Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp Chính sách phát triển thủy quân của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong thế kỉ XVI-XVIII của tác giả Lê Thị Kiều (ngành Việt Nam học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQGHN, 2018) thuộc loại hình nghiên cứu lịch sử chuyên đề, dựa trên phương pháp khảo cứu và phân tích - tổng hợp sử liệu.

Giai đoạn cuối thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII chứng kiến những biến động chính trị sâu sắc tại Việt Nam sau sự suy thoái của nhà Lê sơ, dẫn tới cục diện chiến tranh Nam - Bắc triều (Lê - Mạc) và sau đó là cuộc phân tranh Trịnh - Nguyễn (1627-1672). Năm 1558, Đoan quốc công Nguyễn Hoàng theo lời khuyên của Nguyễn Bỉnh Khiêm ("Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân") đã xin vào trấn thủ xứ Thuận Hóa, mở đầu quá trình xây dựng cơ đồ độc lập của họ Nguyễn. Trong bối cảnh phải đối đầu quân sự với chúa Trịnh ở phía Bắc và thực hiện công cuộc Nam tiến mở rộng lãnh thổ về phương Nam, chính quyền Đàng Trong đứng trước yêu cầu cấp thiết phải xây dựng một lực lượng quân sự mạnh. Điều kiện tự nhiên của Đàng Trong với bờ biển kéo dài, mạng lưới sông ngòi chia cắt và địa hình núi cao hiểm trở chạy sát ra biển đã thúc đẩy các chúa Nguyễn lựa chọn thủy quân làm lực lượng nòng cốt.

Tác giả xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ bối cảnh khu vực, đặc điểm vị trí địa lý, văn hóa nước và nguồn tài nguyên thiên nhiên thúc đẩy chúa Nguyễn hoạch định chính sách phát triển thủy quân.
  2. Phân định và lý giải toàn diện hệ thống chính sách của chúa Nguyễn: từ phép tuyển mộ, phép duyệt binh, tổ chức quản lý, huấn luyện thao diễn đến kỷ luật quân đội và chế độ đãi ngộ.
  3. Phân tích các hoạt động chức năng của thủy quân và lực lượng bán quân sự như truyền tin, vận tải quân lương, cứu nạn trên biển và thực thi chủ quyền biển đảo.
  4. Đưa ra các nhận định tổng quát về ưu điểm, hạn chế của chính sách và khảo cứu các trận đánh lớn làm minh chứng cho hiệu quả thực tế.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các chính sách xây dựng và phát triển lực lượng thủy quân của chính quyền chúa Nguyễn. Phạm vi không gian bao quát toàn bộ lãnh thổ xứ Đàng Trong (từ Thuận Hóa đến Nam Bộ ngày nay); phạm vi thời gian tập trung từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, trải qua 9 đời chúa Nguyễn từ Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1558-1613) đến chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận lịch sử quân sự Đàng Trong thông qua việc xử lý, đối chiếu đa tầng các nguồn sử liệu thành văn:

  • Nguồn chính sử Việt Nam: Phủ biên tạp lục (Lê Quý Đôn), Đại Nam thực lục (Quốc sử quán triều Nguyễn), Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử ký tiền biên, Nam triều công nghiệp diễn chí.
  • Nguồn ghi chép của người nước ngoài: Hồi ký và du ký của các giáo sĩ, thương nhân phương Tây và phương Đông từng đến Đàng Trong như Cristophoro Borri (Xứ Đàng Trong năm 1621), Thích Đại Sán (Hải ngoại kỷ sự, 1695), Alexandre de Rhodes (Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài, Hành trình và truyền giáo), John Barrow (du hành 1792-1793), Thomas Bowyear (1695), François-Timoléon de Choisy (1685), Louis Cadière (Những người bạn cố đô Huế).
  • Nguồn nghiên cứu hiện đại: Các công trình của Li Tana, Phạm Văn Thủy, Trần Đức Anh Sơn, Trần Nam Tiến, Nguyễn Quang Ngọc, Trịnh Ngọc Thiện, Vũ Thị Xuyến.

Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành:

  • Phương pháp khảo cứu và xử lý tư liệu lịch sử: Thu thập, phân loại, giám định độ tin cậy của các nguồn sử liệu sơ cấp và thứ cấp.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tích từng nội dung chính sách (tuyển quân, duyệt binh, đãi ngộ) và tổng hợp thành bức tranh toàn cảnh về tổ chức quân đội.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu lịch sử: Đối chiếu lực lượng, kỹ thuật đóng thuyền, chính sách trả lương giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài; so sánh chiến thuyền Đàng Trong với tàu chiến phương Tây.
  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp tri thức lịch sử với địa lý học quân sự và văn hóa học biển miền Trung.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tiền đề phát triển thủy quân ở Đàng Trong

Chương 1 làm rõ các yếu tố nền tảng về chính trị, địa lý và kỹ nghệ đóng tàu tạo tiền đề cho sự xác lập lực lượng thủy quân:

  • Bối cảnh lịch sử và phân chia hành chính: Khủng hoảng nhà Lê sơ dẫn đến sự tiếm quyền của nhà Mạc (1527) và thời kỳ Lê trung hưng (1533). Mâu thuẫn giữa Trịnh Kiểm và anh em Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng dẫn đến việc Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa năm 1558. Đến đời chúa Nguyễn Phúc Nguyên, Đàng Trong được chia thành 12 dinh và 1 trấn: Dinh Bố Chính (dinh Ngói), Dinh Quảng Bình, Dinh Lưu Đồn (dinh Mười), Cựu dinh Ái Tử, Chánh dinh, Dinh Quảng Nam, Dinh Bình Khương, Dinh Bình Thuận, Dinh Trấn Biên, Dinh Phiên Trấn, Dinh Long Hồ và Trấn Hà Tiên.
  • Đặc điểm vị trí địa lý và giao thông: Đàng Trong là dải đất hẹp ngang, trải dài, phía Tây là dãy Trường Sơn chia cắt địa hình, phía Đông là đường bờ biển dài. Các dòng sông lớn như Bến Hải, Thạch Hãn, sông Hương, Vu Gia, Thu Bồn, Kone, sông Ba, sông Cái Nha Trang đóng vai trò huyết mạch giao thông và phòng thủ. Giao thông giữa các phủ phần lớn phải qua đường biển và cửa biển. Các chúa Nguyễn đã chỉ đạo đào, nạo vét nhiều kênh đào như kênh Hồ Xá, kênh Trung Đan (1681), kênh Mai Xá (1681), kênh Hà Kỳ (1686) để phục vụ lưu thông thuyền bè. Thủy quân Đàng Trong vì thế phát triển mang thiên hướng hải quân biển thay vì thuần túy nội thủy như Đàng Ngoài.
  • Kỹ nghệ đóng thuyền và chính sách công tượng: Ngành đóng tàu là ngành độc quyền của nhà nước do chúa Nguyễn đích thân kiểm soát và chỉ đạo kỹ thuật. Thợ đóng thuyền giỏi từ các địa phương được huy động về Phú Xuân và biên chế vào các ty chuyên trách: ty thợ đóng thuyền, ty thợ mộc thuyền (xẻ ván), ty thợ làm đinh sắt, ty thợ làm mái chèo, ty thợ làm buồm, ty thợ hóa luân (chuyên đóng tàu lớn). Nguồn lâm sản dồi dào với các loại gỗ kiền kiền, hoa lê, giáng hương, gỗ trò, mù u được khai thác quy củ. Năm 1729, chúa Nguyễn Phúc Khoát lập đội Mộc than ở Trường Đúc gồm 195 người chuyên khai thác gỗ.
  • Kỹ thuật và quy mô chiến thuyền: Kỹ thuật đóng tàu Đàng Trong có đặc điểm chia đáy thuyền thành nhiều khoang chống chìm. Chúa Nguyễn cho trục vớt hai tàu Hà Lan bị đắm (Eulden Buis và Maria de Madicis) tại Cù Lao Chàm vào tháng 11 năm 1641 để nghiên cứu kỹ thuật đóng tàu châu Âu. Xưởng đóng tàu lớn nhất đặt tại Hà Mật (Quảng Nam) tập trung 4.000 thợ, có khả năng đóng chiến thuyền trọng tải tới 400 tấn.
Nguồn ghi chép / Tác giả Thời gian Quy mô lực lượng / Số lượng tàu thuyền ghi nhận
Đại Nam thực lục 1653 (duyệt binh An Cựu) 22.740 quân chính quy, hơn 300 thuyền và chiến thuyền
Alexandre de Rhodes Thế kỷ XVII Ước tính Đàng Trong có ít nhất 200 thuyền chiến trang bị hỏa lực mạnh
Hồ sơ phủ Chúa 1674 133 chiến thuyền do các xưởng trực thuộc phủ Chúa đóng
Francois-Timoléon de Choisy 1685 Dinh Cát có 30 chiến thuyền, Dinh Chiêm có 17 chiếc, Dinh Niaroux (Phan Rang) có 15 chiếc
Thomas Bowyear 1695 200 chiến hạm (16-22 đại bác), 500 thuyền nhỏ (40-44 tay chèo), 100 thuyền lớn (50-75 tay chèo), 3 tàu kiểu Âu
John Barrow 1792-1793 26.800 lính thủy (800 xưởng thuốc súng, 8.000 thủy thủ, 1.200 lính tàu kiểu Âu, 1.600 lính thuyền mành, 800 lính trên 100 thuyền Gale)

Chương 2: Chính sách phát triển thủy quân của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong thế kỉ XVI-XVIII

Chương 2 trình bày chi tiết các chính sách tổ chức, vận hành và quản trị quân đội:

  • Phép duyệt tuyển binh: Năm 1632, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên ban hành phép "duyệt tuyển", phân loại dân đinh để tính thuế và tuyển quân theo cơ chế "quân nhân" (kết hợp công tượng và quân sự). Hằng năm vào tháng 8, các thuyền báo cáo số quân trốn/thải; đến tháng 4 năm sau tiến hành tra xét và đối chiếu sổ đinh cấp về bản xã để tuyển bù. Quy định tuyển quân có tính chất khoan thư: miễn 3 năm bắt lính cho dân mới di cư, miễn cho người già neo đơn và con một; nhà có hai con trai chỉ tuyển một người (ưu tiên con thứ). Nam giới từ 16 tuổi phải đăng ký sổ quân, nếu trốn tránh (ẩn lậu) bị phạt làm lính chăn voi.
  • Phép duyệt binh và huấn luyện: Triều đình tổ chức các đợt tổng duyệt định kỳ quy mô lớn (điển hình là cuộc đại duyệt binh tháng 3 năm 1653 tại An Cựu với hơn 22.000 quân). Binh lính luyện tập thao diễn cả ngày lẫn đêm trên các mô hình khung thuyền dựng trước nhà chỉ huy hoặc bãi đất ven sông. Dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu, quân đội ứng dụng đồng hồ châu Âu để chuẩn hóa thời gian chỉ huy (người thợ Nguyễn Văn Tú đã sao chép thành công mẫu đồng hồ này).
  • Trang bị vũ khí: Kết hợp vũ khí truyền thống (cung tên, nỏ liên châu, súng phun lửa, câu liêm, dao găm) với hỏa khí phương Tây (đại bác, súng hỏa mai). Chúa Nguyễn liên minh quân sự với Bồ Đào Nha để mua súng và thuê chuyên gia João da Cruz (Cruy-dơ) đúc súng với mức đãi ngộ 500 quan tiền/năm cùng tiền cấp dưỡng gia đình.
  • Cơ cấu tổ chức và biên chế:
Cấp bậc tổ chức Quy mô quân số / Thuyền Người chỉ huy Chức năng / Nhiệm vụ chính
Dinh (12-13 dinh) Bao gồm nhiều cơ Trấn thủ / Chưởng dinh (quan võ) Đơn vị hành chính - quân sự chiến lược khu vực
Cơ Từ 500 đến 3.000 người Cai cơ Khối tác chiến chiến thuật trung gian
Đội Gồm từ 3 đến 5 thuyền Cai đội Đơn vị phối hợp chiến đấu phân đội
Thuyền Từ 30 đến 100 lính Cai thuyền / Kì trưởng Đơn vị tác chiến cơ sở trên mặt nước
  • Lực lượng truyền tin và vận chuyển:
    • Đội Hoàng Sa: Thành lập trước năm 1631 tại xã An Vĩnh (Cù Lao Ré, Sa Kỳ, Quảng Ngãi), định suất ban đầu 70 người, luân phiên nhận giấy sai đi từ tháng 2 và trở về trình báo tại cửa Eo (Phú Xuân) vào tháng 8 hằng năm. Đội kiêm quản các đội Bắc Hải, Thanh Châu, Hải Môn; vừa thu lượm hải vật, vừa làm nhiệm vụ tuần phòng, tình báo và chống cướp biển.
    • Hệ thống vận tải quân lương: Trưng dụng thuyền buôn tư nhân thông qua các quan cai lại và cai trưng thu thuế. Chúa Hiền cho nạo vét kênh Hồ Xá (1667) để vận chuyển thóc gạo. Trên thuyền chiến cấm hoàn toàn việc đun nấu nhằm phòng tránh cháy nổ thuốc súng; nhà nước tổ chức các trạm tiếp tế lương thực chế biến sẵn dọc bờ biển.
Năm Loại sản vật thu lượm ghi nhận trong sổ của Cai đội Thuyên Đức hầu (Đội Hoàng Sa)
Nhâm Ngọ (1762) 80 hốt bạc
Giáp Thân (1764) 5.100 cân thiếc
Ất Dậu (1765) 126 hốt bạc
1769 - 1773 Đồi mồi, hải ba, bát sứ, khối thiếc và 2 khẩu súng đồng
  • Kỷ luật quân đội: Áp dụng luật im lặng tuyệt đối trên chiến thuyền; mệnh lệnh chỉ huy được truyền đạt hoàn toàn qua động tác tay hoặc nhịp đũa điều khiển của viên chỉ huy đứng ở mũi thuyền. Quy định quân phục nghiêm ngặt theo thời tiết và đơn vị (năm 1709, chúa Nguyễn xử phạt các chỉ huy nội tả, nội hữu tại trường Vạn Xuân do để quân lính mặc thường phục trong ngày trời tạnh).
  • Chính sách đãi ngộ: Quân chính quy được cấp nhà ở có vườn nhỏ gần doanh trại (khoảng cách giữa các dãy nhà là 15m), được phép sống cùng vợ con nhưng phải chấp hành nghiêm chế độ một vợ một chồng. Lương bổng cấp phát hằng tháng gồm 1 hộc gạo và 1 quan tiền (theo ghi chép của Choisy là 5 đồng bạc, 1 giạ gạo và cá khô); miễn thuế đinh. Con em binh lính được chăm lo học tập theo chế độ thưởng áo lụa, phạt áo vải gai. Lực lượng thổ binh (đội Hoàng Sa) được miễn sưu thuế, hưởng phần dư hải vật sau khi triều đình định giá và được cấp bằng chứng nhận hoàn thành nghĩa vụ.

Chương 3: Đánh giá chung

Chương 3 tổng kết toàn diện các mặt được và hạn chế của chính sách phát triển thủy quân Đàng Trong:

  • Ưu điểm: Xây dựng được lực lượng thủy quân biển chính quy, tổ chức chỉ huy quy củ từ trung ương đến địa phương; kết hợp hài hòa giữa lực lượng quân sự tập trung và dân binh tuần duyên; tiếp thu nhanh chóng công nghệ đóng tàu và kỹ thuật đúc súng phương Tây; bảo vệ vững chắc quyền kiểm soát lãnh thổ và chủ quyền biển đảo.
  • Hạn chế: Nhu cầu quân sự quá lớn trong chiến tranh liên miên dẫn đến tình trạng bắt lính nặng nề ở giai đoạn sau; chi phí nuôi dưỡng quân đội chiếm tỷ trọng ngân sách lớn gây áp lực cho kinh tế xã hội; quá trình hiện đại hóa quân đội phụ thuộc nhiều vào việc nhập khẩu vũ khí và kỹ thuật chế tác từ bên ngoài mà chưa xây dựng được nền tảng học thuyết tác chiến quân sự độc lập dài hạn.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể:

  • Làm rõ tính chất hướng biển của thủy quân Đàng Trong so với thủy quân Đàng Ngoài thông qua phân tích tương quan địa hình, kỹ thuật tàu thuyền và tổ chức đồn trú.
  • Hệ thống hóa các số liệu cụ thể về biên chế lực lượng quân sự (hơn 22.000 quân năm 1653; 200 chiến hạm năm 1695; 26.800 lính thủy cuối thế kỷ XVIII) và sản lượng thu thập của đội Hoàng Sa (giai đoạn 1762-1773) trích lục từ chính sử và du ký quốc tế.
  • Khẳng định mô hình kết hợp "kinh tế - quốc phòng - chủ quyền" độc đáo của chính quyền chúa Nguyễn thông qua việc sử dụng các đội dân binh Hoàng Sa, Bắc Hải trong việc xác lập chủ quyền biển đảo liên tục suốt thế kỷ XVII-XVIII.

Tác giả tự nêu đóng góp mới của đề tài là đã phân tích có hệ thống chính sách thủy quân Đàng Trong không chỉ ở khía cạnh quân sự đơn thuần mà đặt trong tổng thể các chính sách kinh tế công tượng, chế độ duyệt tuyển dân đinh, tổ chức trạm tiếp tế hậu cần và pháp chế kỷ luật quân đội thời chúa Nguyễn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế gắn liền với phạm vi khảo cứu tư liệu:

  • Do tính chất bí mật quân sự thời phong kiến, các nguồn sử liệu thành văn không lưu lại chi tiết bản vẽ kỹ thuật đóng thuyền chiến và công thức luyện kim đúc súng của các xưởng quân giới Đàng Trong.
  • Số liệu thống kê dân số và quân số Đàng Trong ở các thế kỷ XVII-XVIII phần lớn dựa vào ước tính của các nhà quan sát, du khách phương Tây nên chưa có sự đồng nhất tuyệt đối giữa các nguồn ghi chép.

Hướng mở rộng nghiên cứu của đề tài bao gồm việc khảo sát sâu hơn các trận thủy chiến cụ thể giữa quân Đàng Trong với hạm đội Hà Lan, quân Trịnh và cướp biển; đồng thời đối chiếu thêm các nguồn tư liệu địa bạ, gia phả của các dòng họ cai đội Hoàng Sa tại Quảng Ngãi và Thừa Thiên Huế.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo giá trị đối với sinh viên, giảng viên và các nhà nghiên cứu thuộc các ngành:

  • Việt Nam học và Lịch sử Việt Nam: Tham khảo nguồn sử liệu đối chiếu phong phú giữa thư tịch cổ Việt Nam (Phủ biên tạp lục, Đại Nam thực lục) và tài liệu phương Tây (Borri, Rhodes, Barrow, Choisy).
  • Lịch sử quân sự và Lịch sử hàng hải: Tham khảo chi tiết Chương 2 về phép duyệt tuyển năm 1632, cơ cấu phân cấp dinh - cơ - đội - thuyền và kỹ thuật đóng tàu nhiều khoang của Đàng Trong.
  • Nghiên cứu chủ quyền Biển Đông: Khai thác dữ liệu lịch sử xác thực về quy chế tuyển chọn, hoạt động tuần tra và sổ sách giao nộp sản vật của Đội Hoàng Sa, Đội Bắc Hải thế kỷ XVII-XVIII.

Câu hỏi thường gặp

1. Phép duyệt tuyển binh năm 1632 của chúa Nguyễn Phúc Nguyên quy định đối tượng nào được miễn hoặc hoãn đi lính?
Theo quy định, dân mới di cư đến định cư được miễn bắt lính trong 3 năm để yên ổn làm ăn; người già nua, neo đơn và con một trong gia đình không phải đi lính; gia đình có hai con trai chỉ lấy một người (thường là con thứ). Nam giới từ 16 tuổi phải đăng ký sổ quân, nếu trốn tránh sẽ bị phạt làm lính chăn voi.

2. Chúa Nguyễn đã tổ chức bộ máy nhân sự đóng tàu chiến như thế nào?
Chúa Nguyễn quản lý ngành đóng thuyền theo hình thức độc quyền nhà nước; các chúa trực tiếp giữ vai trò quản đốc và kỹ sư trưởng. Thợ thủ công giỏi từ các địa phương được đưa về Phú Xuân và biên chế thành các ty chuyên trách: ty thợ mộc thuyền, ty thợ làm đinh sắt, ty thợ làm mái chèo, ty thợ làm buồm và ty thợ hóa luân. Năm 1729, chúa Nguyễn Phúc Khoát còn lập đội Mộc than ở Trường Đúc gồm 195 người chuyên khai thác gỗ đóng thuyền.

3. Đội Hoàng Sa được biên chế và hoạt động theo quy chế nào?
Đội Hoàng Sa được thành lập trước năm 1631, định suất 70 người lấy từ dân xã An Vĩnh (Cù Lao Ré, Sa Kỳ, Quảng Ngãi), hoạt động theo dạng thủy đội biệt lập bán quân sự. Hằng năm vào tháng 2, đội nhận giấy sai đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, mang lương thực đủ 6 tháng; đến tháng 8 đưa thuyền về cửa Eo (Phú Xuân) nộp sản vật, báo cáo tình hình biển đảo và nhận bằng chứng nhận hoàn thành nghĩa vụ.

4. Kỷ luật trên chiến thuyền Đàng Trong có nét gì đặc sắc theo ghi chép của nhân chứng phương Tây?
Quân đội Đàng Trong áp dụng luật im lặng tuyệt đối trên tàu chiến. Người chỉ huy đứng ở mũi thuyền không phát khẩu lệnh bằng lời mà sử dụng một chiếc đũa chỉ huy hoặc cử chỉ tay để điều khiển mọi thao tác tiến, lùi, rút vũ khí hay tốc độ chèo của toàn bộ thủy thủ đoàn.

5. Chế độ lương bổng và nơi ở của lính thủy chính quy Đàng Trong được quy định ra sao?
Binh lính chính quy được cấp nhà ở có vườn nhỏ gần doanh trại, các dãy nhà cách nhau 15m làm lối đi, được phép sống cùng vợ con theo chế độ một vợ một chồng. Hằng tháng lính được cấp 1 hộc gạo và 1 quan tiền (hoặc 5 đồng bạc, 1 giạ gạo và cá khô) và được miễn thuế đinh.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Lê Thị Kiều đã tái hiện có hệ thống quá trình hình thành, tổ chức và vận hành lực lượng thủy quân xứ Đàng Trong thế kỷ XVI-XVIII. Bằng việc kết hợp sử liệu trong nước và tư liệu quan sát của người nước ngoài, công trình đã làm nổi bật các chính sách tiến bộ về kỹ nghệ đóng tàu, phép duyệt tuyển, kỷ luật quân sự và chế độ đãi ngộ quân nhân của các chúa Nguyễn. Nghiên cứu cung cấp nguồn cứ liệu lịch sử vững chắc, khẳng định năng lực quản trị quốc phòng và vai trò thực thi chủ quyền biển đảo liên tục của chính quyền Đàng Trong trong lịch sử dân tộc.