LỜI MỞ ĐẦU Sau khi đất nước thống nhất, suốt giai đoạn 1976 – 1986, người dân cả nước đã quen với việc hàng hóa không được mua bán trên thị trường. Chính sách bao cấp, tem phiếu đẩy đến sự khan hiếm về hàng hóa, lạm phát tăng, tốc độ sản xuất chậm chưa đáp ứng đủ nhu cầu, đời sống của người dân gặp nhiều khó khăn. Năm 1986, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện và dần bỏ lại những ký ức về một thời tem phiếu. 3 Đến nay, với sự biến động và thay đổi không ngừng của nền kinh tế thế giới cùng với sự nỗ lực và các chính sách đúng đắn, diện mạo Việt Nam có nhiều thay đổi, kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, đồng thời nhu cầu và động lực phát triển cho tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Trong nội dung bài tập lớn này, em xin phép được cung cấp những thông tin rõ hơn về thực trạng và chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam thời kỳ đổi mới (1986 - nay). Đánh giá thực trạng tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam thời kỳ đổi mới (1986-nay) 1. Tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế. Tốc độ tăng trưởng và quy mô GDP của Việt Nam (1986 – 2021) 4 Nguồn: The Worldbank Nhìn vào biểu đồ có thể thấy diễn biến tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2021 đi theo chiều hướng có những thời điểm tăng trưởng rất cao nhưng cũng có thời điểm tăng trưởng giảm rất sâu, theo từng giai đoan thì tốc độ tăng trưởng có sự khác nhau.
Giai đoạn từ năm 1986 – 1987, tốc độ tăng trưởng rất thấp chỉ vào khoảng 2,5 – 3,5%. Đây là những năm đầu đổi mới, ưu tiên hàng đầu trong chính sách nhà nước ta cho thời điểm những năm đầu đổi mới này chính là vấn đề kiểm soát lạm phát bởi hệ quả của tổng điều chỉnh giá – lương – tiền đã khiến lạm phát nước ta rơi vào tình trạng phi mã. Chính những chính sách kiểm soát lạm phát đó đã phần nào hạn chế sự tăng trưởng kinh tế của nước ta. Sau khi đã kiểm soát được lạm phát, từ những năm 1990 trở đi, tốc độ tăng trưởng đã có sự cải thiện.
Thông qua rất nhiều những chính sách, đặc biệt những chính sách ban hành sau đổi mới có hiệu lực như chính sách thu hút đầu tư nước ngoài đã góp phần giúp tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Có thể thấy giai đoạn từ năm 1990 – 1997, tốc độ tăng trưởng rất cao, trung bình hơn 8% mỗi năm. Tuy nhiên sau năm 1997, tốc độ tăng trưởng Việt Nam đã đi xuống do nước ta đã chịu phần nào ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính Đông Nam Á nổ ra ở Thái Lan, từ mức tăng trưởng 8 – 9% xụt giảm còn hơn 4% vào năm 1999. Kết thúc giai đoạn suy thoái do ảnh hưởng khủng hoảng tài chính, bắt đầu từ năm 2000, tăng trưởng kinh tế Việt 5 Nam đã được khôi phục và có xu hướng đi lên.
Đặc biệt có thể thấy vào năm 2007, tốc độ tăng trưởng nước ta lên cao vì đây là thời điểm nước ta gia nhập WTO. Việc trở thành thành viên chính thức của WTO không những đã hỗ trợ rất nhiều cho xuất khẩu tại Việt Nam mà việc đầu tư tại nước ta cũng rất thuận lợi. Điều này đã góp phần rất lớn vào tăng trưởng của nước ta. Xu hướng đi lên của tăng trưởng Việt Nam đã phải chấm dứt từ năm 2008 khi mà những ảnh hưởng đầu tiên của khủng hoảng kinh tế thế giới bắt đầu ảnh hưởng đến Việt Nam.
Tuy nhiên quy mô nền kinh tế Việt Nam vẫn là nền kinh tế nhỏ nên tăng trưởng nước ta chịu ảnh hưởng không quá nghiêm trọng, mức độ tăng trưởng thấp nhất vẫn là 5,2%. Thời kỳ hậu khủng hoảng năm 2008, Việt Nam bắt đầu tái cấu trúc nền kinh tế, tăng trưởng kinh tế Việt Nam đã có sự phục hồi, trước năm 2019, trung bình tăng trưởng xoay quanh 6% mỗi năm. Như vậy có thể thấy, giai đoạn năm 2016 – 2019, bình quân trong 4 năm tốc độ tăng trưởng nước ta rơi vào khoảng 6,8% mỗi năm cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoan trước 2011 – 2015 là 5,91% và đã phần nào đạt mục tiêu tăng trưởng do Quốc hội đề ra cho giai đoạn 2016 – 2020. Từ cuối năm 2019 đến nay, nước ta chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh COVID, khi dịch bệnh toàn cầu diễn ra buộc các nền kinh tế phải đóng cửa tất cả các hoạt động từ du lịch, sản xuất,…Điều nay đã khiến tăng trưởng kinh tế nước ta 2 năm gần đây rơi vào mức dưới 3% mỗi năm – mức độ tăng trưởng rất thấp.
Tuy nhiên, nước ta vẫn là một trong rất ít những quốc gia vẫn duy trì được mức tăng trưởng dương và cũng là một trong những quốc gia nằm trong nhóm nước có tốc độ tăng trưởng cao trên thế giới. Về quy mô GDP của nền kinh tế, trong giai đoạn từ năm 1986 – 2021 theo số liệu của Worldbank thì quy mô GDP Việt Nam đạt đỉnh vào năm 2021 với hơn 350 tỷ USD và thấp nhất là năm 1989 rơi vào khoảng 6,2 tỷ USD. Xét một cách tổng quan thì từ năm 1986 đến năm 2021, quy mô GDP của Việt Nam có xu hướng tăng lên qua các năm. Có thể thấy quy mô nền kinh tế Việt Nam đã lớn hơn rất nhiều so với những năm đầu đổi mới.
Điều đó cho thấy những chính sách thực hiện từ những năm đổi mới đặc biệt là chính sách liên quan đến đầu tư, liên quan đến hội nhập đã phát huy được tác dụng rất lớn 6 cho việc dần dần đưa kinh tế Việt Nam trở thành nền kinh tế có vai trò nhất định trong khu vực cũng như là quốc tế. Tốc độ tăng trưởng của các nhóm ngành trong nên kinh tế. Trong hơn 30 năm đổi mới, cùng với tốc độ tăng trưởng của GDP, tốc độ tăng trưởng của các ngành kinh tế cũng có những thay đổi rõ rệt. Nhìn theo số liệu thống kê của Worldbank có thể thấy xu hướng biến động tăng trưởng giữa các ngành không đồng đều.
Sau những năm đầu đổi mới, thực hiện chính sách mở cửa cùng với công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ khá là cao, bình quân môi năm của ngành công nghiệp, xây dựng tăng 7,7%/ năm và ngành dịch vụ là 6,5%/ năm. Ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản thì có tốc độ tăng trưởng thấp hơn nhiều khi trung bình mỗi năm chỉ đạt 3,4%/ năm. Có thể thấy tốc độ tăng trưởng giữa các ngành đang đi đúng hướng nhưng vẫn còn khá chậm so với khu vực và thế giới. Tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ mặc dù cao hơn nhiều so với ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản nhưng lại biến động khá nhiều, có thời điểm tốc độ tăng trên 10% nhưng cũng có thời điểm thậm chí không tăng trưởng.
Trong khi đó, ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản có tốc độ tăng thấp nhưng lại ổn định, các con số chỉ biến động từ 3 – 4%. Điều nay cho thấy, ngành công nghiệp, xây dụng và dịch vụ của nước ta vẫn còn rất phụ thuộc phần lớn vào nguồn vốn đầu tư nước ngoài và chịu ảnh hưởng nhiều bởi các cuộc khủng hoảng trên thế giới và khu vực. Tốc độ tăng trưởng của các nhóm ngành trong nền kinh tế từ năm 1986 - 2020 7 Nguồn: The Worldbank 1. Tăng trưởng kinh tế nhìn từ yếu tố đầu vào.
Tăng trưởng kinh tế đã giảm dần sự phụ thuộc vào các nhân tố chiều rộng. Giai đoạn đầu đổi mới, tăng trưởng của Việt Nam dựa đáng kể vào các nhân tố tăng trưởng theo chiều rộng, mà cụ thể là tăng vốn và lao động. Trong giai đoạn 1991 - 2000, 52% tăng trưởng GDP của Việt Nam là do đóng góp của các yếu tố đầu vào. Từ năm 2002 trở đi, những nỗ lực cải cách đã cải thiện được một số chỉ số chất lượng tăng trưởng, đưa nền kinh tế có xu hướng phát triển theo chiều sâu.
Chủ trương đổi mới mô hình tăng trưởng của Việt Nam đã được khẳng định tại Đại hội Đảng lần thứ XI và XII, trong đó nhấn mạnh tăng trưởng cần chuyển dần sang dựa vào công nghệ, dựa vào đổi mới sáng tạo. Nghị quyết số 05-NQ/TW Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế đã đề ra những giải pháp lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 8 27/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 05- NQ/TW. Giai đoạn 2002 – 2019 cho thấy tốc độ tăng vốn và lao động đang chậm dần, trong khi đó TFP có tốc độ tăng nhanh hơn và do vậy nếu nhìn một cách tổng thể, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đang dựa nhiều vào tăng chất lượng, thay vì tăng về số lượng vốn và lao động.
Đây là sự chuyển biến tích cực từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu và chất lượng tăng trưởng kinh tế ngày càng được coi trọng. Các nguồn tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, 1986-2019 Đơn vị: % Tốc độ Tỷ trọng đóng góp vào tăng Tốc độ Tốc độ Tốc độ tăng trưởng kinh tế Năm tăng tăng tăng Năm lao Lao GDP vốn TFP Vốn TFP động động 1986 - 4,51 3,79 3,00 - 1991 – 14,78 23,32 61,88 1990 1995 1991 - 8,48 6,62 2,38 - 1996 – 40,66 24,8 34,5 1995 2000 1996 - 7,62 8,86 1,97 - 2001 – 44,12 25,6 30,32 2000 2005 2001 - 8,35 8,40 2,49 - 2006 – 79,67 26,06 -5,73 2005 2010 2006 - 6,39 8,90 2,42 -0,27 2011 60,6 25,4 14,0 2010 2011 - 6,01 6,80 1,50 1,78 2012 54,7 24,7 20,7 2015 2016 - 6,85 7,63 0,78 2,93 2013 50,9 16,9 32,2 2019 2014 54,2 9,2 36,6 2015 51,3 1,5 47,3 2016 57,3 7,3 35,5 9 2017 54,7 5,8 39,5 Bình 54,8 13,0 32,2 quân 2011 – 2017 2018 33,5 23,0 43,5 2019 33,9 20,0 46,1 Nguồn: Tổng cục Thống kê 1986 – 2019 1. Đầu tư và tích lũy vốn.