đặt vấn đề về “nhân tố gen” của hệ thống, các mối quan hệ sơ khởi, phái sinh và trọng yếu nên không thể trả lời câu hỏi về “bản chất và nguyên nhân” của các hiện tượng kinh tế bao gồm TTKT. Nhà nghiên cứu chỉ tập trung vào các mối quan hệ định lượng với điều kiện những yếu tố khác không đổi. Việc thiết lập những mối quan hệ định lượng này không thể dựa trên toàn bộ những mối quan hệ sản xuất mà cần tách biệt các mối quan hệ riêng biệt, chẳng hạn, mối quan hệ giữa giá và cầu một hàng hóa. Những mô hình tăng trưởng hiện đại, từ những mô hình đầu tiên của Roy Harrod, Evsey Domar hay Robert Solow cho đến các mô hình muộn hơn, mô tả bằng ngôn ngữ toán học mối quan hệ giữa tăng trưởng sản lượng (hoặc sản lượng bình quân đầu người) và các yếu tố khả biến riêng lẻ (lao động, đầu tư, vốn thực thể, tiến 11 | P a g e bộ kỹ thuật, vốn nhân lực,…), nhưng không thể đưa ra câu trả lời thuyết phục về bản chất của TTKT.
Tức là TTKT được hiểu là “sự kết hợp cơ học của vốn với lao động”. Chẳng hạn, theo Edward Denison (1985), sản lượng thực của Mỹ tăng trưởng ổn định với tốc độ trung bình 2,9%, lao động làm việc tính theo giờ 1,3% và trữ lượng vốn 2,4% trong giai đoạn 1909-1957. Theo cách tiếp cận chức năng, bất chấp các tiền đề không khả thi, các mô hình định lượng vẫn hữu dụng cho phân tích nếu cung cấp những dự báo phù hợp với số liệu thực nghiệm. Robert Lucas (2013) nhận định, Solow đã xây dựng một mô hình đơn giản nhưng có tiềm tàng mở rộng rất lớn dù những tiền đề của nó xa rời hiện thực.
Quan điểm này được chia sẻ bởi Milton Friedman (1994): Phép thử duy nhất cho phán quyết về cơ sở khoa học của giả thuyết chỉ có thể là so sánh dự báo do nó đề xuất với hiện thực, giả thuyết bị bác bỏ nếu dự báo trái với hiện thực, mà không cần đếm xỉa đến các tiền đề bất chấp giả thuyết được chấp nhận hay bị bác bỏ. Về đối tượng, trong khuôn khổ cách tiếp cận chức năng, chúng ta chỉ nhìn thấy biên của các mối quan hệ dưới góc độ sử dụng tối ưu các nguồn lực (cấp độ vi mô). Đối với cấp độ vĩ mô, các mối quan hệ định lượng không được thiết lập trong một thời gian dài vì thiếu các số liệu tổng; phân tích kinh tế vĩ mô chỉ thực sự phát triển sau khi hệ thống tài khoản quốc gia ra đời. Khác với cấp độ vi mô mà đối tượng được thể hiện thông qua ý nghĩa của cụm từ “sử dụng tối ưu nguồn lực khan hiếm nhằm thỏa mãn nhu cầu”, đối tượng phân tích vĩ mô được hiểu thông qua những vấn đề kinh tế vĩ mô như TTKT, việc làm, lạm phát, sự bất ổn kinh tế và cân bằng bên ngoài mà được xem là những lĩnh vực thể hiện các mối quan hệ kinh tế khác nhau.
Như vậy, tùy thuộc vào cấp độ phân tích, đối tượng nghiên cứu được quan điểm chức năng thể hiện theo những cách khác nhau, trong khi đối tượng của cách tiếp cận nhân quả là như nhau, đó là các mối quan hệ kinh tế. Trong khuôn khổ quan điểm chức năng, nền kinh tế được nghiên cứu theo bất kỳ trình tự nào và từ bất kỳ cấp độ nào: vĩ mô hay vi mô. Có thể lấy vài ví dụ từ các giáo trình kinh tế học nổi tiếng không chỉ mang tính tổng hợp mà còn chứa đựng quan điểm riêng của các tác giả về hệ thống kinh tế thị trường. McConnell & Brue (2008) phân tích nền kinh tế thị trường từ cấp độ vĩ mô, trong khi Mankiw (1999) đi từ cấp độ vi mô.
Khác với số phận của cách tiếp cận nhân quả, cách tiếp cận chức năng nhận 12 | P a g e được động lực phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XX là nhờ các nhà nghiên cứu kinh tế học đưa vào hệ thống công cụ của họ những phương pháp toán và thống kê mới. Đối tượng của cách tiếp cận nhân quả và cách tiếp cận chức năng tương đồng dù được diễn đạt bằng các ngôn từ khác nhau. Tức là không có mâu thuẫn giữa hai cách tiếp cận này về đối tượng. Nếu đối tượng của cách tiếp cận thứ nhất là các mối quan hệ sản xuất thì đối tượng của kinh tế học được xem là một phần của đối tượng cách tiếp cận nhân quả.
Đối tượng của cách tiếp cận chức năng được thể hiện bằng cụm từ “sử dụng tối ưu nguồn lực khan hiếm nhằm thoả mãn nhu cầu” cũng được xem một cách gián tiếp là mối quan hệ sản xuất. Đó là mối quan hệ giữa những con người thực hiện các hoạt động kinh tế khác nhau như trồng lúa, nuôi gia súc, may trang phục và thiết kế phần mềm máy tính,… cũng như phân bổ nguồn lực cho những hoạt động này và kết quả tổng lao động xã hội, dù thuật ngữ quan hệ sản xuất không được thể hiện ở đây. Tại những nước XHCN trước đây, cách tiếp cận nhân quả bị thay thế bằng quan điểm chức năng trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch tập trung sang cơ chế thị trường. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008-2009 lại dấy lên mối quan tâm đối với bộ “Tư bản” và cách tư duy hệ thống đối với hiện thực mà cách tiếp cận chức năng thống lĩnh trong kinh tế học dòng chính không có được.
Trong những năm diễn ra cuộc khủng hoảng này, nhiều nghiên cứu mang tinh thần Marxism được công bố đã phân tích xu hướng phát triển của nền kinh tế TBCN thế giới, các nguyên nhân gây ra khủng hoảng và những kịch bản thoát ra. Mặc dù cuộc khủng hoảng đó đã tạo nên xung động cho sự phục hồi mạnh mẽ cách tiếp cận nhân quả nhưng không xảy ra sự thay đổi mô thức trong kinh tế học – cách tiếp cận chức năng vẫn thống trị. Cần lưu ý, để áp dụng hiệu quả cách tiếp cận chức năng trong phân tích kinh tế, nó không thể giữ nguyên hình thái ban đầu, một phiên bản nghiêm ngặt, cực đoan nhất của Leon Walras. Walras quan niệm khoa học kinh tế cần phải mô tả những sự kiện tự nhiên, không phụ thuộc vào ý chí (hành vi) của con người, tức là chỉ sử dụng mô tả toán học thuần túy.
Cho đến nửa sau thế kỷ XX, quan điểm này của Walras vẫn được Friedman bảo vệ khi tác giả này bày tỏ quan điểm phương pháp của mình bằng cách dẫn định đề của Isaak Newton: “Sự kiện cần được mô tả, chứ không phải giải thích”. Tuy nhiên, quan điểm này không thể mang đến kết quả nghiên cứu kiệt xuất nếu 13 | P a g e không được kết hợp với cách tiếp cận tái sản xuất mà cầu nối giữa chúng là phương pháp luận của Alfred Marshall. Không chỉ Marshall mà trong thời kỳ cách mạng cận biên, nhiều các nhà kinh tế tân cổ điển không chia sẻ quan điểm của Walras. Theo họ, các mối quan hệ cần được giải thích.
Nhưng những biện giải không thể được rút ra trực tiếp từ mô hình. Để giải thích được, cần sử dụng các giả thuyết khác nhau. Do đó, hành vi con người được đưa vào đối tượng của kinh tế học. Bởi vậy, cách tiếp cận mô tả của Marshall đã vi phạm định đề của Friedman, định đề của Newton và các phương pháp mô tả toán học thuần túy giống như của Walras.
Như vậy, sự sẵn có hai quan điểm của Walras và Marshall trong cách tiếp cận chức năng cho phép sử dụng kết hợp quan điểm nhân quả và quan điểm chức năng trong phân tích. Chỉ sử dụng cách tiếp cận chức năng thuần túy rõ ràng không thể đưa nghiên cứu vươn lên cấp độ bản chất hay mối quan hệ nhân quả vì nó bị giới hạn bởi quan điểm cực đoan của Walras nơi mà những mối quan hệ hình thức được thiết lập và những điều kiện trong đó các mối quan hệ này được thực hiện. Nhờ Marshall, các giả thuyết bổ trợ xuất hiện trong quá trình xây dựng các mô hình toán mang tính công cụ hơn là giải thích. Trong khi đó, cách tiếp cận nhân quả đi vào bản chất những hiện tượng kinh tế, cho phép khám phá các mối quan hệ nhân quả trong hiện thực.
Bây giờ, chúng ta xem xét TTKT dưới hai góc nhìn nhân quả và chức năng. Tăng trưởng kinh tế theo cách tiếp cận chức năng và cách tiếp cận nhân quả Như đã trình bày trên, cách tiếp cận nhân quả xuất hiện ngay từ khi khoa học kinh tế hình thành, cụ thể trong kinh tế chính trị cổ điển. Thomas Malthus và sau này Smith và Ricardo là các nhà nghiên cứu đầu tiên gắn TTKT với tăng trưởng của cải. John Stuart Mill cũng đồng quan điểm với Smith và Ricardo về các khái niệm xoay quanh TTKT.
Theo Mill, của cải là toàn bộ các sản phẩm hàm chứa giá trị trao đổi. Trong nghiên cứu về quy luật phát triển, Mill phân biệt lý thuyết tĩnh thái thể hiện bức tranh đơn chiều của nền kinh tế và lý thuyết động thái mô tả quá trình phát triển kinh tế dài hạn. Đi xa hơn các nhà kinh tế cổ điển, Marx hoàn thiện cách tiếp cận nhân quả. Tuy nhiên, việc sử dụng thuật ngữ TTKT không đặc trưng cho cách tiếp cận này.
Trong bộ “Tư bản”, Marx không nghiên cứu trực tiếp TTKT mà phân tích quá trình tích luỹ tư bản (tác giả sử dụng thuật ngữ “tư bản” mà Marx sử dụng) trong điều kiện tái sản xuất 14 | P a g e giản đơn và mở rộng. Tích luỹ tư bản được xem xét ở hai khía cạnh: (i) từ phía giá trị; và (ii) từ phía giá trị tiêu dùng. TTKT như tăng trưởng dài hạn sản lượng tiềm năng và thu nhập thực, trong đó mức sản lượng hay thu nhập bình quân đầu người là hình thức mà quá trình tích luỹ tư bản nhận được. Sự cần thiết mở rộng sản xuất trong điều kiện cấu tạo hữu cơ không thay đổi của tư bản đòi hỏi nhà tư bản thuê thêm công nhân và tăng vốn cố định (hàng đầu tư theo kinh tế học hiện đại).
Hay sự thay đổi cấu tạo hữu cơ của tư bản (chẳng hạn, tăng tỷ trọng vốn cố định và giảm tỷ trọng vốn khả biến) cũng phản ánh những khía cạnh của TTKT (chẳng hạn, sự thay đổi tỷ lệ giữa đầu tư và tiêu dùng). Tuy nhiên, không phải bất kỳ tích luỹ tư bản ban đầu nào cũng dẫn đến TTKT.