lập đồng minh và Cao Miên độc lập đồng minh, tiến tới thành lập Mặt trận thống nhất toàn Đông Dương để đấu tranh giành độc lập cho mỗi nước. Điều này đã thể hiện sự sáng tạo to lớn của Đảng trong việc kết hợp dân tộc và giai cấp, quốc gia và quốc tế, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế đối với việc thực hiện nghĩa vụ quốc tế của dân tộc Việt Nam với dân tộc Lào và Campuchia anh em, góp phần làm phong phú thêm lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác- Lênin, thực hiện lời kêu gọi “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại” trong điều kiện cụ thể của Đông Dương. Nhưng do những điều kiện chủ quan và khách quan cụ thể của mỗi nước nên phong trào cách mạng ở các nước Đông Dương phát triển không đồng đều với nhau. Ngày 12 tháng 3 năm 1945, Quốc vương Nôrôđôm Sihanúc tuyên bố “Vương quốc Campuchia từ nay là một quốc gia độc lập”.

Tháng 8 năm 1945, cách mạng Việt Nam giành được thắng lợi, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (2/9/1945). Đến ngày 12 tháng 10 năm 1945, nhân dân Lào cũng giành được chính quyền, chính phủ độc lập Lào ra mắt quốc dân đồng bào tại thủ đô Viêng Chăn. Công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc ở ba nước Đông Dương đến đây hoàn thành, đem lại quyền tự do, tự chủ cho người dân ở mỗi nước. Thời kỳ này, cách mạng ở ba nước dù ở vào tình cảnh khó khăn, gian khổ, phải chịu những hi sinh, tổn thất, nhưng chính trong khó khăn ấy, tình đoàn kết, liên minh chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương nói chung và nhân dân Việt Nam-Campuchia nói riêng càng được gắn bó, tạo tiền đề cách mạng cho giai đoạn sau.

Như vậy, trải qua những thăng trầm của lịch sử, nhân dân hai nước có chung một kẻ thù, chung niềm khao khát giải phóng dân tộc, giành lại nền độc lập cho Tổ quốc. Điều đó là cơ sở vững chắc cho sự liên minh chiến đấu và tình đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc Việt Nam-Campuchia, Campuchia-Việt Nam. Mối tình đoàn kết ấy được hình thành không phải do ý muốn chủ quan, tự phát của bất kỳ bên nào, cũng không phải là hiện tượng nhất thời; mà đó là một tất yếu lịch sử, được bắt nguồn từ vị trí địa chiến lược, từ bản chất nhân văn, nhu cầu bức thiết của lịch sử trong tiến trình dựng nước và giữ nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ