phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn đƣợc cơ cấu thành ba chƣơng: Chƣơng 1: Khái quát kinh tế nông nghiệp huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên trƣớc năm 1986. Chƣơng 2: Quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên thời kỳ đổi mới (1986-2019). Chƣơng 3: Nhận xét về kinh tế nông nghiệp huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên (1986-2019). e 10 Nguồn: Bản thảo Dư địa chí Tuy An [50, tr.
e 11 C ƣơn 1 KHÁI QUÁT KINH TẾ NÔNG NGHIỆP HUYỆN TUY AN, TỈNH PHÚ YÊN TRƢỚC NĂ 6 1. Nhữn đ ều kiện cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Tuy An, Tỉnh Phú Yên. Điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Huyện Tuy An có đƣờng ranh giới tiếp giáp: phía Bắc giáp thị xã Sông Cầu và huyện Đồng Xuân, phía Nam giáp thành phố Tuy Hòa và huyện Phú Hòa, phía Đông giáp Biển Đông, phía Tây giáp huyện Sơn Hòa và huyện Đồng Xuân.
Diện tích tự nhiên toàn huyện là 407,591km2, chiếm 8,1% diện tích toàn tỉnh Phú Yên. Lãnh thổ huyện có điểm cực Bắc thuộc xã An Dân, điểm cực Nam ở xã An Thọ, điểm cực Đông ở xã An Hải và điểm cực Tây thuộc xã An Xuân, có tọa độ địa lý nhƣ sau: Từ 13008'02"đến 13022'30" vĩ độ Bắc; Từ 109005'10"đến 109021'24" kinh độ Đông. Từ khi thành lập huyện, qua nhiều lần thay đổi địa giới, địa danh huyện và các làng xã, hiện nay huyện hiện nay có 15 đơn vị hành chính gồm thị trấn Chí Thạnh và 15 xã: An Dân, An Thạch, An Ninh Tây, An Ninh Đông, An Hòa Hải, An Định, An Nghiệp, An Xuân, An Lĩnh, An Cƣ, An Hiệp, An Mỹ, An Chấn, An Thọ. Tổng cộng có 5 khu phố và 85 thôn.
Địa hình - đất đai Huyện Tuy An nằm rìa phía Đông của dãy Trƣờng Sơn Nam, có địa hình khá phức tạp, với nhiều địa hình đa dạng khác nhau, núi, đồi và đồng bằng. Các kiểu địa hình khác nhau của huyện cũng góp phần hình thành nên những khu vực trồng trọt và đa dạng các hoạt động kinh tế nông nghiệp trong địa bàn huyện. e 12 Thứ nhất, kiểu địa hình núi thấp, có độ cao tuyệt đối trên 300m và độ cao tƣơng đối trên 100m, với diện tích khoảng 4.905,42ha, chiếm 12% diện tích tự nhiên. Khu vực núi thấp chủ yếu phát triển trên núi đá bazan.
Kiểu địa hình núi thấp phân bố ở phía Tây và Tây Nam của huyện, chủ yếu thuộc về địa phận các xã An Xuân, An Lĩnh, An Thọ, có đỉnh cao gần 500m nhƣ đỉnh ông La, đỉnh Hòn Chuông. Địa hình này, thuận lợi cho các hoạt động sản xuất trồng trọt các loại cây cây công nghiệp ngắn ngày, có khả năng chịu hạn tƣơng đối nhƣ mía, bơ, chuối, mít và hoạt động chăn nuôi bò theo hình thức gia trại và thả rong. Đặc biệt là phát triển trồng rừng sản xuất nhƣ keo tràm, bạch đàng và cây lấy gỗ thích nghi trên đồi núi dốc. Thứ hai, kiểu địa hình chuyển tiếp giữa núi và đồng bằng, có diện tích rất lớn, chiếm 59% diện tích tự nhiên.
Trong khu vực đồi này phân làm 2 kiểu: Kiểu địa hình đồi cao, có độ cao tuyệt đối 100m-300m, với diện tích 11.243,65 ha, chiếm 27% diện tích tự nhiên, phân bố các xã An Nghiệp, An Xuân, An Lĩnh, An Thọ và An Hiệp. Kiểu địa hình này có phần lớn diện tích là trảng cỏ cây bụi thứ sinh, đất chƣa sử dụng còn nhiều. Địa hình này thuận lợi cho các việc trồng trọt các loại cây rau màu và đậu các loại nhƣ đậu xanh, đậu đỏ. Ngoài ra, các loại cây bắp, chuối và các loại cây nông nghiệp ngắn ngày, chịu hạn cũng thích nghi và trồng tập trung ở khu vực này.
Thứ ba, kiểu địa hình núi thấp và đồng bằng, có độ cao tuyệt đối 10m- 100m, với diện tích 12.117,84 ha chiếm 29% diện tích tự nhiên, phân bố ở các xã An Nghiệp, An Định, An Dân, An Thạch, An Ninh Tây, An Ninh Đông, An Cƣ. Địa hình đồng bằng phân làm 3 kiểu: đồng bằng phù sa nội đồng, đồng bằng đồi sót, đồng bằng cát ven biển. Dạng địa hình này thích hợp cho việc canh tác lúa, hoa mùa, cây công nghiệp ngắn ngày, nuôi trồng thủy sản. Khu vực này là khu vực tập trung trồng trọt lúa nƣớc.
Các cánh đồng lớn nhƣ An Định, An Nghiệp, An Ninh Tây, An Dân, An Thạch, An Ninh Đông và e 13 An Cƣ cho năng suất và sản lƣợng cao. Ngoài ra, các vùng ven đầm, ven sông chủ yếu tập trung tại khu vực phía Nam của Huyện gồm các xã: An Hiệp, An Cƣ, An Hòa Hải, An Ninh Đông, An Chấn, An Mỹ thuận lợi cho việc đánh bắt gần bờ và nuôi trồng thủy hải sản. Khí hậu Đặc trƣng khí hậu của huyện là nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm và chịu ảnh hƣởng của khí hậu đại dƣơng, nên trong năm có 2 mùa rõ rệt. Mùa khô từ tháng 01 đến tháng 8, với khí hậu khô nóng.
Mùa mƣa từ tháng 9 đến tháng 12, nhiệt độ thấp và mát mẻ. Nhiệt độ trung bình hàng năm, khu vực đồng bằng ở vào khoảng 26.60C, vùng miền núi là 26. Khí hậu của huyện thuận lợi cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế. Tuy nhiên, trong những tháng gió mùa hạ có từ 17-25 ngày nhiệt độ trung bình trên 300C lại xảy ra trong thời kỳ ít mƣa là một nhân tố gây ra hiện tƣợng nắng nóng và hạn hán.
Sự biến đổi khí hậu đã tác động đến kinh tế -xã hội của huyện đó là thƣờng xuyên gặp phải thiên tai (hạn, lũ lụt, sâu bọ…) làm hiệu quả sản xuất nông nghiệp bị giảm sút. Nguồn nước Tài nguyên nƣớc của huyện gồm có các nguồn nhƣ nguồn nƣớc mặt và nguồn nƣớc ngầm. Dòng chảy của nƣớc luôn thay đổi theo thời gian và không gian nhƣng thƣờng tuân thủ theo chu kỳ rõ rệt từng năm theo mùa lũ và mùa cạn. Lƣợng dòng chảy mùa lũ thƣờng chiếm 70-75% lƣợng dòng chảy năm, thƣờng xuất hiện trong 4 tháng mùa mƣa (từ tháng 9 đến tháng 12).
Sự xác định sự phân phối dòng chảy trong năm có ý nghĩa quan trọng về chế độ thủy văn nhằm quản lý tình hình tài nguyên nƣớc, quy hoạch, sử dụng có hiệu quả tài nguyên nƣớc. Trên địa bàn huyện có hệ thống sông ngòi, suối chảy qua. Sông cái xuất phát từ thƣợng nguồn sông La Hiên, Sông Kỳ Lộ sông dài 102 e 14 km, chảy qua địa phận huyện dài 20km. Ngoài ra còn nhiều con suối nhỏ theo hình xƣơng sống của sông hình thành một mạng lƣới thủy văn khép kín đảm bảo tƣới tiêu cho 32 255,8 ha đất nông nghiệp, 3493,6 đất trồng cây lâu năm, 12 636,3 ha đất lâm nghiệp, 483,4 ha đất nuôi trồng thủy sản, 0,1 ha đất nông nghiệp khác.
Theo chủ trƣơng phát triển kinh tế hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp, huyện đã cho xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng, công trình thủy lợi để phục vụ sản xuất nông nghiệp nhƣ hồ Đồng Tròn, đập Bà Kết, Tam Giang, Hà Yến, trạm bơm để dự trữ nƣớc ở mùa mƣa cung cấp cho mùa khô. Vì vậy, nguồn nƣớc của huyện đã đảm bảo tƣới tiêu cho diện tích sản xuất nông nghiệp. Điều kiện kinh tế-xã hội 1. Tình hình cư dân, dân số và lao động Cộng đồng dân cƣ ở Tuy An hình thành từ rất sớm.
Huyện Tuy An là địa bàn ngƣời Kinh chiếm đa số, số ít còn lại là ngƣời Hoa. Những lƣu dân ấy lúc đầu chỉ là những nhóm nhỏ, với một số điền khí nhà nƣớc cung cấp, cộng với kinh nghiệm sản xuất từ nơi cố hƣơng, họ đến vùng đất khai hoang mở đất, kết lập gia cƣ và từ đó hình hài những chòm xóm nhỏ bé ấy lớn dần do ngƣời ở nơi này, nơi khác đến định cƣ, hoặc do những cuộc hôn nhân qua lại dân cƣ cứ thế ngày một đông đúc thêm, làng xã bắt đầu hình thành. Ngƣời Kinh và ngƣời Hoa sống hòa hợp, tạo điều kiện giúp đỡ lẫn nhau trong phát triển sản xuất, góp phần làm thay đổi bộ mặt đô thị và nông thôn trên địa bàn; đồng thời, tích cực tham gia xây dựng đời sống văn hóa tại các địa phƣơng trong huyện. Ngƣời dân địa phƣơng lao động cần cù, nhiều kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp, và thủ công nghiệp.
Theo số liệu thống kê, năm 1976, dân số của huyện có 72. Năm 1977, hợp nhất 2 huyện Đồng Xuân và thành huyện Xuân An. Huyện Xuân An có dân số 161.204 ngƣời, trong đó số ngƣời sống bằng nghề nông e 15 120.417 ngƣời, nghề biển 27.291 ngƣời, nghề làm muối 1.063 ngƣời và các ngành nghề khác 12.443 ngƣời [50, tr. Năm 1979, huyện Tuy An có 13 xã và 1 thị trấn (Chí Thạnh), tổng dân số của Tuy An là 72.
Tháng 10-1982, dân số huyện Tuy An là 90.283 ngƣời, trong đó dân số nông nghiệp 72.630 ngƣời, mật độ dân số 195 ngƣời/km2 [50, tr. Theo niên giám thống kê tỉnh Phú Yên, dân số huyện Tuy An từ năm 2005 là 129. Đến năm 2010 số lƣợng là 121.827, giảm số với năm 2005. Nguyên nhân giảm là do tỷ lệ sinh giảm, cũng nhƣ do áp dụng các biện pháp kế hoạch hóa gia đình, mỗi gia đình nên sinh từ 1 đến 2 con.
Đến năm 2015, dân số huyện là 125.656 ngƣời, mật độ phân bố 308 ngƣời/km2 [59] [64] [73]. Theo kết quả điều tra dân số, từ năm 1990-2019 dân số của huyện Tuy An nhƣ sau: Bảng 1. Biến động dân s Huyện Tu An a đoạn 1990-2019 ĐVT: Người Năm Dân s 1990 108.656 Nguồn: Cơ sở dữ liệu ngành kế hoạch – Sở Kế hoạch và đầu Phú Yên, 1995-2019 [7][8][73]. Nhƣ vậy, quy mô dân số của huyện có chiều hƣớng gia tăng nhanh về số lƣợng và mật độ dân số từ 1990 đến 2005, giai đoạn 2005-2019 dân số tăng e 16 chậm.
Nếu từ 1976 đến 1982, dân số tăng lên 90.283 ngƣời, trong đó dân số nông nghiệp 72.630 ngƣời, mật độ dân số 195 ngƣời/km2 thì giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2000, dân số toàn huyện tăng nhẹ, mật độ 245 ngƣời/km2. Nhờ các chính sách về dân số của Nhà nƣớc, từ 2010 đến 2015, dân số toàn huyện giảm nhẹ, và giữ ở mức hơn 125.000 ngƣời, từ năm 2015 đến 2019, dân số có gia tăng nhƣng không đáng kể. Về cơ bản, dân số nông nghiệp chiếm đại đa số dân số trong toàn huyện. Có thể nói, dân số toàn huyện gia tăng ổn định, mật độ dân số cũng trở nên dần đông đúc.
Đây là một cơ cấu dân số thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp, ngành vốn dĩ cần nhiều sức lao động và số lƣợng lao động.