mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam lần thứ hai. Trước tình thế khó khăn, thù trong giặc ngoài, việc xây dựng lực lượng vũ trang trở thành yêu cầu cấp thiết. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các cơ quan quân sự đầu ngành như: tham mưu, chính trị, thông tin, quân nhu, quân giới…đều lần lượt được thành lập và củng cố để đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng, sẵn sàng chiến đấu. Để nắm vững lực lượng vũ trang, tháng 1.1946, Trung ương Quân ủy đã được thành lập.
Trước sự kiện thực dân Pháp và bọn Tưởng đã thoả thuận với nhau bằng Hiệp ước Hoa – Pháp, để cho Pháp đổ bộ ra Bắc, mở rộng cuộc xâm lược của chúng ra cả nước; Đảng ta đã chủ trương ký với Pháp Hiệp định sơ bộ 6.1946, chủ động hoà hoãn với Pháp, đẩy nhanh quân Tưởng ra khỏi nước và tranh thủ thời gian chuẩn bị lực lượng để đối phó với âm mưu xâm lược lâu dài của thực dân Pháp. Tiếp sau Hiệp định sơ bộ, để tranh thủ hơn nữa thời gian hoà hoãn có lợi cho 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com việc xây dựng đất nước, Hồ Chí Minh đã tiếp tục ký kết bản Tạm ước 14. Mặc dù đã ký kết Hiệp định sơ bộ 6.1946 và Tạm ước 14.1946, song thực dân Pháp đã bội ước, liên tiếp lấn tới bằng chính trị, quân sự nhằm thực hiện âm mưu đặt lại toàn bộ ách thống trị trên đất nước ta. Trên thực tế, Việt Nam càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới.
Các cuộc hành binh lấn chiếm của quân Pháp được diễn ra liên tục ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Hạ tuần tháng 11 năm 1946, thực dân Pháp đánh chiếm Hải Phòng và Lạng Sơn, mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược trên quy mô lớn và quyết liệt đối với miền Bắc. Trước tình thế cấp bách ấy, giữa tháng 12 năm 1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp mở rộng và quyết định chủ trương phát động toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp trên phạm vi cả nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.
Cuộc kháng chiến của nhân dân ta kế tục sự nghiệp của cách mạng tháng Tám, nhằm đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập và thống nhất. Nó là một cuộc chiến tranh cách mạng của dân tộc, chiến tranh chính nghĩa. Quyết tâm phát động kháng chiến toàn quốc theo quan điểm chiến tranh nhân dân là một quyết định đúng kịp thời và là điểm xuất phát cơ bản cho mọi thắng lợi về sau của cuộc kháng chiến. Cuối tháng 12.1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng công bố rộng rãi chỉ thị Toàn dân kháng chiến, nêu một cách tóm tắt nội dung đường lối và chính sách kháng chiến gồm: mục đích, tính chất, chính sách, cách đánh, chương trình kháng chiến, cơ quan lãnh đạo kháng chiến…Đây là cuộc kháng chiến của toàn dân nên phải động viên, giáo dục và tổ chức toàn dân tham gia kháng chiến, kháng chiến khắp nơi với khẩu hiệu: “mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng xã là một pháo đài”.
Có thể nói, chiến tranh nhân dân, kháng chiến toàn dân là tư tưởng, nội dung chủ đạo trong đường lối quân sự của Đảng. Lúc này cần phải đẩy mạnh mặt trận quân sự để tiêu diệt lực lượng của địch trên đất nước ta, đè bẹp ý chí xâm lược của Pháp. Cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến chống lại đội quân xâm lược nhà nghề, có ưu thế về trang bị vũ khí nên phải tiến hành lâu dài, gian khổ và hy sinh. Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định chiến lược mở đầu cuộc kháng 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chiến toàn quốc đúng lúc và xác định được từ đầu những nội dung cơ bản về quan điểm, đường lối kháng chiến là chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, lâu dài, tự lực cánh sinh, nhất định thắng lợi.
Đặc biệt, Đảng luôn chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân để làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Bao gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích. - Chủ trương xây dựng bộ đội chủ lực. Quy luật chi phối mọi cuộc chiến tranh là quy luật sức mạnh: mạnh được, yếu thua và tinh hoa của khoa học và nghệ thuật quân sự là luôn luôn tạo được ưu thế sức mạnh ở những thời gian và không gian nhất định.
Hiểu rõ quy luật đó, bước vào cuộc kháng chiến, trên cơ sở nhận rõ vai trò quan trọng của “quả đấm chủ lực”, Đảng nhanh chóng đề ra những chủ trương nhằm xây dựng và phát triển bộ đội chủ lực trong giai đoạn này. Ngày 22 tháng 5 năm 1946, Chính phủ ra Sắc lệnh số 71/SL về việc đổi Vệ quốc đoàn thành Quân đội quốc gia Việt Nam. Quân đội quốc gia được đặt dưới sự chỉ huy tập trung thống nhất của Bộ Tổng tham mưu, cơ quan tham mưu quân sự cơ mật, đầu não của quân đội. Quân đội được tổ chức biên chế thống nhất theo trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội.
Tiếp theo Sắc lệnh thành lập Quân đội quốc gia, Đảng đề ra những chủ trương cụ thể để xây dựng bộ đội chủ lực. Về chính trị: Đảng nhận thấy sức mạnh của quân chủ lực do nhiều yếu tố hợp thành, nhưng ngọn nguồn của thắng lợi hay thất bại đều bắt nguồn từ nhân tố chính trị, từ tinh thần và sức mạnh của tổ chức. Công tác chính trị trong quân đội chính là công tác vận động cách mạng của Đảng đối với quần chúng chiến sĩ để đem mục đích và tính chất của chiến tranh, đem đường lối và chính sách của Đảng và Chính phủ mà giáo dục cho quân đội, đề cao trình độ giác ngộ, rèn luyện tinh thần chiến đấu cho quân đội, củng cố sự đoàn kết đối nội và đối ngoại của quân đội, đảm bảo cho quân đội thực hiện được công cuộc chiến thắng quân địch, thực hiện được mục đích chính trị của chiến tranh. Kháng chiến muốn thắng lợi cần phải xây dựng bộ đội chủ lực vững mạnh về chính trị, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở để bộ đội chủ lực ngày càng lớn mạnh, sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống.
Thực tế chứng minh rằng ở đâu mà chính sách của đảng được thi hành 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiêm chỉnh nhất, công tác chính trị trong quân đội chu đáo nhất, thì ở đấy, nói chung không hề có tình trạng lỏng lẻo trong quân đội, quân đội giữ gìn được trật tự tốt hơn, tinh thần của họ cũng cao hơn, ở đấy thu được nhiều thắng lợi lớn hơn. Chính sức mạnh về chính trị là cơ sở đảm bảo cho sức mạnh về quân sự. Nghị quyết hội nghị cán bộ Trung ương (ngày 31.1946) nhận định lúc này chúng ta vẫn còn thiếu công tác chính trị trong quân đội, nhất là công tác Đảng. Do vậy, Ban Thường vụ Trung ương đã ra Quyết nghị về tổ chức và hệ thống Đảng trong quân đội.
Theo đó, Tổng chính uỷ - Phụ trách công tác đảng và lãnh đạo công tác quân sự trong quân đội toàn quốc; Chính uỷ Liên khu - Phụ trách công tác đảng và lãnh đạo công tác quân sự trong quân đội một liên khu; Chính uỷ cấp trung đoàn - Phụ trách công tác đảng và lãnh đạo công tác quân sự trong quân đội một trung đoàn. Chính trị uỷ viên (từ cấp trung đoàn trở lên)có nhiệm vụ: chịu trách nhiệm trước Đảng và cấp trên về mọi công tác đảng và quân sự thuộc phạm vi mình theo đường lối của Đảng; Chịu sự lãnh đạo của cấp bộ đảng bên ngoài về tổ chức và chính sách của Đảng; Khi cấp uỷ đảng bên ngoài không đồng ý với chỉ thị chính uỷ cấp trên thì uỷ viên chính trị chỉ thi hành chỉ thị của uỷ viên cấp trên rồi báo cáo, khi cấp uỷ đảng thấy uỷ viên chính trị làm sai chỉ thị cấp trên có quyền đình chỉ sự thi hành đó và báo cáo ngay lên cấp trên. Uỷ ban Quân sự Trung ương có nhiệm vụ giúp Trung ương nghiên cứu đường lối chiến lược, chiến thuật quân sự, đề nghị lên Trung ương. Khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, do tương quan lực lượng giữa ta và địch có sự chênh lệch lớn nên chủ trương của ta là kháng chiến lâu dài, vừa đánh vừa phát triển lực lượng từ nhỏ tới lớn, từ yếu tới mạnh để đi tới thắng lợi.
Phương châm tác chiến là tích cực tiến công, giải quyết mau trong từng trận, dùng cách đánh du kích, đánh vận động và có thể đánh trận địa.Với tinh thần đó, thực hiện mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, ngày 19.1946 quân dân Hà Nội đã nổ phát súng đầu tiên. Kế tiếp là các thành phố Đà Nẵng, Huế, Vinh, Nam Định, Hải Dương lần lượt nổ súng vào các căn cứ của Pháp, mở đầu cuộc tổng giao chiến trong toàn quốc. 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bước sang năm 1947, chỉ đạo xây dựng bộ đội chủ lực là một trong những công tác trọng tâm của Bộ Tổng chỉ huy. Để tăng cường hơn nữa sức mạnh chính trị trong bộ đội chủ lực, Hội nghị chính trị viên toàn quốc lần thứ nhất (1.1947) xác định 10 nhiệm vụ lớn của cơ quan chính trị trong quân đội là: Nâng cao tinh thần chiến đấu của toàn thể bộ đội trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Gây hứng thú và tổ chức nghiên cứu thêm kỹ thuật và chiến thuật, học tập kinh nghiệm. Rèn luyện tinh thần kỷ luật bằng cách chấn chỉnh nội dung các mệnh lệnh, việc động viên để thi hành mệnh lệnh, việc thưởng phạt. Bảo đảm sự thực hiện của phương châm chiến lược về quân sự. Huấn luyện dân vận cho bộ đội để giúp vào việc thực hành quân dân nhất trí.
Đoàn kết đối nội, đối ngoại. Làm cho bộ đội tin tưởng ở thắng lợi. Rèn luyện cho bộ đội có tinh thần tự lập chiến đấu trong lúc gian nguy. Làm tốt công tác địch vận.
Nỗ lực làm đúng 10 lời thề và 12 điều kỷ luật. Đào tạo cho mỗi người đội viên thành một chiến sĩ tiên phong và quân đội ta thành một quân đội quốc gia với đúng danh nghĩa ấy.