PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Thế giới ngày càng tiến bộ nhanh chóng và mạnh mẽ trong tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, y tế, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, … Con ngƣời vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự tiến bộ đó. Khi nguồn nhân lực đƣợc xem là yếu tố quyết định sự phát triển, giáo dục trở thành phƣơng tiện chủ yếu quyết định chất lƣợng nguồn lực này. Nhận thấy điều này, cũng nhƣ các quốc gia khác, Việt Nam xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu, là con đƣờng cơ bản để đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nƣớc, đúng nhƣ lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Vì lợi ích mƣời năm trồng cây - Vì lợi ích trăm năm trồng ngƣời.” Theo luật giáo dục, mục tiêu của giáo dục là “Đào tạo con ngƣời Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tƣởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dƣỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [23].
Giáo dục nƣớc ta đang từng bƣớc đổi mới theo 4 trụ cột giáo dục của thế kỉ XXI, mà thực chất là cách tiếp cận kĩ năng sống: “Học để biết, học để làm, học để tự khẳng định mình và học để cùng chung sống”. Theo định hƣớng này, một trong số 5 nội dung quan trọng của phong trào thi đua “Xây dựng trƣờng học thân thiện, học sinh tích cực” do Bộ GD&ĐT phát động là tăng cƣờng rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh. Nhƣ vậy, nền giáo dục Việt Nam trong thời đại mới không thể xem nhẹ giáo dục kĩ năng cơ bản cần thiết nhằm phát triển ngƣời học một cách toàn diện. Xã hội đƣơng đại luôn tìm ẩn nhiều nguy cơ tác động trực tiếp tới đạo đức, phẩm chất, nhân cách, lối sống của con ngƣời, trong đó có giới trẻ.
Lứa tuổi HS là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, giàu ƣớc mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, thích khám phá. Nhƣng về mặt tâm sinh lí lứa tuổi, các em còn hiểu biết chƣa sâu về xã hội, thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị kích động, lôi kéo vào con đƣờng 1 Luan van xấu, tệ nạn của xã hội. Những năm gần đây đang bùng phát hiện tƣợng HS nghiện game đánh cắp tiền của cha mẹ, nói dối thầy cô, không ý thức đƣợc việc học tập. Nhiều trẻ rất thiếu kĩ năng làm việc nhà, kĩ năng tự phục vụ, kĩ năng giao tiếp với ông bà, cha mẹ, thầy cô, không có khả năng tự học, không phụ giúp cha mẹ đƣợc việc gì ngoài việc học.
Các em bị lúng túng hoặc không biết xử lí các tình huống xảy ra trong cuộc sống, thiếu tự tin trong giao tiếp, thiếu bản lĩnh vƣợt qua khó khăn, thiếu sáng kiến và dễ nản chí. Bạo lực gia tăng, tình trạng mang thai, phạm pháp, nghiện hút, tự tử, nhiễm HIV… càng có xu hƣớng lan rộng. Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng này là do lớp trẻ thiếu các KNS. Do đó, GDKNS trong xã hội hiện đại có vai trò quan trọng, GDKNS sẽ tác động tới hành vi của con ngƣời và góp phần tạo ra lối sống lành mạnh.
Chính vì vậy, giáo dục trong xã hội đƣơng đại vừa phải hƣớng vào việc trang bị kiến thức, kĩ năng nghề nghiệp vừa phải giáo dục KNS cho các thành viên trong xã hội để họ có thể thích ứng với sự phát triển nhanh chóng của xã hội và có đƣợc cuộc sống lành mạnh. Lứa tuổi học sinh Tiểu học là lứa tuổi tạo nền tảng cho cuộc đời con ngƣời, cho sự hình thành và phát triển về trí tuệ, nhân cách, hành vi của mỗi con ngƣời. Do đó, việc GDKNS cho các em có vai trò rất quan trọng. GDKNS sẽ giúp các em có đƣợc kiến thức và kĩ năng cần thiết để rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và cộng đồng; có khả năng ứng phó tích cực trƣớc sức ép cuộc sống và sự lôi kéo của bạn bè cùng trang lứa; biết ứng xử phù hợp trong các tình huống của cuộc sống.
Nó giúp tăng cƣờng khả năng xã hội của các em, giúp các em sống an toàn, khỏe mạnh. GDKNS sẽ góp phần tạo ra sự phát triển hài hòa và cân bằng ở trẻ, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển nhân cách của các em trong tƣơng lai. Nếu thiếu hụt KNS, HS sẽ không thể thực hiện tốt nhiệm vụ đối với bản thân, gia đình và cộng đồng. HS lứa tuổi Tiểu học, nhất là HS lớp 4, là lớp học đầu tiên của giai đoạn cuối cấp ( lớp 4 và 5), rất ham tìm tòi, khám phá, song còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ dàng học theo, bắt chƣớc những thói hƣ, tật xấu.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, sự bùng nổ thông tin nhƣ vũ bão, các em thƣờng xuyên chịu sự tác động từ những yếu tố tích cực lẫn tiêu cực. Tiểu học là bậc học nền tảng nên việc GDKNS cho HS lứa tuổi này trở nên cần thiết và cấp bách hơn bao giờ hết. 2 Luan van Chính vì thế, dựa trên mục tiêu chung, mục tiêu của GD Tiểu học là “nhằm giúp HS hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để HS tiếp tục Trung học cơ sở” [23]. Nói cách khác, việc giáo dục trong trƣờng phổ thông ở nƣớc ta, trong đó có nhà trƣờng TH, không thể chỉ đặt nặng việc dạy kiến thức, “dạy chữ” mà còn rất cần chú trọng đến dạy KNS, “dạy ngƣời”.
Đến nay, nội dung về KNS đã đƣợc giảng dạy ở rất nhiều quốc gia trên thế giới.Bắt nhịp với xu hƣớng giáo dục của quốc tế, giai đoạn gần đây, giáo dục Việt Nam chủ trƣơng tăng cƣờng GDKNS cho HS. Từ năm 2010 - 2011, Bộ GD&ĐT đã chính thức đƣa GDKNS vào các trƣờng phổ thông bằng cách giáo dục thông qua chƣơng trình học và các hoạt động có tiềm năng khác, bao gồm : thông qua các môn học; thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, thông qua hoạt động ngoại khóa, thông qua hoạt động Đội, Sao Nhi đồng,… Trong đó, hoạt động trải nghiệm với đặc trƣng là hoạt động giáo dục, dƣới dự hƣớng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, từng cá nhân HS đƣợc tham gia trực tiếp vào các hoạt động thực tiễn khác nhau của đời sống nhà trƣờng cũng nhƣ ngoài xã hội với tƣ cách là chủ thể của hoạt động, qua đó phát triển năng lực tâm lí xã hội, năng lực thực hiện, phẩm chất nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân, nên GDKNS thông qua hoạt động này thƣờng tạo hứng thú ở HS, mang lại hiệu quả giáo dục cao. Ở bậc Tiểu học, nội dung GDKNS thông qua tổ chức HĐTN chƣa có chƣơng trình cụ thể và chƣa sát với từng giai đoạn lứa tuổi, nhất là khối lớp 4. Hƣớng dẫn thực hiện GDKNS chƣa có những lƣu ý phù hợp đặc điểm HS và điều kiện địa phƣơng khiến thực tế GDKNS không tránh khỏi khó khăn, lúng túng.
Tại các trƣờng Tiểu học quận Thủ Đức, TPHCM, trong những năm gần đây, một số biện pháp GDKNS còn bị bỏ ngõ. HĐTN còn chƣa đƣợc tổ chức thực hiện nhiều ở hầu hết các trƣờng. Xuất phát từ những lí do nêu trên, đề tài “Giáo dục kĩ năng sống thông qua tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh lớp 4 tại quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh” đƣợc triển khai nghiên cứu, nhƣ là một giải pháp góp phần tăng hiệu quả GDKNS, hƣớng đến nâng cao chất lƣợng giáo dục Tiểu học. Mục đích nghiên cứu : Dựa trên cơ sở lí luận và khảo sát thực trạng, nghiên cứu đề xuấtbiện pháp, nội dung, hình thức tổ chức và quy trình tổ chức HĐTN phù hợp với HS lớp 4 nhằm GDKNS cho các em.
Khách thể, đối tƣợng nghiên cứu 3.1 Khách thể nghiên cứu Hoạt động trải nghiệm nhằm giáo dục KNS cho HS lớp 4 ở TH.2 Đối tƣợng nghiên cứu Mối quan hệ giữa nội dung giáo dục KNS với hoạt động trải nghiệm. Giả thuyết nghiên cứu Nếu việc tổ chức hoạt động trải nghiệm cho HS lớp 4 lựa chọn đƣợc các biện pháp, nội dung, hình thức tổ chức và quy trình tổ chức theo hƣớng đƣa HS vào các tình huống thực thì sẽ hình thành và phát triển đƣợc các KNS cho HS. Nhiệm vụ nghiên cứu: Nhằm đạt đƣợc mục đích nghiên cứu đã xác định, nhiệm vụ nghiên cứu cần thực hiện gồm các nhiệm vụ sau đây: - Làm rõ cơ sở lí luận về KNS, về HĐTN, về GDKNS cho HS lớp 4 thông qua tổ chức HĐTN tại trƣờng TH. - Khảo sát các đối tƣợng CBQL, TPTĐ, GVCN và PHHS, tìm hiểu thực trạng GDKNS cho HS lớp 4 thông qua tổ chức HĐTN tại 4 trƣờng TH quận Thủ Đức : Linh Tây, Nguyễn Trung Trực, Hoàng Diệu, Lƣơng Thế Vinh.
- Đề xuất biện pháp tổ chức HĐTN nhằm GDKNS cho HS. - Thực nghiệm sƣ phạm để kiểm nghiệm tính khoa học và khả thi của nội dung, quy trình, hình thức tổ chức HĐTN nhằm GDKNS cho HS đã đề xuất. Giới hạn phạm vi nghiên cứu 6.1 Về nội dung - Khảo sát các đối tƣợng CBQL, TPTĐ, GVCN và PHHS về thực trạng nhận thức, mức độ thực hiện hoạt động, việc thiết kế giáo án; căn cứ để đánh giá KNS của HS và sự phối hợp của các LLGD trong việc GDKNS cho HS lớp 4 thông qua tổ chức HĐTN tại 4 trƣờng TH quận Thủ Đức, TP HCM. 4 Luan van - Thực nghiệm sƣ phạm quy trình, hình thức tổ chức HĐTN.2 Về địa bàn và thời gian - Khảo sát các đối tƣợng CBQL, TPTĐ, GVCN và PHHS khối lớp 4 tại 4 trƣờng TH quận Thủ Đức: Linh Tây, Nguyễn Trung Trực, Hoàng Diệu, Lƣơng Thế Vinh vào tháng cuối tháng 02/2017.
- Chọn trƣờng TH Linh Tây, quận Thủ Đức, TP HCM là địa bàn thực nghiệm sƣ phạm từ tháng 03/2017 đến tháng hết tháng 4/2017 (8 tuần). Phƣơng pháp nghiên cứu 7.1 Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu lí luận 7.1 Phương pháp phân tích lịch sử - logic: để tổng quan tƣ liệu lịch sử trong nghiên cứu vấn đề, hệ thống hóa các quan điểm và lí thuyết có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.2 Phương pháp so sánh: để tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế, so sánh, chọn lọc những thành tựu lí luận và kinh nghiệm giáo dục phù hợp với tƣ tƣởng của đề tài.