Tổng quan luận án

Công trình "Quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1986 đến năm 2013" được tác giả Thạch Kim Hiếu thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, mã số 62 22 03 13, bảo vệ năm 2021 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phan Xuân Biên và TS. Trần Thị Nhung).

Luận án xuất phát từ nhận thức về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị như một quan hệ cơ bản, tồn tại khách quan trong mối tương tác giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Trong công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng từ năm 1986, Thành phố Hồ Chí Minh giữ vị thế đô thị đặc biệt, trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ và là đầu tàu kinh tế của vùng trọng điểm phía Nam cũng như cả nước. Mặc dù sự chuyển dịch của thành phố ghi nhận sự đóng góp trực tiếp từ đổi mới hệ thống chính trị (công tác xây dựng Đảng, cải cách hành chính, quản lý nhà nước, hoạt động Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể), các công trình nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào lĩnh vực kinh tế - xã hội. Việc nghiên cứu quá trình đổi mới hệ thống chính trị tại địa bàn mới dừng ở những kết quả ban đầu, chưa có công trình hệ thống hóa toàn diện dưới góc độ khoa học lịch sử. Thực trạng này dẫn đến nhận thức chưa đồng bộ của một bộ phận cán bộ, đảng viên, gây ra một số lúng túng trong chỉ đạo và triển khai thực tiễn. Do đó, việc nghiên cứu đề tài là yêu cầu cấp thiết về mặt khoa học lịch sử và thực tiễn quản lý địa phương.

Mục đích nghiên cứu của luận án là phục dựng lại quá trình thực hiện đổi mới hệ thống chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1986 đến năm 2013, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị thành phố trong giai đoạn tiếp theo.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Thứ nhất, trình bày thực trạng hệ thống chính trị Thành phố Hồ Chí Minh trước năm 1986 và những nhu cầu bức thiết đặt ra đối với việc đổi mới hệ thống chính trị ở thành phố.
  2. Thứ hai, trình bày và phân tích quá trình đổi mới hệ thống chính trị trên từng thành tố và tổng thể ở Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1986 đến năm 2013.
  3. Thứ ba, đánh giá những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Thứ tư, rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1986 đến năm 2013.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những đổi mới của hệ thống chính trị trên tổng thể các thành tố cấu thành tại Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1986 đến năm 2013.

Về phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi không gian: Không gian địa lý hành chính của Thành phố Hồ Chí Minh theo các điều chỉnh địa giới qua từng thời kỳ lịch sử.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2013, phân chia thành hai thời kỳ chính là 1986–2000 và 2001–2013 (kèm khảo sát bối cảnh trước năm 1986 để làm rõ căn cứ xuất phát). Mốc 1986 mở đầu cho đường lối đổi mới toàn diện của Đảng; mốc 2001 đánh dấu việc Quốc hội ban hành Nghị quyết số 51/2001/QH10 sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 tác động trực tiếp đến tổ chức bộ máy nhà nước; mốc kết thúc năm 2013 gắn với sự kiện Quốc hội khóa XIII thông qua Hiến pháp năm 2013.
  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung vào công tác xây dựng Đảng bộ thành phố; tổ chức và hoạt động của hệ thống chính quyền các cấp; nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; mối quan hệ vận hành tổng thể giữa các thành tố.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án khảo sát khối lượng tư liệu chuyên khảo, luận án, kỷ yếu và bài báo khoa học, phân chia thành hai khối nghiên cứu chính:

Khối nghiên cứu về đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam gồm ba nhóm chủ đề:

  • Nhóm về tính tất yếu và vấn đề lý luận đặt ra: Tiêu biểu có công trình của Nguyễn Đức Bình, Trần Ngọc Hiên, Đoàn Trọng Truyến (1999) bàn về phương pháp luận và đặc trưng hệ thống chính trị thời kỳ quá độ; công trình của Trần Đình Hoan (2008) phân tích quan điểm, nguyên tắc đổi mới giai đoạn 2005–2020; nghiên cứu của Lê Quốc Lý (2014) làm rõ tác động qua lại giữa hệ thống chính trị với cơ sở kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Nhóm về tiến trình đổi mới hệ thống chính trị toàn quốc từ năm 1986: Công trình của Phạm Hồng Chương (2004) về sự lãnh đạo của Đảng đối với nền dân chủ chính trị giai đoạn 1986–2001; nghiên cứu của Nguyễn Đăng Dung (2006) về tổ chức bộ máy nhà nước qua các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và sửa đổi năm 2001; công trình của Nguyễn Văn Yểu và Lê Hữu Nghĩa (2006) về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; ấn phẩm của Bộ Nội vụ (2007) phân tích tổ chức nhà nước giai đoạn 1945–2007; sách chuyên khảo của Phạm Ngọc Trâm (2011) tổng kết hai chặng đường 1986–1996 và 1996–2011; luận án chính trị học của Lý Vĩnh Long (2012) phân tích mục tiêu và giải pháp đổi mới hệ thống chính trị; nghiên cứu của Đào Trí Úc và Phạm Hữu Nghị (2009) về phân cấp quản lý nhà nước. Ngoài ra còn có các luận án chuyên sâu của Trần Thành (2004) về khắc phục bệnh quan liêu, Phan Văn Hùng (2012) về hành chính phường, Đỗ Quang Khắc (2000) về thực thi quyền lực chính trị của nhân dân lao động, Nguyễn Viết Thông (1994) về đổi mới tổ chức chính trị - xã hội, Chu Văn Thành (2004) về hệ thống chính trị cơ sở, Nguyễn Thọ Ánh (2010) về chức năng giám sát phản biện của Mặt trận Tổ quốc.
  • Nhóm về đổi mới chính quyền địa phương: Các nghiên cứu của Nguyễn Đăng Dung (1997, 2007) về lịch sử và cải cách chính quyền địa phương; Tô Tử Hạ, Nguyễn Hữu Trị, Nguyễn Hữu Đức (1998) về cải cách hành chính địa phương; Văn Tạo (2000) về kinh nghiệm xây dựng và quản lý chính quyền các cấp; Nguyễn Văn Thảo (2006) về hoạt động chính quyền trong nền kinh tế thị trường; đề tài của Phạm Hồng Thái (2003) và Lê Thị Vân Hạnh (2009) về mô hình chính quyền đô thị và tổ chức bộ máy theo Nghị quyết Trung ương 5 khóa X; luận án của Trần Thị Diệu Oanh (2012) về phân cấp quản lý; các bài viết của Thái Vĩnh Thắng (2002), Bùi Xuân Đức (2002) cùng các bài khảo cứu kinh nghiệm quốc tế tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia của Hoàng Minh Hằng, Nguyễn Thị Hoàng, Trương Thu Trang, Lê Anh Tuấn, Phan Thị Lan Hương.

Khối nghiên cứu gắn liền với Thành phố Hồ Chí Minh:

  • Đề tài cấp Bộ do Trương Đắc Linh (2009) chủ nhiệm nghiên cứu lịch sử tổ chức chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh; luận án triết học của Huỳnh Thành Lập (2009) về quan hệ biện chứng giữa chính quyền với các thành tố hệ thống chính trị thành phố; ấn phẩm do Phan Xuân Biên chủ biên (2012) với Chương X của Huỳnh Thanh Hải phân kỳ quá trình xây dựng hệ thống chính trị thành phố từ sau 1975 thành 3 giai đoạn (1975–1976, 1976–1986, 1986 đến nay).
  • Nghiên cứu về Đảng bộ thành phố: Kỷ yếu tọa đàm ngành Tuyên giáo Đảng bộ thành phố (2011); luận án của Vũ Thị Nghĩa (2013) về lãnh đạo phòng chống tham nhũng; bài viết của Trương Tấn Sang (1996) trên Tạp chí Xây dựng Đảng đánh giá công tác cán bộ sau 10 năm đổi mới và tình trạng hụt hẫng cán bộ; nghiên cứu của Phan Xuân Biên (2005) về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với cơ quan nhà nước cấp tỉnh, thành.
  • Nghiên cứu về chính quyền và cải cách hành chính tại thành phố: Luận án của Nguyễn Hữu Nhân (2012) về Thành ủy lãnh đạo cải cách hành chính; công trình của Hồ Bá Thâm và Nguyễn Thị Hồng Diễm (2008) về động lực và lực cản cải cách hành chính; nghiên cứu của Bùi Thế Vĩnh, Phạm Phương Thảo, Mai Quốc Bình, Bùi Thiện Tích (2000) về cải cách hành chính giai đoạn 1995–1999; các bài viết của Nguyễn Tiến Dũng, Đoàn Ngọc Phúc (2004), Đào Đăng Kiên (2004), Trịnh Đức Thảo (2008) về cơ chế một cửa, một cửa liên thông; sách do Phan Xuân Biên chủ biên (2007) và đề tài của Phạm Minh Tuấn về thí điểm mô hình chính quyền đô thị.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn: Các công trình nêu trên phần lớn tiếp cận hệ thống chính trị Thành phố Hồ Chí Minh dưới góc độ luật học, khoa học hành chính, triết học hoặc chính trị học; hoặc đi sâu vào từng chuyên đề hẹp (như cải cách hành chính, công tác tư tưởng, chống tham nhũng, chính quyền đô thị) trong các khung thời gian ngắn. Đến thời điểm tác giả thực hiện, chưa có công trình nào tổng kết một cách hệ thống, khách quan toàn bộ tiến trình lịch sử đổi mới hệ thống chính trị Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1986 đến năm 2013 trên cả ba thành tố (Đảng, chính quyền, Mặt trận và đoàn thể) dưới chuyên ngành Lịch sử Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về mặt lý luận, luận án dựa trên hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đảng cầm quyền và xây dựng nhà nước. Tác giả vận dụng khái niệm "hệ thống chính trị" được Đảng Cộng sản Việt Nam sử dụng chính thức từ Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (tháng 3/1989), Cương lĩnh năm 1991 và được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 1992. Cấu trúc hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm:

  • Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò lãnh đạo.
  • Chính quyền thành phố các cấp thực hiện quyền lực nhân dân, quản lý hành chính và kinh tế - xã hội.
  • Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội (Liên đoàn Lao động, Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh) thực hiện chức năng tập hợp quần chúng, giám sát và phản biện xã hội.

Luận án xác định 4 đặc thù của hệ thống chính trị Việt Nam:

  1. Tính nhất nguyên chính trị, bảo đảm thống nhất mục tiêu và lợi ích.
  2. Tổ chức bộ máy kết hợp giữa tính giai cấp sâu sắc và tính nhân dân rộng rãi.
  3. Bảo đảm tính dân chủ rộng rãi đi đôi với tính nghiêm minh, tối thượng của pháp luật.
  4. Bảo đảm tính tập trung thống nhất của Trung ương đồng thời phát huy tính chủ động, năng động của địa phương và cơ sở.

Về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và phương pháp luận sử học.
  • Phương pháp nghiên cứu chủ đạo: Phương pháp lịch sử (tái hiện cụ thể tiến trình biến đổi lịch đại qua hai giai đoạn 1986–2000 và 2001–2013) kết hợp phương pháp logic (phân tích bản chất, quy luật vận động, khái quát thành tựu, hạn chế và đúc kết kinh nghiệm).
  • Phương pháp bổ trợ: Phân tích, tổng hợp văn bản, thống kê số liệu thực tế, đối chiếu và so sánh lịch sử.

Nguồn tư liệu nghiên cứu:

  • Tư liệu gốc: Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch, chương trình hành động của Thành ủy, Ban Thường vụ Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh; các báo cáo sơ kết, tổng kết định kỳ và số liệu thống kê thực tế về công tác tổ chức, cán bộ, đảng viên, cải cách hành chính từ năm 1986 đến năm 2013.
  • Tư liệu thứ cấp: Các văn kiện Đại hội toàn quốc của Đảng; các bản Hiến pháp và luật liên quan; các công trình nghiên cứu khoa học, sách chuyên khảo, luận án tiến sĩ và bài báo tạp chí chuyên ngành đã công bố.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa và phân loại các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến đề tài. Tác giả phân tích các khái niệm công cụ, khẳng định tính đặc thù của hệ thống chính trị Việt Nam và hệ thống chính trị tại Thành phố Hồ Chí Minh. Chương này tổng kết thành tựu của các học giả đi trước về ba nhóm vấn đề ở cấp độ toàn quốc (tính tất yếu đổi mới, tiến trình cải cách bộ máy, đổi mới chính quyền địa phương) và các nghiên cứu riêng về Thành phố Hồ Chí Minh (xây dựng Đảng, cải cách hành chính, mô hình chính quyền đô thị). Trên cơ sở chỉ rõ những nội dung đã được giải quyết và những điểm còn bỏ ngỏ, chương 1 xác lập cơ sở khoa học và định hình không gian nghiên cứu riêng cho luận án dưới góc nhìn lịch sử.

Chương 2. Hệ thống chính trị Thành phố Hồ Chí Minh và quá trình đổi mới từ năm 1986 đến năm 2000

Chương 2 trình bày thực trạng hệ thống chính trị thành phố trong 10 năm trước Đổi mới (1975–1985) và diễn trình đổi mới trong giai đoạn 1986–2000.

Trước năm 1986, hệ thống chính trị thành phố vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bộc lộ các khuyết điểm được Đại hội IV Đảng bộ thành phố (tháng 10/1986) chỉ ra: bệnh quan liêu, kỷ cương lỏng lẻo, giảm sút tính tự phê bình và phê bình, phát sinh các hiện tượng tiêu cực (tham ô, hối lộ, cửa quyền, bao che, cục bộ); bộ máy hành chính cồng kềnh, trùng lắp chức năng quản lý hành chính với quản lý sản xuất kinh doanh; phương thức hoạt động của đoàn thể bị hành chính hóa, xa rời quần chúng.

Giai đoạn 1986–2000, quá trình đổi mới diễn ra trên các nội dung trọng tâm:

  • Công tác chỉnh đốn Đảng và phân loại đảng viên: Triển khai Kế hoạch số 03-KH/TU (tháng 2/1988) thực hiện Nghị quyết 04-NQ/TW của Bộ Chính trị. Tiếp đó, Thành ủy ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TU (tháng 6/1990) về củng cố tổ chức cơ sở đảng. Đến cuối năm 1991, thành phố phân loại tại gần 1.500 cơ sở đảng (đạt 60% tổng số cơ sở), xác định 35–40% đảng viên phấn đấu tốt, 50% đảng viên đủ tư cách nhưng còn mặt yếu, và 10–15% đảng viên yếu kém. Trong 5 năm (1986–1991), Đảng bộ thành phố thi hành kỷ luật 4.189 đảng viên (chiếm 5,34% tổng số đảng viên), trong đó khai trừ và xóa tên 1.809 người (chiếm 2,3%).
  • Sắp xếp bộ máy Đảng: Thực hiện Chương trình hành động tháng 9/1988 theo Nghị quyết Trung ương 5 khóa VI, đến năm 1990 cơ quan Thành ủy tinh giản 3 ban (hợp nhất Ban Công nghiệp và Ban Kinh tế thành Ban Kinh tế Thành ủy; sáp nhập Ban Nông nghiệp vào Phân ban nông thôn; giải thể Ban Đối ngoại Thành ủy chuyển nhiệm vụ về Sở Ngoại vụ và Văn phòng Thành ủy); cấp quận, huyện giải thể Ban Dân vận và Ban Nội chính.
  • Công tác cán bộ: Ban Thường vụ Thành ủy ban hành Chỉ thị số 19-CT/TU (ngày 25/7/1989) về quy hoạch và phân cấp quản lý cán bộ. Khảo sát năm 1990 trên 774 cán bộ diện Thành ủy quản lý cho thấy: 15% hoàn thành tốt và có triển vọng; 53% hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn mặt yếu cần bồi dưỡng; 11% yếu cả năng lực và phẩm chất cần thay thế; 17% lớn tuổi, sức khỏe yếu. Tổng cộng có 28% cán bộ thuộc diện cần thay thế.
  • Đợt chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 3 khóa VII (1992–1995): Ban hành Kế hoạch số 16/KH/TU, Kế hoạch số 21/KH-TU và Hướng dẫn số 05/HD-TU chia đảng viên thành 4 nhóm xử lý. Đến tháng 6/1993 có 876 cơ sở triển khai (39%), đến cuối năm 1993 đạt 92,6% cơ sở đảng.
  • Phát triển đảng viên mới: Năm 1992 chỉ có 22,42% cơ sở đảng phát triển được đảng viên mới. Đầu năm 1995, Thành ủy ban hành Chỉ thị số 15-CT/TU mở 4 đợt phát triển đảng viên nhân kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Đảng, kết nạp được 3.544 đảng viên mới (gấp hơn 3 lần năm 1992 và gần gấp đôi năm 1994).
  • Công tác cán bộ nữ: Triển khai Chương trình hành động số 18-CTR/TU (tháng 5/1994), tỷ lệ kết nạp đảng viên nữ tăng đều qua các năm: năm 1992 đạt 22,2%; năm 1993 đạt 25,7%; năm 1994 đạt 27,89%; năm 1995 đạt 29,09%. Tỷ lệ cán bộ nữ tham gia đào tạo lý luận chính trị năm 1994 tại một số đơn vị đạt mức khá: Quận 5 đạt 32,37%; Quận 6 đạt 36,29%; huyện Thủ Đức đạt 39,44%.
  • Rà soát cán bộ lãnh đạo quận - huyện năm 1993: Trong đội ngũ thường vụ quận - huyện ủy, có 41,9% hoàn thành tốt nhiệm vụ (19,25% có triển vọng), 50,1% đảm đương nhiệm vụ nhưng còn mặt yếu, 9% thuộc diện phải thay thế; thành phố quy hoạch được 1.467 cán bộ dự bị (bình quân 29 cán bộ/đơn vị, cán bộ nữ chiếm 21,93%, dưới 40 tuổi chiếm gần 60%).
  • Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng: Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa VII với 4 định hướng (lãnh đạo Mặt trận và đoàn thể; cải tiến việc ra nghị quyết; thực hiện kiểm tra; cải tiến lề lối làm việc, giảm họp hành, bám sát thực tiễn cơ sở).

Bảng tổng hợp số liệu công tác tổ chức, cán bộ và đảng viên Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh (1986–1995):

Chỉ tiêu thống kê Mốc thời gian Số lượng / Tỷ lệ thực tế
Đảng viên bị xử lý kỷ luật toàn Đảng bộ 1986–1991 4.189 đảng viên (5,34% tổng số đảng viên)
Đảng viên bị xóa tên và khai trừ khỏi Đảng 1986–1991 1.809 đảng viên (2,30% tổng số đảng viên)
Tỷ lệ cơ sở đảng kết nạp được đảng viên mới Năm 1992 22,42% tổng số tổ chức cơ sở đảng
Số lượng đảng viên mới được kết nạp Năm 1995 3.544 đảng viên (tăng gấp hơn 3 lần năm 1992)
Cán bộ diện Thành ủy quản lý cần thay thế Năm 1990 28,00% (trên tổng số 774 cán bộ khảo sát)
Cán bộ thường vụ quận - huyện ủy phải thay thế Năm 1993 9,00% (trên tổng số cán bộ rà soát)
Tỷ lệ đảng viên nữ được kết nạp mới 1992 – 1995 1992: 22,20% ; 1993: 25,70% ; 1994: 27,89% ; 1995: 29,09%
Tỷ lệ cơ sở đảng triển khai NQ TW 3 khóa VII Cuối năm 1993 92,60% tổng số cơ sở đảng

Chương 3. Quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2001 đến năm 2013

Chương 3 phân tích tiến trình đổi mới hệ thống chính trị trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 51/2001/QH10 sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và yêu cầu quản lý đô thị loại đặc biệt. Nội dung chương phản ánh bốn mảng công tác chính:

  • Yêu cầu tiếp tục đổi mới: Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường, gia tăng dân số cơ học và áp lực hạ tầng đô thị đặt ra yêu cầu phải nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và năng lực lãnh đạo chính trị.
  • Nâng cao năng lực lãnh đạo, đổi mới công tác cán bộ và phương thức lãnh đạo của Đảng: Kiện toàn tổ chức cơ sở đảng tại các khu phố, ấp và doanh nghiệp ngoài nhà nước; thực hiện luân chuyển cán bộ; áp dụng quy trình đánh giá cán bộ gắn với kết quả công việc; đổi mới phương thức ban hành nghị quyết theo hướng chuyên đề, tập trung vào các vấn đề dân sinh bức xúc.
  • Đổi mới tổ chức bộ máy chính quyền và đẩy mạnh cải cách hành chính: Triển khai chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước; triển khai cơ chế "một cửa, một dấu", sau đó mở rộng mô hình "một cửa liên thông" tại quận, huyện và sở, ngành; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền giữa chính quyền thành phố và quận, huyện; nghiên cứu và triển khai thí điểm đề án mô hình chính quyền đô thị; ứng dụng công nghệ thông tin trong cung cấp dịch vụ công trực tuyến, công khai quy trình thủ tục và tiếp nhận phản hồi từ công dân.
  • Đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội: Chuyển dịch phương thức vận động từ hành chính hóa sang bám sát cơ sở; triển khai các phong trào xã hội hóa, xóa đói giảm nghèo; từng bước thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội đối với các chính sách phát triển kinh tế - xã hội và các dự án dân sinh tại địa phương.

Chương 4. Nhận xét và một số kinh nghiệm rút ra từ quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 4 tổng kết các đánh giá khoa học và bài học lịch sử của công trình:

  • Nhận xét tổng thể: Quá trình đổi mới hệ thống chính trị thành phố từ năm 1986 đến năm 2013 là một quá trình liên tục, chuyển đổi từ mô hình quản lý tập trung quan liêu sang hệ thống vận hành phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Đánh giá thành tựu và hạn chế:
    • Thành tựu: Giữ vững ổn định chính trị; tổ chức bộ máy được sắp xếp theo hướng tinh gọn; chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên từng bước nâng lên; cải cách hành chính đạt chuyển biến thực chất thông qua cơ chế một cửa liên thông; vai trò giám sát của Mặt trận và đoàn thể được củng cố.
    • Hạn chế: Năng lực lãnh đạo ở một số tổ chức cơ sở đảng chưa theo kịp yêu cầu; bộ máy hành chính ở một số khâu còn tình trạng trùng chéo thẩm quyền; công tác quy hoạch, luân chuyển cán bộ có lúc còn lúng túng; mức độ hài lòng của người dân đối với dịch vụ hành chính công ở một số lĩnh vực chưa cao.
  • Phân tích tác động: Luận án luận giải tác động tương hỗ giữa đổi mới hệ thống chính trị với thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, khẳng định sự đổi mới phương thức lãnh đạo và cải cách hành chính là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư và giữ vững an sinh xã hội trên địa bàn thành phố.
  • Bài học kinh nghiệm: Rút ra các bài học về bảo đảm nguyên tắc Đảng lãnh đạo toàn diện; xuất phát từ thực tiễn địa phương để đề xuất cơ chế quản lý đô thị đặc thù; phân định rõ chức năng quản lý hành chính nhà nước với sản xuất kinh doanh; coi trọng công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ; phát huy thực chất quyền làm chủ và sự đồng thuận của nhân dân.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác định 4 đóng góp mới về mặt khoa học:

  1. Phục dựng lại một cách có hệ thống quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1986 đến năm 2013 dưới góc độ khoa học lịch sử.
  2. Phân tích và làm rõ tác động qua lại của quá trình đổi mới hệ thống chính trị đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới.
  3. Đánh giá khách quan các thành tựu, hạn chế và chỉ ra nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị tại địa bàn thành phố.
  4. Rút ra các đặc điểm và bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho việc tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị thành phố trong giai đoạn hiện nay và tương lai.

Về ý nghĩa lý luận và thực tiễn:

  • Ý nghĩa lý luận: Làm rõ thêm vị trí, vai trò của từng thành tố cấu thành hệ thống chính trị (Đảng, chính quyền, Mặt trận và đoàn thể) và mối liên hệ qua lại hữu cơ giữa chúng trong tiến trình đổi mới đồng bộ; bước đầu khái quát một số nguyên tắc và quy luật đổi mới hệ thống chính trị cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong thời kỳ quá độ.
  • Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực chứng cho các cấp ủy Đảng, chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh trong việc xây dựng chủ trương, hoàn thiện cơ chế quản lý đô thị đặc thù và tinh gọn bộ máy; đóng góp tài liệu phục vụ nghiên cứu lịch sử địa phương và giảng dạy chuyên ngành Lịch sử Đảng, Lịch sử Việt Nam, Xây dựng Đảng và Quản lý hành chính nhà nước.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của công trình:

  • Về phạm vi thời gian: Mốc khảo sát kết thúc vào năm 2013 (thời điểm ban hành Hiến pháp năm 2013), do đó luận án chưa bao quát được các diễn biến mới của hệ thống chính trị thành phố trong giai đoạn từ năm 2014 trở đi, đặc biệt là việc triển khai Nghị quyết số 54/2017/QH14 và các mô hình tổ chức bộ máy chính quyền đô thị sau năm 2020.
  • Về nguồn dữ liệu: Do tính chất chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, nguồn tài liệu phân tích chủ yếu dựa trên hệ thống văn kiện, báo cáo lưu trữ thành văn của Đảng bộ và chính quyền thành phố; công trình chưa kết hợp các cuộc điều tra xã hội học định lượng quy mô lớn về mức độ hài lòng của các tầng lớp nhân dân đối với hệ thống chính trị.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng khung thời gian nghiên cứu từ năm 2014 đến nay nhằm làm rõ quá trình triển khai Hiến pháp năm 2013 và các nghị quyết đặc thù của Quốc hội đối với Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Nghiên cứu so sánh lịch sử giữa quá trình đổi mới hệ thống chính trị tại Thành phố Hồ Chí Minh với các đô thị đặc biệt hoặc đô thị loại I trực thuộc Trung ương khác trong cả nước.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Sử dụng công trình làm tài liệu tham khảo cho các môn học Lịch sử Việt Nam hiện đại, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Chính trị học, Khoa học quản lý hành chính công. Đặc biệt, hệ thống số liệu lưu trữ về công tác cán bộ, sàng lọc đảng viên giai đoạn 1986–1995 có giá trị tư liệu cao.
  • Cán bộ lãnh đạo, chuyên viên tham mưu chính sách của Thành phố Hồ Chí Minh: Tham khảo các phân tích lịch sử về sắp xếp tổ chức bộ máy, triển khai cơ chế một cửa liên thông và thí điểm chính quyền đô thị để xây dựng đề án vị trí việc làm và cải cách hành chính hiện hành.
  • Cán bộ làm công tác Đảng, Mặt trận và đoàn thể chính trị - xã hội: Tiếp thu các kinh nghiệm về quy hoạch cán bộ trẻ, cán bộ nữ, phương thức xử lý tình trạng hụt hẫng cán bộ và phương thức tập hợp quần chúng nhân dân trong điều kiện kinh tế nhiều thành phần.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vì sao tác giả luận án lựa chọn giới hạn thời gian nghiên cứu từ năm 1986 đến năm 2013 và phân kỳ thành hai giai đoạn 1986–2000 và 2001–2013? Năm 1986 là thời điểm Đảng khởi xướng đường lối đổi mới toàn diện. Năm 2013 là mốc Quốc hội khóa XIII ban hành Hiến pháp năm 2013, đánh dấu sự chuyển biến mới về tổ chức bộ máy nhà nước. Mốc phân kỳ năm 2001 được chọn do Quốc hội khóa X ban hành Nghị quyết số 51/2001/QH10 sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, tác động trực tiếp đến tổ chức và vận hành bộ máy chính quyền các cấp.

  2. Thực trạng phân loại đảng viên và xử lý kỷ luật tại Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1986–1991 diễn ra như thế nào? Theo báo cáo thực hiện Nghị quyết 11-NQ/TU, tính đến cuối năm 1991 qua phân loại tại gần 1.500 cơ sở (60% tổng số cơ sở đảng): có 35–40% đảng viên phấn đấu tốt; 50% đảng viên đủ tư cách nhưng còn mặt yếu; 10–15% thuộc loại yếu kém. Trong 5 năm (1986–1991), Đảng bộ thành phố đã kỷ luật 4.189 đảng viên (chiếm 5,34% tổng số đảng viên), trong đó khai trừ và xóa tên 1.809 đảng viên (chiếm 2,3%).

  3. Bộ máy cơ quan Thành ủy và quận - huyện ủy Thành phố Hồ Chí Minh được sắp xếp, tinh giản ra sao trong giai đoạn 1988–1990? Thực hiện Chương trình hành động tháng 9/1988 theo Nghị quyết Trung ương 5 khóa VI, đến năm 1990 cơ quan Thành ủy đã giảm 3 ban: nhập Ban Công nghiệp với Ban Kinh tế thành Ban Kinh tế Thành ủy; nhập Ban Nông nghiệp vào Phân ban nông thôn; giải thể Ban Đối ngoại Thành ủy chuyển nhiệm vụ về Sở Ngoại vụ và Văn phòng Thành ủy. Cấp quận, huyện giải thể 2 ban là Ban Dân vận và Ban Nội chính.

  4. Khảo sát công tác cán bộ diện Thành ủy quản lý năm 1990 và rà soát cán bộ năm 1993 phản ánh thực tế gì? Khảo sát năm 1990 trên 774 cán bộ diện Thành ủy quản lý ghi nhận: 15% hoàn thành tốt và có triển vọng; 53% hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn mặt yếu; 11% yếu cả năng lực và phẩm chất; 17% lớn tuổi sức khỏe yếu; tổng cộng có 28% cán bộ phải thay thế. Năm 1993, rà soát thường vụ quận - huyện ủy xác định có 9% phải thay thế, đồng thời đưa vào quy hoạch 1.467 cán bộ dự bị (nữ chiếm 21,93%, dưới 40 tuổi chiếm gần 60%).

  5. Khái niệm và đặc thù của hệ thống chính trị Việt Nam được luận án xác định theo cơ sở lý luận nào? Luận án xác định khái niệm hệ thống chính trị dựa trên các văn kiện chính thức của Đảng từ Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (1989), Cương lĩnh 1991 và Hiến pháp 1992. Cấu trúc gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội. Bốn đặc thù cơ bản gồm: tính nhất nguyên chính trị; kết hợp tính giai cấp sâu sắc với tính nhân dân rộng rãi; kết hợp dân chủ rộng rãi với kỷ cương pháp luật; bảo đảm tập trung thống nhất của Trung ương đi đôi với phát huy tính chủ động của cơ sở.

Kết luận

Luận án tiến sĩ lịch sử của tác giả Thạch Kim Hiếu là công trình chuyên khảo phục dựng có hệ thống quá trình đổi mới hệ thống chính trị tại Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1986 đến năm 2013 trên cả ba thành tố: Đảng bộ, chính quyền và Mặt trận Tổ quốc cùng các đoàn thể. Dựa trên nguồn tư liệu gốc phong phú và phương pháp lịch sử - logic, công trình đã làm rõ tính tất yếu khách quan, các bước điều chỉnh tổ chức bộ máy, công tác cán bộ và cải cách hành chính của thành phố qua hai giai đoạn 1986–2000 và 2001–2013. Các phân tích khoa học và bài học kinh nghiệm đúc kết từ luận án cung cấp luận cứ lịch sử phục vụ việc nghiên cứu học thuật và công tác quản lý đô thị hiện nay.