mở đầu cho thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh kéo dài 45 năm (1627-1672) trong lịch sử và cũng chính thức đánh dấu sự chia tách hoàn toàn Đàng Trong - Đàng Ngoài. Năm 1744, Nguyễn Phúc Khoát – vị chúa cuối cùng của Đàng Trong xưng vương cũng là lúc Đàng Trong rơi vào tình trạng suy thoái. Như vậy trong vòng hơn 200 năm, Đàng Trong đã trải qua 9 đời chúa Nguyễn cầm quyền, khởi đầu là chúa tiên Nguyễn Hoàng (1558-1613) và tiếp đến là các đời chúa kế vị: Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635), Nguyễn Phúc Loan (1635-1648), Nguyễn Phúc Tần (1648-1687), Nguyễn Phúc Trăn (1687-1691), Nguyễn Phúc Chu (1691- 1725), Nguyễn Phúc Chú (1725-1738), Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765). Tuy 6 chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian ngắn nhưng chính quyền họ Nguyễn ở Đàng Trong đã để lại nhiều bài học vàng son trong lịch sử dân tộc về kinh tế, chính trị.
Khi mới vào Thuận Hóa, Thái tổ Nguyễn Hoàng đóng ở dinh Ái Tử. Dinh có nghĩa là chỉ một đạo quân, cũng dùng làm tên gọi một đơn vị hành chính trong suốt thời chúa Nguyễn và cho đến cả thời Gia Long sau này. Dinh được cai quản bởi các quan võ gọi là chưởng dinh hay trấn thủ, các cơ quan chính quyền trung ương của xứ Thuận Hóa đều ở đó. Sau đó, trong quá trình Nam tiến mở rộng lãnh thổ đời Chúa Hi Tông (chúa Nguyễn Phúc Nguyên) lãnh thổ Đàng Trong chia làm 12 dinh và 1 trấn: Dinh Bố Chính tục gọi là dinh Ngói (ở làng Thổ Ngõa, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình), dinh Quảng Bình (nay là Thuận Trạch, huyện Lệ Thủy Quảng Bình), dinh Lưu Đồn (tục gọi là dinh Mười, ở làng Võ Xá, huyện Khương Lộc), cựu dinh ở Ái Tử, Chánh dinh, dinh Quảng Nam, dinh Bình Khương, dinh Bình Thuận, dinh Trấn Biên, dinh Phiên Trấn, dinh Long Hồ và trấn Hà Tiên.
Tiền đề phát triển thủy quân ở Đàng Trong 1. Đặc điểm vị trí địa lý Vị trí địa lý cũng góp phần lí giải lí do vì sao chúa Nguyễn lại tập trung phát triển một lực lượng thủy quân hùng mạnh. Vùng đất Đàng Trong mà Chúa trị vì, cho đến thế kỉ XVII là toàn bộ vùng đất rộng lớn bao gồm Nam Trung Bộ và Nam Bộ của nước ta hiện nay, vì thế mà được coi như một quốc gia riêng biệt, độc lập với xứ Đàng Ngoài. Những điều này đã được Cristophoro Borri1 nghiên cứu và tường thuật lại rất mạch lạc, rõ ràng và cụ thể: “Xứ này, về hướng Nam giáp vĩ tuyến 11, về hướng Bắc, xế về Đông Bắc, giáp xứ Đàng Ngoài, về hướng Đông, có biển Đông và về hướng Tây, xế về Tây Bắc, giáp nước Lào”2.
Không chỉ vậy, theo Borri vùng đất này còn có một vị trí đặc biệt quan trọng đối với các nước láng giềng của Đàng Trong: 1 Cristoforo Borri là một giáo sĩ Dòng Tên, người Ý, đã đến Đàng Trong truyền giáo những năm đầu thế kỷ XVII. 2 Cristophoro Borri (1998), Xứ Đàng Trong năm 1621, Nxb Tp Hồ Chí Minh, tr. 7 “Còn trong các bản đồ của thế giới thì xứ này như là cửa vào và là khởi đầu của Trung Quốc”3. Có thể thấy, điều kiện địa lý liên quan đến việc phát triển lực lượng thủy quân của Đàng Trong có nhiều khác biệt so với Đàng Ngoài.
Vùng đất của Chúa Nguyễn là một vùng đất trù phú với nhiều tiềm năng. Đây là một vùng đất mới, hẹp ngang, nhưng trải dài, nằm giữa núi và biển. Phía Tây của Đàng Trong là dãy núi Trường Sơn phủ đầy rừng rậm trải dài xuống phía Nam. Đây cũng chính là nơi khởi nguồn của các con sông chảy từ Tây sang Đông chia cắt lãnh thổ Đàng Trong.
Phía Đông là đường bờ biển trải dài với nhiều hải cảng. Do sự ăn sâu của núi nên có những nơi núi và biển gặp nhau tại một điểm. Đàng Trong cũng được biết đến với ba vùng tự nhiên khác nhau. Hai vùng đầu có những đồng bằng tương đối rộng nên rất phù hợp để phát triển nông nghiệp, đó là vùng Quảng Nam với sự bồi đắp của sông Thu Bồn diện tích khoảng 1.800 cây số vuông, vùng thứ hai là đồng bằng Bình Định ngày nay, có diện tích khoảng 1.550 cây số vuông, và vùng thứ ba ở giữa có rất nhiều thung lũng.
Như đã đề cập ở trên, phía Tây là địa hình núi cao hiểm trở chạy theo hướng tây đông, ăn sát ra biển, tạo ra địa hình bị chia cắt với nhiều thung lũng, khiến đường bộ đi lại cũng rất khó khăn. Để di chuyển từ phủ này sang phủ khác, phương tiện nhanh chóng và thuận tiện nhất chỉ có thể bằng thuyền. Đến thế kỉ thứ XVII, giao thông ở Đàng Trong chủ yếu vẫn là đường thủy, Thiền sư thích Đại Sán khi đến đây vào thế kỉ XVII đã cho biết: “các phủ đều không có đường lối thông nhau, mỗi phủ đều do một cửa biển đi vào, nếu đi từ phủ này sang phủ khác tất do đường biển”4 [6,tr. Đàng Trong cũng được biết đến là vùng đất có hệ thống sông ngòi kênh rạch chằng chịt.
Có nhiều sông và hệ thống sông lớn chảy qua lãnh thổ của chúa Nguyễn: Hệ thống sông Bến Hải - Thạch Hãn (Quảng Trị), sông Hương (Thừa Thiên Huế), hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn (Quảng Nam), hệ thống 3 Cristophoro Borri (1998), Xứ Đàng Trong năm 1621, sđd, tr. 4 Thích Đại Sán (1963), Hải ngoại kỷ sự, Nxb Viện đại học Huế, năm 1963, tr. 8 sông Kone - Hà Thanh (Bình Định), Sông Ba (Tây Nguyên), hệ thống sông Cái Nha Trang và Dinh Ninh Hòa (Khánh Hòa). Những hệ thống sông này không chỉ cung cấp nguồn nước dồi dào cho phát triển nông nghiệp, là hệ thống giao thông vận tải chính mà còn là một hệ thống giao thông hào giúp cho việc phòng thủ thêm kiên cố.
Để tiện cho việc đi lại bằng đường thuỷ, bên cạnh những con sông lớn, chúa Nguyễn đã cho xây thêm nhiều con kênh. Các Chúa đã đích thân chỉ đạo việc đào và nạo vét các con sông nhằm lấy nước tưới tiêu và tạo ra các tuyến đường lưu thông. Chẳng hạn, chúa Nguyễn Phúc Tần (1648- 1687) đã cho đào và nạo vét các kênh như: Kênh Hồ Xá (thuộc huyện Vĩnh Linh- tỉnh Quảng Trị), kênh Trung Đan ở huyện Minh Linh (tháng 5 năm 1681), kênh đào Mai Xá (tháng 8 năm 1681), khai kênh Hà Kỳ (tháng 11 năm 1686)5 từ Cầm Phô (Vĩnh Linh) cho thông nước với sông Minh Lương (Gio Linh) từ đó thuyền bè đi lại dễ dàng. Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691- 1725) cũng có nhiều chính sách tiếp tục hoạt động mở rộng giao thông đường thủy6.
Có thể thấy vị trí địa lý đóng vai trò rất lớn trong việc phát triển thủy quân ở Đàng Trong. Bờ biển dài và địa hình cắt xẻ dẫn đến hướng phát triển thủy quân ở Đàng Trong khác so với Đàng Ngoài, thủy quân Đàng Trong phát triển mang thiên hướng hải quân (hướng biển) hơn là thủy quân nội thủy ở Đàng Ngoài. Bên cạnh một vị trí địa lý thuận lợi, Đàng Trong còn là một vùng đất giàu tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên rừng. Do là vùng đất thưa dân, nên hầu hết tài nguyên rừng vẫn còn nguyên vẹn với nhiều loài gỗ quý, bền chắc thích hợp để đóng thuyền, kết bè.
Và cũng vì ảnh hưởng của vị trí địa lý là nơi giao thoa của nhiều nền văn hóa nước lâu đời như Champa, Mã Lai đã tạo nên những nét đặc sắc trong văn hóa nước ở Đàng Trong thể hiện 5 Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục (tập 1), Viện khoa học và xã hội Việt Nam- Viện sử học, Nxb Giáo dục, tr. 6 Nguyễn Thị Hải, Chính sách nội thương của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 9(94), năm 2015, tr. 9 rõ nét qua các loại thuyền bè và kĩ nghệ đóng thuyền; nhìn chung thuyền Đàng Trong thích hợp để đi biển hơn là Đàng Ngoài. Kỹ nghệ đóng thuyền Khi nghiên cứu về ngành đóng thuyền Đàng Trong ta có thể thấy được 4 yếu tố quan trọng đã thúc đẩy sự phát triển của nó: 1.
Đặc điểm địa hình và quá trình khai thác mở rộng lãnh thổ; 2. Nhu cầu về chiến tranh và bảo vệ lãnh thổ; 3. Nhu cầu về sự phát triển kinh tế. Có nguồn tài nguyên gỗ phong phú, chất lượng cao phục vụ cho việc sản xuất tàu thuyền.
Trong bài nghiên cứu này chúng tôi chủ yếu nhấn mạnh đến nhu cầu về phục vụ chiến tranh và quá trình khai thác, bảo vệ lãnh thổ. Trong suốt thời gian tồn tại của Đàng Trong, các chúa Nguyễn đều chú trọng phát triển ngành đóng tàu thuyền - một trong những ngành mũi nhọn của quốc gia. Việc đóng, sử dụng tàu thuyền của người Việt vào nhiều mục đích khác nhau đã có từ rất sớm. Ngoài là phương tiện đi lại, chuyên chở hàng hoá, hình ảnh những chiến thuyền cũng xuất hiện nhiều trong các trận thuỷ chiến trong lịch sử7.
Thế kỷ XV, Đại Việt sử kí toàn thư chép, mỗi thuyền được trang bị một khẩu hỏa khí, 10 súng lớn và 10 súng hạng trung, 80 súng hạng nhỏ. Việc bố trí khí giới cho thấy rằng số lượng binh lính trên thuyền khá đông và đã có sự phân công qua cách sử dụng các loại súng. Năm 1465, Lê Thánh Tông đã ban hành 9 phép thủy trận và 31 quân lệnh về thủy trận. Những bằng chứng trên chính là cơ sở lí giải tại sao thuyền lại có vai trò quan trọng trong quân đội và những bài học về thủy quân của các triều đại trước cũng là tiền đề giúp hoàn thiện hơn lực lượng thủy quân Đàng Trong.
Liên quan đến nghề đóng thuyền thì một trong những chính sách quan trọng nữa của Chúa Nguyễn là chính sách “công tượng”. Để phát triển các ngành nghề thủ công, Chúa đã tuyển hàng trăm thứ thợ vào quân đội để đảm nhiệm những nhu cầu của nhà nước đương thời, đặc biệt là việc chế tạo vũ khí, Nguyễn Việt, Vũ Minh Giang, Nguyễn Mạnh Hùng (2012), Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm, Nxb 7 Quân đội nhân dân, tr. 10 đóng sửa tàu thuyền và nhu cầu của việc xây cất nhà cửa. Theo phản ánh trong các hồi kí của người nước ngoài từng đến Đàng Trong các thế kỉ XVII- XVIII, ngành đóng thuyền ở Đàng Trong là một ngành độc quyền của nhà nước, do các chúa Nguyễn đích thân kiểm soát chỉ đạo.
Chúa rất chú trọng đến ngành đóng tàu, trước là để phục vụ nhu cầu đi lại do điều kiện địa hình, sau là để phục vụ cho quân đội. Mục đích của Chúa là xây dựng một lực lượng thủy quân hùng mạnh để chiến đấu với thủy quân họ Trịnh và đồng thời là việc phòng thủ bờ biển, đảm bảo an ninh trước các thế lực ngoại bang xâm lấn.