Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Về sự biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam" được tác giả Nguyễn Văn Sơn thực hiện tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (năm 2017), thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số: 62 22 03 02), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trần Ngọc Linh và PGS.TS. Vũ Hồng Sơn.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Theo lập luận của tác giả, quy luật "quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất" là quy luật xã hội cơ bản, xuyên suốt quá trình phát triển của lịch sử nhân loại. Tại Việt Nam, trước thời kỳ đổi mới, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từng được xác lập một cách nôn nóng, xóa bỏ sớm các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa trong khi trình độ của lực lượng sản xuất còn ở mức thấp. Sự không phù hợp này đã kìm hãm lực lượng sản xuất, dẫn tới cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội.

Từ năm 1986, đường lối đổi mới đã điều chỉnh quan hệ sản xuất cho phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất thông qua việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, thừa nhận sự tồn tại của nhiều loại hình quan hệ sản xuất, trong đó quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa giữ vai trò chủ đạo. Dù vậy, thực tiễn vận hành cho thấy quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa vẫn bộc lộ nhiều bất cập, yếu kém, chưa giải phóng toàn diện sức sản xuất. Việc xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ là quá trình chưa có tiền lệ lịch sử, đòi hỏi phải vừa làm vừa tìm tòi, tổng kết. Khoảng trống nghiên cứu mà tác giả xác định là sự thiếu vắng một công trình triết học khảo sát toàn diện sự biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trên cả ba mặt (sở hữu, quản lý, phân phối) trong suốt chiều dài thời kỳ đổi mới.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là trên cơ sở phân tích lý luận và thực trạng biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đề xuất các phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy những biến đổi tích cực, hạn chế những biến đổi tiêu cực để thúc đẩy sản xuất phát triển.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 3 nội dung:

  1. Nghiên cứu một số quan điểm lý luận cơ bản về quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và các nhân tố tác động đến sự biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam.
  2. Phân tích thực trạng sự biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
  3. Đưa ra một số phương hướng và giải pháp chủ yếu để phát huy những biến đổi tích cực, hạn chế những biến đổi tiêu cực của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự vận động, biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, cụ thể hóa trong hai thành phần kinh tế là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Không gian nghiên cứu tại Việt Nam từ mốc khởi đầu đổi mới năm 1986 đến thời điểm thực hiện luận án (giai đoạn 2015–2017).
  • Phạm vi nội dung: Trong kinh tế nhà nước, luận án tập trung khảo sát các doanh nghiệp nhà nước (bộ phận nòng cốt). Trong kinh tế tập thể, luận án tập trung khảo sát các hợp tác xã (bộ phận trụ cột).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu đi trước thành ba nhóm chủ đề chính:

Nhóm chủ đề nghiên cứu Tác giả và công trình tiêu biểu trong văn bản Nội dung chính đã đạt được
1. Lý luận chung về quan hệ sản xuất XHCN Vũ Hồng Sơn (bài báo năm 2014); Phùng Hữu Phú và cs (sách năm 2016); Nguyễn Đức Luận (các bài báo 2012, 2016); Trần Văn Phòng (đề tài khoa học); Lương Minh Cừ, Vũ Văn Thức (sách năm 2010); Lương Minh Cừ (luận án năm 1996); Nguyễn Kế Tuấn (sách năm 2005); Lương Việt Hải (sách năm 2007); Chử Văn Lâm (sách năm 2006); Nguyễn Văn Thức (sách năm 2008, luận án năm 2002); Nguyễn Văn Thạo, Nguyễn Hữu Đạt (sách năm 2004); Lương Xuân Quỳ (sách năm 2004); Phú Giang, Võ Đại Lược, Nguyễn Cảnh Nam, Nguyễn Thành Nam, Phạm Quang Trung; Lý Bân (sách năm 2000). Phân tích quan niệm của C.Mác, V.I.Lênin về sở hữu, phân biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng; làm rõ tiêu chí hiện đại và tiến bộ của quan hệ sản xuất; khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; phân tích bản chất sở hữu tập thể và thể chế phân phối sản phẩm.
2. Thực trạng biến đổi của quan hệ sản xuất XHCN Phạm Quý Thọ (sách năm 2016); Phạm Thế Anh (bài báo năm 2014); Nguyễn Đức Độ (bài báo năm 2016); Ban Kinh tế Trung ương (sách năm 2015); Phùng Thế Hùng (luận án năm 2014); Hội đồng Khoa học các Cơ quan Đảng Trung ương (sách năm 2012 với các bài viết của Cao Viết Sinh, Trần Thị Minh Châu); Nguyễn Thị Hà Đông (luận án năm 2013); Trương Giang Long (sách năm 2004); Thu Hường (bài báo năm 2015). Phản ánh quá trình chuyển đổi thể chế kinh tế qua 30 năm; đánh giá thực trạng nợ của doanh nghiệp nhà nước (1.271 nghìn tỷ đồng năm 2013, tương đương 46,2% GDP); chỉ ra bất cập trong cổ phần hóa, tình trạng thua lỗ tại một số tập đoàn (Vinashin, Vinalines); phân tích chuyển đổi mô hình hợp tác xã kiểu mới.
3. Giải pháp phát triển quan hệ sản xuất XHCN Phùng Hữu Phú và cs (2016); Lương Xuân Quỳ (2014); Nguyễn Hữu Đạt (2014); Hội đồng Khoa học các Cơ quan Trung ương Đảng (2012); Tạ Ngọc Tấn (2014); Phạm Việt Dũng; Tô Thị Ánh Dương; Nguyễn Thị Hà; Liên minh Hợp tác xã Việt Nam (2016); Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Vụ Hợp tác (2014); Nguyễn Văn Giàu; Lê Mạnh Hùng; Bùi Văn Huyền. Đề xuất tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước, thoái vốn ngoài ngành, đổi mới quản trị theo chuẩn mực quốc tế; hoàn thiện khung pháp lý theo Luật Hợp tác xã năm 2012, tăng cường liên kết chuỗi sản xuất và chuyển giao khoa học công nghệ cho kinh tế tập thể.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết

Tác giả chỉ ra rằng các công trình trước đây phần lớn tiếp cận vấn đề dưới góc độ kinh tế học thuần túy hoặc quản lý kinh tế chuyên ngành, chỉ khảo sát riêng rẽ từng mặt của quan hệ sản xuất (hoặc sở hữu, hoặc quản lý, hoặc phân phối), hoặc chỉ tập trung vào một phân khúc đơn lẻ (tập đoàn kinh tế nhà nước hoặc hợp tác xã nông nghiệp) trong các khoảng thời gian ngắn hạn.

Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống dưới góc độ triết học duy vật lịch sử về sự biến đổi của toàn bộ chỉnh thể quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa (kết hợp cả ba mặt sở hữu, tổ chức quản lý, phân phối) trong suốt tiến trình đổi mới từ năm 1986 đến nay, gắn liền với việc phân tích sự tương tác giữa hai thành phần nền tảng là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Lý luận nền tảng: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các văn kiện, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội (từ Đại hội VI đến Đại hội XII).
  • Khái niệm và phạm trù trung tâm:
    • Quan hệ sản xuất: Khái niệm duy vật lịch sử chỉ quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất. Đây là quan hệ kinh tế cơ bản, cấu thành cơ sở hạ tầng của xã hội, bao gồm ba mặt: quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức quản lý sản xuất, và quan hệ trong phân phối sản phẩm lao động.
    • Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa: Quan hệ sản xuất dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất dưới hai hình thức là sở hữu toàn dân (nhà nước) và sở hữu tập thể; vận hành nhằm phục vụ lợi ích của người lao động, gắn liền với nguyên tắc phân phối theo lao động và bảo đảm an sinh xã hội.
    • Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất: Đòi hỏi hình thức sở hữu, phương thức quản lý và cơ chế phân phối phải thích ứng với tính chất, trình độ của công cụ lao động và người lao động.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp lịch sử và lôgíc: Khảo sát sự hình thành, biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa theo tiến trình thời gian từ năm 1986 đến giai đoạn 2015–2017, đồng thời rút ra bản chất quy luật chi phối sự biến đổi đó.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Mổ xẻ các mặt cấu thành của quan hệ sản xuất (sở hữu, quản lý, phân phối) trong từng thành phần kinh tế, sau đó khái quát thành bức tranh chung về thực trạng và vấn đề đặt ra.
  • Phương pháp quy nạp và diễn dịch: Đi từ các dữ liệu thực tế tại các doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã để đúc kết các luận điểm triết học về tính phù hợp của quan hệ sản xuất.
  • Phương pháp so sánh: So sánh thực trạng quan hệ sản xuất thời kỳ trước đổi mới với thời kỳ đổi mới; so sánh giữa các hình thức tổ chức kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Nguồn tư liệu của luận án bao gồm các tác phẩm kinh điển của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin; Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X, XI, XII; Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013; Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã (năm 1996, 2003, 2012); các báo cáo và ấn phẩm nghiên cứu của Ban Kinh tế Trung ương, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, cùng các số liệu thống kê kinh tế của Tổng cục Thống kê và các bộ, ngành.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học theo ba nhóm nội dung: lý luận chung về quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, thực trạng biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, và giải pháp phát triển quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới.

Tác giả chỉ ra các thành tựu của những nghiên cứu trước trong việc phân định quyền sở hữu và quyền sử dụng, nhận diện bản chất kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, và tổng kết các mô hình tập đoàn, hợp tác xã. Chương này khẳng định tính cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu đề tài dưới góc độ triết học nhằm giải quyết 5 vấn đề cốt lõi: hệ thống hóa lý luận, phân tích nhân tố tác động, làm rõ vai trò, đánh giá thực trạng biến đổi hai chiều (tích cực/tiêu cực), và đề xuất giải pháp toàn diện trên cả ba mặt của quan hệ sản xuất.

Chương 2: Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận chung

Chương 2 tập trung phân tích bản chất, kết cấu và vai trò của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, cùng các nhân tố tác động đến sự biến đổi của quan hệ này:

  • Khái niệm và kết cấu ba mặt: Phân tích quan điểm Mác - Lênin khẳng định quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất là quan hệ xuất phát, quyết định quan hệ tổ chức quản lý và phân phối; tuy nhiên, quan hệ quản lý và phân phối có tính độc lập tương đối và tác động trở lại đối với sở hữu.
  • Vai trò của quan hệ sản xuất XHCN: Giữ vai trò nền tảng và chủ đạo, định hướng sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần đi lên chủ nghĩa xã hội, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội.
  • Những nhân tố tác động đến sự biến đổi:
    • Sự vận động và nâng cao trình độ của lực lượng sản xuất trong nước dưới tác động của tiến bộ khoa học và công nghệ.
    • Bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, hội nhập quốc tế và sự phát triển của nền kinh tế thị trường.
    • Sự đổi mới tư duy lý luận và sự hoàn thiện đường lối, thể chế, pháp luật của Đảng và Nhà nước.

Chương 3: Thực trạng sự biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra

Chương 3 trình bày các biểu hiện cụ thể của sự biến đổi trên thực tế và những số liệu phản ánh thực trạng:

  • Biến đổi về quan hệ sở hữu: Chuyển đổi từ mô hình đơn nhất hai hình thức sở hữu (toàn dân và tập thể) sang nền kinh tế đa sở hữu. Doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp lại, giảm mạnh về số lượng qua các giai đoạn (từ 12.000 doanh nghiệp trước đổi mới xuống còn 3.283 doanh nghiệp vào năm 2010; tính đến 30/9/2014 cả nước sắp xếp được 6.875 doanh nghiệp, trong đó cổ phần hóa 4.132 doanh nghiệp; giai đoạn 2011–2015 sắp xếp 558 doanh nghiệp, cổ phần hóa 478 doanh nghiệp). Kinh tế tập thể chuyển đổi từ hợp tác xã kiểu cũ sang hợp tác xã kiểu mới theo Luật Hợp tác xã năm 2012 với khoảng 20.000 hợp tác xã.
  • Biến đổi về quan hệ tổ chức, quản lý: Xóa bỏ cơ chế hành chính bao cấp, phân định quyền sở hữu nhà nước và quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp; hình thành các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước giữ vai trò chi phối ở các ngành then chốt (sản xuất điện chiếm 94%, than 97%, thuốc lá 63%, xi măng 59%, dầu khí và viễn thông chiếm thị phần lớn). Các hợp tác xã chuyển sang cung ứng dịch vụ hỗ trợ kinh tế hộ.
  • Biến đổi về quan hệ phân phối: Thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức độ đóng góp vốn và thông qua hệ thống an sinh, phúc lợi xã hội.
Danh mục bảng số liệu trong Chương 3 Nội dung phản ánh trong văn bản Vị trí trang
Bảng 3.1 Cơ cấu GDP của các thành phần kinh tế Trang 101
Bảng 3.2 Cơ cấu GDP của các thành phần kinh tế năm 2010-2014 Trang 110
Bảng 3.3 Giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của các doanh nghiệp Trang 113
  • Những vấn đề đặt ra: Hiệu quả sản xuất kinh doanh của khu vực doanh nghiệp nhà nước còn thấp so với nguồn lực nắm giữ; quy mô nợ lớn (tính đến 31/12/2013 nợ của doanh nghiệp nhà nước đạt 1.271 nghìn tỷ đồng, tương đương 46,2% GDP, tập trung ở Tập đoàn Dầu khí 163,1 nghìn tỷ, EVN 78,6 nghìn tỷ, Vinacomin 49,6 nghìn tỷ); sai phạm gây thua lỗ nặng tại Vinashin, Vinalines; cổ phần hóa còn chậm và tỷ lệ vốn nhà nước nắm giữ còn cao (trên 50%); kinh tế hợp tác xã phần lớn còn nhỏ bé, thiếu vốn và công nghệ.

Chương 4: Một số phương hướng, giải pháp chủ yếu để phát huy những biến đổi tích cực, hạn chế những biến đổi tiêu cực của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Chương 4 đề xuất hệ thống quan điểm chỉ đạo và các nhóm giải pháp:

  • Phương hướng chủ yếu: Kiên định định hướng xã hội chủ nghĩa và vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước; tuân thủ quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất; gắn xây dựng quan hệ sản xuất với hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
  • Các nhóm giải pháp:
    • Về quan hệ sở hữu: Đẩy mạnh tái cơ cấu, cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước tại các lĩnh vực phi then chốt; tách bạch quyền sở hữu và quyền sử dụng; đa dạng hóa sở hữu trong doanh nghiệp nhà nước; nhân rộng các mô hình hợp tác xã kiểu mới.
    • Về quan hệ tổ chức quản lý: Tách chức năng quản lý nhà nước về kinh tế khỏi chức năng đại diện chủ sở hữu vốn; hoàn thiện cơ chế đại diện chủ sở hữu; áp dụng quản trị chuẩn mực quốc tế cho các tập đoàn, tổng công ty; tăng cường công tác thanh tra, kiểm toán tài chính; hỗ trợ đào tạo nhân lực và chuyển giao công nghệ cho hợp tác xã.
    • Về quan hệ phân phối: Thực hiện nguyên tắc phân phối công bằng theo lao động và đóng góp nguồn lực; hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp/hợp tác xã và người lao động; hoàn thiện chính sách an sinh xã hội.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn

Theo văn bản luận án, các điểm mới khoa học được tác giả xác định bao gồm:

  1. Nghiên cứu tổng hợp các nhân tố tác động đến sự biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường, công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế tại Việt Nam.
  2. Làm rõ cơ sở lý luận triết học về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và vai trò nền tảng của kinh tế nhà nước cùng kinh tế tập thể trong thời kỳ đổi mới.
  3. Phân tích hệ thống thực trạng biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trên cả ba phương diện (sở hữu, quản lý, phân phối) qua các giai đoạn từ năm 1986 đến nay.
  4. Chỉ ra các mâu thuẫn, tồn tại thực tế của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa hiện nay (vấn đề nợ công, hiệu quả quản trị doanh nghiệp nhà nước, tình trạng trì trệ của hợp tác xã).
  5. Đề xuất hệ thống phương hướng và giải pháp đồng bộ trên cả ba mặt của quan hệ sản xuất nhằm thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

Luận án kiến nghị Đảng và Nhà nước tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đi đôi với niêm yết trên thị trường chứng khoán; đổi mới mô hình quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp; tăng cường chính sách ưu đãi, hỗ trợ đào tạo và liên kết thị trường để phát triển kinh tế hợp tác xã kiểu mới theo Luật Hợp tác xã năm 2012.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế nghiên cứu: Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu do tác giả công bố, luận án giới hạn việc khảo sát thực trạng trong hai thành phần kinh tế nòng cốt là doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã, chưa thể bao quát toàn bộ các tổ chức kinh tế khác thuộc khu vực công hay các mô hình kinh tế hỗn hợp phức tạp. Dữ liệu thực tế và các báo cáo khảo sát tập trung chủ yếu đến giai đoạn 2014–2016.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi, đánh giá sự biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa sau Đại hội XII của Đảng; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế kiểm soát quyền lực và giám sát vốn nhà nước tại các tập đoàn kinh tế; đánh giá tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến sự biến đổi của lực lượng sản xuất và yêu cầu điều chỉnh quan hệ sản xuất tương ứng.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Triết học (Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử), Kinh tế chính trị Mác - Lênin và Quản lý kinh tế.
    • Giảng viên giảng dạy các môn lý luận chính trị trong hệ thống các trường đại học, học viện và trường chính trị các tỉnh, thành phố.
    • Cán bộ làm công tác tham mưu chính sách, quản lý nhà nước về doanh nghiệp và kinh tế tập thể tại các bộ, ngành và địa phương.
  • Phần nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu:
    • Chương 1 với hệ thống điểm luận tư liệu phong phú về các công trình nghiên cứu sở hữu, quản lý và phân phối tại Việt Nam.
    • Tiết 2.1 và Tiết 3.1 cung cấp khung phân tích ba mặt của quan hệ sản xuất kết hợp với dữ liệu tổng kết thực tiễn quá trình cổ phần hóa và chuyển đổi hợp tác xã.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thể hiện cụ thể qua những thành phần kinh tế nào?
Luận án xác định quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa được thể hiện trong hai thành phần kinh tế cơ bản là kinh tế nhà nước (với nòng cốt là các doanh nghiệp nhà nước) và kinh tế tập thể (với trụ cột là các hợp tác xã).

2. Thực trạng nợ của các doanh nghiệp nhà nước được luận án phản ánh qua con số cụ thể nào?
Dẫn theo công trình nghiên cứu của Phạm Thế Anh, luận án nêu rõ tính đến ngày 31/12/2013, tổng quy mô nợ của các doanh nghiệp nhà nước lên tới 1.271 nghìn tỷ đồng, tăng 16,4% so với năm 2012 và tương đương với 46,2% GDP cả nước; trong đó nợ tập trung tại các tập đoàn, tổng công ty lớn như Tập đoàn Dầu khí (163,1 nghìn tỷ đồng), Tập đoàn Điện lực (78,6 nghìn tỷ đồng), Tập đoàn Than và Khoáng sản (49,6 nghìn tỷ đồng).

3. Số lượng doanh nghiệp nhà nước đã biến đổi như thế nào trong quá trình đổi mới theo số liệu của luận án?
Số lượng doanh nghiệp nhà nước giảm mạnh từ khoảng 12.000 doanh nghiệp ở thời kỳ trước đổi mới xuống còn 3.283 doanh nghiệp vào năm 2010. Tính đến ngày 30/9/2014, cả nước đã thực hiện sắp xếp được 6.875 doanh nghiệp, trong đó cổ phần hóa được 4.132 doanh nghiệp. Giai đoạn 2011–2015 cả nước sắp xếp được 558 doanh nghiệp, trong đó cổ phần hóa được 478 doanh nghiệp.

4. Luận án chỉ ra những ngành then chốt nào mà tập đoàn kinh tế nhà nước giữ vị trí chi phối thị trường?
Các tập đoàn kinh tế nhà nước nắm giữ tỷ trọng chi phối trong các ngành mũi nhọn: ngành sản xuất và truyền tải điện chiếm 94%, khai thác than chiếm 97%, sản xuất thuốc lá chiếm 63%, sản xuất xi măng chiếm 59%, cùng với thị phần lớn trong lĩnh vực dầu khí và bưu chính viễn thông.

5. Vì sao luận án nhấn mạnh việc tách quyền sở hữu và quyền sử dụng tư liệu sản xuất trong các doanh nghiệp nhà nước?
Luận án phân tích theo quan điểm của C.Mác rằng việc tách rời quyền sở hữu (thuộc về toàn dân do Nhà nước đại diện) và quyền sử dụng (giao cho doanh nghiệp tự chủ kinh doanh) là cơ sở lý luận quan trọng để đổi mới phương thức quản lý, xóa bỏ cơ chế bao cấp, nâng cao tính tự chủ và trách nhiệm thị trường của doanh nghiệp nhà nước.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Sơn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới. Công trình làm rõ sự biến đổi thực tế trên ba mặt sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối tại khu vực doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã, đồng thời chỉ ra những bất cập, mâu thuẫn cần tháo gỡ. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống các phương hướng và giải pháp đồng bộ nhằm phát huy những mặt tích cực, hạn chế các tác động tiêu cực để tiếp tục giải phóng lực lượng sản xuất và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.