Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÁT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1,1.1 Tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế được xem là một trong những vấn để hắp dẫn nhất trong nghiên cứu kinh tế phát triển và cùng với thời gian, quan niệm về vấn đề này ngày. cảng được hoàn thiện hơn. Đến nay, quan niệm vẻ tăng trưởng kinh tế đã thống nhất. về mặt nội dung và được sử dụng rộng rãi: *“Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng.
thời gian nhất định (thường là một năm). Sự gia tăng thể hiện ở quy mô và tốc độ.Thu nhập của nễn kinh tế có thể biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá tị. Thu nhập bằng giá trị phản ánh qua các chỉ tiêu GDP, GNI và được tính cho toàn thể nền kinh tế hoặc tính bình quân trên đầu người.” [7, tr22] “Tang trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế (GDP) hay sản lượng của nền kinh tế tính trên đầu người (GDP/người) qua một thời gian nhất định. Thường được phản ánh qua mức tăng trưởng và tỷ lệ tăng trưởng”.
[1] Khái niệm thứ hai tuy ngắn gọn hơn nhưng vẫn chứa đựng đẩy đủ nội dung.à hoàn toàn thống nhất về mặt nội dung với khái niệm thứ nhí L có thể vận dụng một trong hai vào quá trình nghiên cứu. Có hai điểm cằn lưu ý là: (1) Tăng trưởng kinh tế liên quan đến sự gia tăng thu nhập quốc dân thực tế chứ không phải là thu nhập danh nghĩa do đó cần phải điều. chỉnh lạm phát khi tính toán. (2) Quy mô sản lượng của nền kinh tế tính trên đầu người lại phụ thuộc vào quy mô sản lượng của nễn kinh tế và dân số quốc gia.
Nếu sự gia tăng của cả hai yếu tố này khác nhau sẽ làm cho quy mô sản lượng của nền kinh tế tính trên đầu người thay đổi. Do vậy trong nhiều trường hợp, thu nhập bình quân đầu người không hề được cải lên mặc dù có mức tăng trưởng dương 1.2 Chất lượng tăng trưởng kinh tế “Tăng trưởng kinh tế cao được xem là quan trọng hàng đầu của nhiều nền kinh tế bởi nó liên quan mật thiết đến các biến số vĩ mô khác như việc làm, nghèo đói, lạm phát. Tuy nhiên không phải khi nào tăng trưởng kinh tế cao cũng đem lại cho con người một cuộc sống tốt đẹp hơn. Năm 1996, trong các báo cáo về phát triển con người UNDP đã đưa ra Š loại tăng trưởng tăng trưởng xấu để các quốc gia tham khảo đó là: + Tăng trưởng không việc làm: Tăng trưởng không tạo ra việc làm mới.
+ Tăng trưởng không lương tâm: Tăng trưởng chỉ đem lại lợi ích cho một bộ phận nhỏ người giàu, điều kiện sống của phần đông người nghèo không được cải thiện, © Tăng trưởng không tiếng nói: Tăng trưởng không gắn với sự cải thiện về dân chủ. + Tăng trưởng không gốc rễ: Tăng trưởng nhưng đạo đức xã hội bị suy thoái. « Tăng trưởng không tương lai: Tăng trưởng nhưng huỷ hoại môi trường sống của con người Nguyên nhân của những mô hình tăng trưởng xấu trên đây là do những lêch lạc trong tăng trưởng không hài hoà giữa số lượng và chất lượng tăng trưởng kinh tế, 'Vây, chất lượng tăng trưởng kinh tế là gì? Nếu như khái niệm về TTKT đã là một khái niệm thống nhất và được sử dụng. tông rãi, không cần bản cãi gì thêm thì khái niệm vẻ chất lượng tăng trưởng kinh tế lại đang được các nhà kinh tế học trong nước và trên thế giới tranh luận sôi nỗi.
dén nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa có sự thống nhất về nội hàm cũng như ngoại diện của khái niệm CLTT, mỗi trường phái lại quan niệm khác nhau và đưa ra các 10 khung khổ khác nhau dé đánh giá như. Hiện nay có một số quan niệm khác nhau về CLTTKT[6] ~ Quan niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế là phát triển bền vững. “Tăng trưởng kinh tế có chất lượng là đặc trưng biểu hiện thành phát triển bền. Theo Ngân hàng thể giới phát triển bền vững là phát triển theo nguyên tắc “sự.
thoả mãn nhu cầu của thế hệ hôm nay không làm ảnh hưởng tới sự thoả mãn nhu cầu của các thế hệ mai sau”. Không đảm bảo duy trì phát triển bền vững khi đó tăng. trưởng không có chất lượng. Cụ thể, phát triển bền vững là bảo toàn và phát triển 3 nguồn vốn: tài nguyên môi trường, vốn nhân lực và vốn vật chất.
Trong đó, tài nguyên môi trường hiện nay được quan tâm đặc biệt vì quá trình công nghiệp hoá ở các quốc gia dẫn tới sự huỷ hoại tài nguyên môi trường ngày càng thêm trằm trọng. Mỗi quan hệ giữa tăng trưởng và chất lượng môi trường cũng tuân theo quy luật đường cong KuzneL Theo các nghiên cứu của WB, mức độ ô nhiễm lúc đầu tăng cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế cho đến khi thu nhập bình quân đầu người đạt 12000 USD/năm. Giai đoạn tiếp theo, khi thu nhập bình quân đầu người tiếp tục tăng thì chất lượng môi trường được cải thiện rõ rệt ~ Chất lượng tăng trưởng theo quan niệm hiệu quả Nguồn gốc của tăng trưởng được chia thành 2 loại: theo chiều rộng và theo chiều sâu. Tăng trưởng theo chiều rộng, tức là tăng trưởng vốn, tăng lao động và.
tăng cường khai thác tải nguyên. Tăng trưởng theo chiều sâu, thể hiện ở tăng năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn sản xuất nâng cao với thước đo tông hợp năng. suất các nhân tổ tổng hợp (TEP) tăng lên. Theo như các nhà kinh tế học thuộc trường phái này (đã nêu ở phần tổng quan) thì đối với các nước đang phát triển chiều rộng vẫn là chủ đạo trong yếu tố tăng trưởng.
Như vậy, CLTT được quan niệm theo nguồn gốc tăng trưởng. Theo đó, dé tăng trưởng có hiệu quả kinh tế cao, cần đầu tư nâng cao chất lượng ngành giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ, nghiên cứu triển khai. a ~ Quan niệm CLTTKT là nâng cao phúc lợi của công dân và gắnliền tăng. trưởng với công bằng xã hội Đây là quan niệm của Rizwanul (nhà kinh tế thuộc tổ chức ILO) [15] như đã đề đến ở phần trước và còn là quan niệm của các nhà kinh tế học của tổ chức 'OXFAM.
Phúc lợi xã hội không chỉ thể hiện ở thu nhập bình quân đầu người ma còn là chất lượng cuộc sống, môi trường xã hội, môi trường tự nhiên, cơ hội học tập. và chăm lo sức khoẻ,v.Nếu quá quan tâm đến tăng trưởng mà ít chúý đến công 'bằng xã hội sẽ dẫn đến bắt ổn xã hội và tăng trưởng không thể bền vững, ngược lại, nếu quá đề cao công bằng xã hội thì sẽ không có động lực để thúc đây tăng trưởng. Sự kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội sẽ tạo ra chất lượng của tăng trưởng kinh tế ~ Quan niệm chất lượng tăng trướng kinh tế là cơ cấu và chuyển dịch cơ. cấu kinh tế "Đây không chỉ là quan điểm của Zhao Guohao [21 , Joseph E.
Stiglitz [10] ma còn là quan điểm của các giáo sư kinh tế thuộc nhiều trường đại học ở Mỹ. Trong đó cơ cấu ngành kinh tế rất được xem trọng. Tính hợp lý của quan niệm này là coi chất lượng sự vật là sự biến đổi cơ cấu bên trong của sự vật, không gắn chất lượng sự. vật với mục đích tồn tại, bối cảnh, môi trường, điều kiện mà sự vật tồn tại.
'Cơ cấu ngành là tương quan giữa các ngành trong tổng thể kinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại lẫn nhau cả về lượng và chất giữa các ngành. Để làm rõ hơn tác động của các ngành tới sự tăng trưởng của nền kinh té cin thiết nghiên cứu thêm cơ cấu tăng trưởng. Cơ cấu tăng trưởng thể hiện ở chỉ tiêu điểm phần trăm đóng góp của các ngành vào tăng trưởng và chỉ tiêu tỷ trọng đóng. góp của mỗi bộ phận trong 100% mức tăng trưởng.
Cơ cấu tăng trưởng có thể xét theo khu vực thể chế, thành phần kinh tế, vùng, miễn và theo yếu tổ sản xuất: vốn, lao động, TFP. ‘Trude day cũng đã có một số lý thuyết kinh tế đã khẳng định mồi gắn kết chặt chẽ giữa cơ cấu ngành kinh tế và mức độ phát triển của nền kinh tế. Tiêu biểu nhất phải kế đến lý thuyết "cất cánh” của Rostow. Rostow đã tổng hợp theo lịch sử các 12 giai đoạn phát triển trong hiện đại thành 5 giai đoạn đó là giai đoạn "xã hội truyền thống”, giai đoạn “chuẩn bị cất cánh”, giai đoạn “cất cánh”, giai đoạn “trưởng.
thành” và giai đoạn "tiêu dùng cao”. Ứng với mỗi giai đoạn lại có những đặc trưng riêng được để dàng nhận biết qua sự thay đổi của cơ cấu ngành kinh tế với quy luật chung là khi nền kinh tế đạt trang thái phát triển cảng cao thì tỷ trọng ngành nông. nghiệp trong tông sản phẩm càng thấp, dần nhường chỗ cho các ngành công nghiệp. và dịch vụ.
Một lý thuyết khác đó là lý thuyết về thay đổi cơ ấu ciia Hollis Chenery, dựa vào nghiền cứu về sự thay đổi của thu nhập bình quân đầu người ứng với các giai đoạn chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nhiều nước trên thế giới ông đưa ra kết luận: 6% trong NN cé xu hướng giảm dẫn, tj trọng CN có xu hướng tăng dẫn ứng với GDP/ng tăng dần. ~ Quan niệm CLTTKT là thể chế dân chủ trong môi trường chính trị xã hội của nền kinh tế Tinh minh bạch, ít ham những, sự tham gia của người dân vào quản lý kinh tế xã hội tác động mạnh tới tăng trưởng kinh tế và ngược lại. Như vậy, theo cách diễn giải này, dân chủ biễu hiện mặt chất của tăng trưởng kinh tế. Để đo lường chất lượng thể chế ở các nước, các tác giả Knack va Keefer [13] dùng bốn biến đại điện sau: 1.Tham nhũng (corruption), 2.
Chất lượng bộ máy hành. Tuân thủ luật pháp (rule of law), 4. Bao vệ quyền về tai sin (security of property rights) Bên cạnh đó còn có rất nhiễu quan niệm trung dung, nổi bật có quan niệm của ‘Thomas Vinod (1999) [19]để một nền kinh tế tăng trưởng bền vững cần đảm bảo 3 nguyên tắc Trước tiên, đê phát triển được toàn điện và bền vững, nó cẳn phải tăng thêm. giá trị của bộ ba tải sản: + Vốn con người và xã hội « Vốn tài nguyên và môi trường.
« VỐn vật chất 13 Thứ hai, tăng trưởng đễ giảm nghèo đối, phân phối thành quả tăng trưởng công bằng. Thứ ba, tăng cường ôn định kinh tế vĩ mô, thể chế quản lý minh bạch, rõ rằng. Tuy nhiên, mới chỉ có hai khía cạnh của CL.