Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ y học với đề tài "Nghiên cứu xây dựng các bảng từ thính lực lời tiếng Việt ứng dụng đo sức nghe lời cho trẻ em tuổi học đường (6 đến 15 tuổi)" do nghiên cứu sinh Phạm Tiến Dũng thực hiện tại Trường Đại học Y Hà Nội (năm 2024), thuộc chuyên ngành Tai - Mũi - Họng (mã số: 9720155), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Cao Minh Thành và PGS.TS. Nguyễn Văn Lợi.

Trong thực hành thính học lâm sàng, đo sức nghe lời (SNL) là phương pháp sử dụng chất liệu ngôn ngữ (từ thử, câu thử) nhằm đánh giá chức năng quan trọng nhất của cơ quan thính giác: khả năng nghe hiểu lời nói phục vụ giao tiếp và học tập. Khác với đo sức nghe đơn âm (chỉ ghi nhận khả năng phát hiện các tần số âm thanh đơn lẻ), đo sức nghe lời phản ánh trực tiếp sự tiếp nhận và xử lý tín hiệu âm thanh ngôn ngữ tại hệ thống thính giác trung ương và vỏ não. Tình trạng nghe kém ở trẻ em học đường—kể cả ở mức độ tối thiểu với ngưỡng nghe trung bình đường khí (PTA) từ 16 dB đến 25 dB—vẫn gây cản trở đáng kể đến quá trình phát triển ngôn ngữ, khả năng nhận thức và tiếp thu bài giảng, đặc biệt trong môi trường có nhiều tiếng ồn như lớp học. Các thống kê quốc tế ghi nhận tỷ lệ nghe kém ở trẻ em học đường dao động trong khoảng 2,8% - 10%; tại Hà Nội, nghiên cứu của Nguyễn Tuyết Xương và cộng sự trên nhóm trẻ tiền học đường (2-5 tuổi) ghi nhận tỷ lệ nghe kém các mức độ là 4,4%.

Tại Việt Nam, các bảng từ thử thính lực lời trước đây chủ yếu được xây dựng cho người lớn (công trình của Ngô Ngọc Liễn năm 1977, Nguyễn Hữu Khôi năm 1986, Nguyễn Thị Hằng năm 2017) hoặc dành cho trẻ nhỏ dưới 6 tuổi với sự trợ giúp của tranh minh họa (Lê Hồng Anh năm 2020). Trẻ em trên 15 tuổi có thể sử dụng bảng từ của người lớn. Do đó, tồn tại một khoảng trống nghiên cứu về chất liệu ngôn ngữ chuẩn hóa dành riêng cho trẻ em lứa tuổi học đường từ 6 đến 15 tuổi—độ tuổi có sự phát triển vốn từ vượt bậc so với trẻ dưới 6 tuổi nhưng các từ ngữ trong bảng từ người lớn (từ thập niên 1970 - 1980) lại không hoàn toàn thông dụng. Luận án được triển khai nhằm giải quyết trực tiếp khoảng trống này.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể:

  1. Xây dựng các bảng từ thính lực lời tiếng Việt cho trẻ em tuổi học đường từ 6 đến 15 tuổi.
  2. Ứng dụng các bảng từ thính lực lời tiếng Việt đã xây dựng để đo sức nghe lời cho trẻ em tuổi học đường (xác định các chỉ số bình thường ở trẻ nghe bình thường và khảo sát ở trẻ nghe kém sau ngôn ngữ).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu chất liệu ngôn ngữ: Ngữ liệu từ sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1 (tập 1 và tập 2), truyện tranh, truyện dân gian, truyện ngụ ngôn phù hợp cho lứa tuổi học đường (giai đoạn xuất bản 2015-2020).
  • Đối tượng lâm sàng: Nhóm trẻ em từ 6 đến 15 tuổi có sức nghe bình thường (để kiểm định tính cân bằng thính học và xác lập chỉ số chuẩn) và nhóm trẻ em từ 6 đến 15 tuổi bị nghe kém sau ngôn ngữ thuộc các thể loại (dẫn truyền, tiếp nhận, hỗn hợp).
  • Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương, Viện Ngôn ngữ học; thu âm chuẩn tại phòng thu Đài Tiếng nói Việt Nam.
  • Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10 năm 2016 đến tháng 6 năm 2023.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan y văn trong luận án hệ thống hóa toàn diện tiến trình phát triển của các phương pháp và chất liệu đo sức nghe lời trên thế giới và tại Việt Nam:

1. Lịch sử nghiên cứu trên thế giới:

  • Giai đoạn sơ khai: Khái niệm nghe kém theo phân loại âm thanh được Pfingsten (1804, Đức) đề xuất đầu tiên khi ghi nhận mức độ nghe kém nặng nhất đối với nguyên âm, kế đến là phụ âm hữu thanh và phụ âm vô thanh. Tiếp đó, Itard (1821, Pháp) mô tả 5 dạng nghe kém tăng dần; Schmalz (1846, Đức) đưa ra khái niệm nghe hiểu lời nói theo khoảng cách; Wolf (1861, Đức) khẳng định vai trò của việc đánh giá khả năng nghe hiểu lời nói bên cạnh việc thử nghiệm bằng âm thoa.
  • Giai đoạn chuẩn hóa dụng cụ và chất liệu: Bryant (1904, Mỹ) lần đầu ghi âm từ 1 âm tiết phát qua ống nghe có van điều chỉnh cường độ. Campbell và Crandall (1910, Bell Labs) thiết lập danh sách 50 âm tiết không có nghĩa (CV, VC, CVC). Fowler và Wegel (1922) cùng Fletcher (1927) giới thiệu và thương mại hóa máy đo thính lực lâm sàng.
  • Phát triển các bảng từ chuẩn hóa cho người lớn: Hudgins và cộng sự (1947, Đại học Harvard) lập 2 danh sách từ 2 âm tiết; Hirsh và cộng sự (1952, Viện Điếc Hoa Kỳ - CID) hiệu chỉnh thành danh sách CID W-1 và CID W-2 (mỗi danh sách 36 từ). Về từ 1 âm tiết, Egan (1948, Harvard) xây dựng bảng từ cân bằng âm vị CVC (Consonant-Nucleus-Consonant), sau đó Hirsh và cộng sự (1952) hiệu chỉnh thành CID W-22. Peterson và Lehiste (1959) cùng Tillman hiệu chỉnh danh sách CNC thành bộ từ NU-4 và NU-6 của Đại học Northwestern.
  • Phát triển chất liệu đo cho trẻ em: Haskins (1949, Đại học Northwestern) xây dựng bộ từ PBK (Phonetically Balanced Kindergarten) gồm 2 dãy từ 1 âm tiết (mỗi dãy 50 từ) cho trẻ mẫu giáo. Ross và Lerman (1970) xây dựng bảng từ có tranh hỗ trợ WIPI cho trẻ 5-8 tuổi. Katz và Elliott (1978) thiết lập bộ từ kèm tranh NU-CHIPS cho trẻ 2-5 tuổi. Kirk và cộng sự (1999) xây dựng bộ từ LNT (50 từ 1 âm tiết) và MLNT (24 từ đa âm tiết) dựa trên mô hình kích hoạt từ lân cận (NAM). Litvak và cộng sự phát triển bộ câu thử AzBio cho trẻ em (16 danh sách, mỗi danh sách 20 câu). Lafon (1964) xây dựng bảng từ 2 âm tiết tiếng Pháp cho trẻ từ 6 tuổi trở lên.
  • Nghiên cứu tại khu vực Châu Á: Kei và cộng sự (1991) xây dựng bảng từ tiếng Quảng Đông cho trẻ 6-9 tuổi ở Hồng Kông; Sun và cộng sự (1993) cùng Zheng và cộng sự (2009) xây dựng bảng số thử, từ thử và câu thử tiếng Quan Thoại (Mandarin) cho trẻ từ 3 tuổi trở lên; Wang và cộng sự (2007) chuẩn hóa nguyên tắc cân bằng ngữ âm cho bảng từ 2 âm tiết tiếng Trung; Denntoranin và cộng sự (2022) thiết lập bảng từ 2 âm tiết tiếng Thái cho trẻ 4-8 tuổi.

2. Lịch sử nghiên cứu tại Việt Nam:

  • Trần Hữu Tước và Phạm Kim (1960) lần đầu đề xuất danh sách thử sức nghe bằng lời cho tiếng Việt (4 danh sách 1 âm tiết gồm 20 từ/danh sách; 15 danh sách 2 âm tiết gồm 10 từ/danh sách).
  • Phạm Kim, Vũ Bá Hùng và Trần Công Chi (1976) thiết lập bảng từ hỗn hợp âm tiết có tranh minh họa cho trẻ em (20 danh sách gồm cả từ 1 âm tiết và 2 âm tiết).
  • Ngô Ngọc Liễn (1977) xây dựng bảng từ theo cấu trúc Freiburger gồm 10 danh sách từ 1 âm tiết (20 từ/danh sách) để tìm khả năng phân biệt lời và 10 danh sách số thử 2 âm tiết (10 từ/danh sách) để tìm ngưỡng nghe lời.
  • Nguyễn Hữu Khôi (1986) chuẩn hóa bảng từ 1 âm tiết (10 danh sách x 20 từ) đo chỉ số phân biệt lời và bảng từ 2 âm tiết (10 danh sách x 10 từ) đo ngưỡng nghe lời cho người lớn.
  • Nguyễn Thị Hằng (2017) xây dựng bảng câu thử tiếng Việt cho người lớn và người cao tuổi (10 danh sách x 10 câu x 5 từ).
  • Lê Hồng Anh (2020) thiết lập bảng từ thính lực lời cho trẻ dưới 6 tuổi chia theo 3 nhóm tuổi (<3 tuổi, 3-5 tuổi, 5-6 tuổi), mỗi nhóm có 2 danh sách từ 1 âm tiết (25 từ/danh sách) kết hợp bộ tranh chỉ điểm.
Tác giả Năm hoàn thành Số lượng danh sách & cấu trúc Đối tượng áp dụng Phương pháp lựa chọn & phân loại âm sắc
Ngô Ngọc Liễn 1977 10 danh sách từ 1 âm tiết (20 từ/danh sách); 10 danh sách số thử (10 số 2 âm tiết/danh sách). Người lớn Chọn số có 2 chữ số (11-99) và từ thông dụng; phân chia tỷ lệ âm sắc thấp/trung/cao là 3/4/3 (dựa vào nguyên âm và phụ âm đầu không đối kháng).
Nguyễn Hữu Khôi 1986 10 danh sách từ 1 âm tiết (20 từ/danh sách); 10 danh sách từ 2 âm tiết (10 từ/danh sách). Người lớn Dựa vào từ điển tần số tiếng Việt; phân chia danh sách từ có tỷ lệ âm sắc thấp/trung/cao là 3/4/3.
Nguyễn Thị Hằng 2017 10 danh sách câu thử (10 câu/danh sách, mỗi câu 5 từ). Người lớn (người cao tuổi) Dựa vào từ điển tần số tiếng Việt; tất cả các từ trong 1 câu đều cùng một nhóm âm sắc (thấp, trung hoặc cao).
Lê Hồng Anh 2020 6 danh sách từ 1 âm tiết (mỗi danh sách 25 từ kèm tranh, chia 3 nhóm tuổi). Trẻ dưới 6 tuổi Dựa vào tâm sinh lý và phát triển từ vựng theo lứa tuổi; phân chia tỷ lệ âm sắc thấp/trung/cao là 7/11/7.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Tổng kết các công trình trong và ngoài nước cho thấy, đối với trẻ từ 6 tuổi trở lên, năng lực nhận thức và vốn từ đã đạt mức trên 20.000 từ, cho phép áp dụng phương pháp kiểm tra mở (không cần tranh hỗ trợ). Luận án của NCS. Phạm Tiến Dũng giải quyết mắt xích còn thiếu giữa bảng từ trẻ em dưới 6 tuổi (dùng tranh) và bảng từ người lớn (vốn từ cũ), tạo nên công cụ thính lực lời mở hoàn chỉnh cho dải tuổi 6-15 tuổi tại Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1. Cơ sở lý thuyết ngôn ngữ học và tâm lý học tiếp nhận lời nói

Luận án dựa trên các đặc điểm ngữ âm học thực nghiệm và cấu trúc âm tiết tiếng Việt:

  • Cấu trúc âm tiết 2 bậc: Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, đơn tiết tính, có thanh điệu. Âm tiết có cấu trúc 2 bậc gồm Bậc 1 (Âm đầu, Vần, Thanh điệu - các thành phần bắt buộc) và Bậc 2 (Vần gồm Âm đệm, Âm chính, Âm cuối).
  • Hệ thống phụ âm đầu và phân loại âm sắc: Tiếng Việt có 22 phụ âm đầu (tính cả âm tắc họng /ʔ/) thể hiện qua 26 chữ viết. Dựa trên nghiên cứu phổ âm của Nguyễn Văn Lợi và Edmondson, phụ âm đầu được phân thành 3 nhóm âm sắc:
    • Nhóm phụ âm thấp: /m/, /n/, /ɲ/ (nh), /ŋ/ (ng/ngh).
    • Nhóm phụ âm cao: /tʰ/ (th), /f/ (ph), /s/ (x), /c/ (ch), /x/ (kh), /h/ (h), /ʈ/ (tr), /ʂ/ (s).
    • Nhóm phụ âm trung: /t/ (t), /b/ (b), /d/ (đ), /k/ (c/k/q), /ɣ/ (g/gh), /v/ (v), /z/ (d/gi), /l/ (l) và âm tắc thanh hầu /ʔ/.
  • Âm đệm (/w/): Ghi bằng con chữ o hoặc u, có chức năng trầm hóa âm sắc của vần, không kết hợp với nguyên âm thấp. Theo Nguyễn Thị Hằng, sự xuất hiện của âm đệm không làm thay đổi phân loại âm sắc 3 bậc của âm tiết.
  • Âm chính (nguyên âm) và phân loại theo Formant: Dựa trên nghiên cứu của Vũ Kim Bảng và Vũ Hải Hà, nguyên âm được phân loại theo tần số formant thứ hai (F2):
    • Nhóm nguyên âm cao (F2 > 2000 Hz): /i/ (i/y), /e/ (ê), /ɛ/ (e).
    • Nhóm nguyên âm trung (F2 từ 1000 Hz đến 2000 Hz): /ɨ/ (ư), /ə/ (ơ/â), /a/ (a/ă).
    • Nhóm nguyên âm thấp (F2 < 1000 Hz): /u/ (u), /o/ (ô), /ɔ/ (o).
    • Âm sắc của 6 nguyên âm đôi (/ie/, /ɨə/, /uo/) được quy định bởi âm sắc của yếu tố thứ nhất đứng trước.
  • Âm cuối và cấu trúc vần: Gồm âm cuối zero, 4 bán nguyên âm (/w/, /j/) và 8 phụ âm kết thúc (/p/, /t/, /k/, /m/, /n/, /ŋ/, /ɲ/). Phân chia thành 4 loại vần: vần mở (kết thúc bằng zero), vần nửa mở (kết thúc bằng bán nguyên âm), vần nửa khép (kết thúc bằng phụ âm vang mũi) và vần khép (kết thúc bằng phụ âm tắc vô thanh).
  • Thanh điệu: Tiếng Việt Bắc Bộ có 6 thanh điệu, phân thành nhóm âm vực cao (thanh ngang, sắc, ngã) và nhóm âm vực thấp (thanh huyền, hỏi, nặng) theo Nguyễn Hàm Dương. Tần số cơ bản F0 nằm dưới 500-1000 Hz.
  • Lựa chọn phương ngữ: Chọn phương ngữ Bắc Bộ (chuẩn giọng Hà Nội) do có sự phân biệt rõ ràng giữa thanh hỏi và thanh ngã, phát âm phụ âm cuối đầy đủ nhất, khẩu hình phát âm tròn vành rõ chữ.
  • Mô hình tiếp nhận lời nói: Luận án vận dụng thuyết Cohort (Marslen-Wilson & Welsh, 1978) giải thích quá trình xử lý âm thanh thời gian thực qua 3 giai đoạn (tiếp cận, lựa chọn, tích hợp) và Thuyết Kích hoạt các từ lân cận (NAM - Neighborhood Activation Model) nhằm giải thích mối tương tác giữa mật độ lân cận âm vị và tần suất xuất hiện của từ ngữ trong quá trình nhận biết từ thử.

2. Cơ sở thính học và phương pháp lâm sàng

  • Phân loại thể loại nghe kém: Gồm nghe kém dẫn truyền (khoảng Rinne > 10 dB, đường xương bình thường), nghe kém tiếp nhận (khoảng Rinne $\le$ 10 dB, đường khí và đường xương cùng giảm), và nghe kém hỗn hợp (cả hai đường cùng giảm, khoảng Rinne > 10 dB).
  • Phân độ nghe kém theo PTA (500 Hz, 1000 Hz, 2000 Hz): Bình thường (0-15 dB), tối thiểu/hơi nghe kém (16-25 dB), nhẹ (26-40 dB), trung bình nhẹ (41-55 dB), trung bình nặng (56-70 dB), nặng (71-90 dB), sâu/điếc (91-120 dB).
  • Các phép đo sức nghe lời áp dụng:
    • Ngưỡng nghe lời (SRT - Speech Recognition Threshold): Cường độ nhỏ nhất người nghe nhắc lại đúng $\ge$ 50% số từ trong danh sách (sử dụng bảng từ 2 âm tiết). Mức độ tương thích giữa SRT và PTA: tốt nếu chênh lệch $\le$ 6 dB, trung bình từ 7-12 dB, kém nếu $\ge$ 13 dB.
    • Chỉ số phân biệt lời (SDI - Speech Discrimination Index): Tỷ lệ % từ 1 âm tiết nhắc lại đúng trong 1 danh sách tại các cường độ kích thích xác định (35 dBHL tiếng nói nhỏ, 55 dBHL tiếng nói thường, 75 dBHL tiếng nói to, hoặc tại mức tối ưu trên ngưỡng SRT từ 20-40 dB). Mỗi từ đúng trong danh sách 25 từ tương ứng 4%.
    • Kỹ thuật che lấp (Masking): Sử dụng tiếng ồn lời nói (Speech Noise) khi cường độ kích thích vượt quá ngưỡng nghe đường xương trung bình (500 - 2000 Hz) của tai đối diện từ 45 dB trở lên. Cường độ che lấp = Cường độ phát - 45 dB + Khoảng Rinne trung bình tai đối diện.

3. Nguồn tư liệu và phương tiện nghiên cứu

  • Nguồn ngữ liệu: Tuyển chọn từ truyện tranh, truyện dân gian, truyện ngụ ngôn và SGK Tiếng Việt lớp 1 (NXB Giáo dục, NXB Trẻ giai đoạn 2015-2020), trích xuất kho ngữ liệu 1000 từ 1 âm tiết và 1000 từ 2 âm tiết có tần suất cao nhất.
  • Thiết bị thu âm: Phòng thu chuyên dụng tại Đài Tiếng nói Việt Nam, giọng đọc phát thanh viên chuẩn tiếng Hà Nội, xử lý tín hiệu và chuẩn hóa biên độ, cường độ bằng phần mềm âm học.
  • Trang thiết bị thính học: Buồng đo cách âm đạt tiêu chuẩn (tiếng ồn nền < 30 dBA), máy đo thính lực lâm sàng có chức năng đo thính lực lời, đĩa CD ghi âm bảng từ thử phát qua đầu đọc chuyên dụng, tai nghe chụp (chụp tai), tai nghe chèn ống tai (insert phone) và đầu rung xương cốt đạo.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 trình bày chi tiết về lịch sử phát triển của chuyên ngành đo sức nghe lời từ đầu thế kỷ XIX đến nay trên phạm vi thế giới và Việt Nam; phân tích tường tận các đặc điểm ngữ âm học thực nghiệm của tiếng Việt (cấu trúc 2 bậc của âm tiết, hệ thống 22 phụ âm đầu, 14 nguyên âm đơn và đôi, 8 phụ âm cuối, 6 thanh điệu, hệ thống phương ngữ 3 miền). Chương này cũng tổng hợp các quy luật phát triển vốn từ ở trẻ em tuổi học đường (vốn từ hiểu đạt >20.000 từ lúc 6 tuổi và tiệm cận người lớn ở tuổi 15), phân tích cơ chế nhận biết lời nói theo mô hình âm học - ngữ âm và tâm lý ngôn ngữ học (Cohort, NAM). Đồng thời, chương 1 cung cấp toàn bộ nền tảng bệnh học về các dạng tổn thương thính giác (tai ngoài, tai giữa, tai trong, sau ốc tai), các mức độ nghe kém theo PTA, các chỉ số thính lực lời (SDT, SRT, SDI), các dạng biểu đồ sức nghe lời bệnh lý của Portmann và quy trình kỹ thuật đo sức nghe lời chuẩn quốc tế.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp tiếp cận đa ngành kết hợp ngôn ngữ học thực nghiệm và lâm sàng thính học. Nghiên cứu sinh thiết lập tiêu chuẩn lựa chọn ngữ liệu nghiêm ngặt từ các xuất bản phẩm dành cho trẻ em học đường để xây dựng kho dữ liệu 1000 từ 1 âm tiết và 1000 từ 2 âm tiết có tần suất xuất hiện cao nhất.

Quy trình xây dựng bảng từ thử 1 âm tiết: Chọn 250 từ (loại trừ các từ chứa vần hiếm như uâ, oay, uây, iu và loại trừ sự đối kháng âm sắc trực tiếp giữa phụ âm đầu và nguyên âm) gồm 70 từ âm sắc thấp, 110 từ âm sắc trung, 70 từ âm sắc cao. 250 từ này được phân chia vào 10 danh sách (mỗi danh sách 25 từ theo tỷ lệ âm sắc 7 thấp / 11 trung / 7 cao), bảo đảm tính đại diện và cân bằng giữa các danh sách về tỷ lệ phụ âm đầu, tỷ lệ nguyên âm, cấu trúc vần (mở, nửa mở, nửa khép, khép), thanh điệu (âm vực cao/thấp) và số lượng con chữ cấu tạo từ.

Quy trình xây dựng bảng từ thử 2 âm tiết: Chọn 100 từ/ngữ 2 âm tiết từ kho ngữ liệu tần suất cao, trong đó hai âm tiết thành phần có cùng âm sắc (gồm 30 từ âm sắc thấp, 40 từ âm sắc trung, 30 từ âm sắc cao). 100 từ được phân vào 10 danh sách (mỗi danh sách 10 từ theo tỷ lệ âm sắc 3 thấp / 4 trung / 3 cao).

Chương 2 cũng trình bày chi tiết quy trình thu âm giọng phát thanh viên tại Đài Tiếng nói Việt Nam, phương pháp xử lý cân bằng cường độ âm học giữa các từ thử, thiết kế nghiên cứu lâm sàng kiểm định tính cân bằng thính học tại mức 15 dBHL trên nhóm trẻ bình thường, quy trình đo xác định chỉ số bình thường (SRT, SDI), phương pháp khảo sát trên nhóm trẻ nghe kém bệnh lý, kiểm soát sai số và các tiêu chuẩn bảo đảm đạo đức nghiên cứu y sinh học.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm và số liệu lâm sàng thu được:

  1. Kết quả xây dựng bảng từ: Hoàn thành 10 danh sách từ thử 1 âm tiết (25 từ/danh sách) và 10 danh sách từ thử 2 âm tiết (10 từ/danh sách). Các bảng kiểm tra thống kê xác nhận sự phân bố đồng đều giữa các danh sách về số lượng phụ âm đầu theo âm sắc, tỷ lệ các nhóm nguyên âm, phân loại vần, phân loại thanh điệu cao/thấp, chiều dài từ và số lượng con chữ.
  2. Kiểm định tính cân bằng âm học: Kết quả phân tích âm học thực nghiệm (phổ âm, formant, voice bar, độ dịch chuyển formant) và đo lường cường độ trung bình của các từ trong 10 danh sách từ thử 1 âm tiết và 2 âm tiết cho thấy mức cường độ phát ra giữa các danh sách là đồng nhất, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
  3. Kiểm định tính cân bằng thính học trên nhóm trẻ bình thường: Tỷ lệ % nghe hiểu lời nói tại cường độ kích thích 15 dBHL đạt sự tương đồng cao giữa cả 10 danh sách của bảng từ 1 âm tiết và 10 danh sách của bảng từ 2 âm tiết. Kết quả này chứng minh các danh sách từ thử có giá trị tương đương nhau khi đo lường trên lâm sàng.
  4. Xác lập các chỉ số thính lực lời ở trẻ nghe bình thường: Thiết lập giá trị trung bình của ngưỡng nghe đơn âm đường khí (PTA), ngưỡng nghe lời (SRT) với bảng từ 2 âm tiết, và chỉ số phân biệt lời tối đa (SDI) với bảng từ 1 âm tiết ở các dải cường độ 35 dBHL, 55 dBHL và 75 dBHL.
  5. Kết quả ứng dụng trên nhóm trẻ nghe kém: Phân tích mối liên quan giữa thể loại nghe kém (dẫn truyền, tiếp nhận, hỗn hợp), mức độ nghe kém theo PTA với các thông số sức nghe lời. Luận án xác lập hệ số tương quan tuyến tính chặt chẽ giữa ngưỡng nghe lời (SRT) và ngưỡng nghe đơn âm (PTA), đồng thời chỉ ra sự biến thiên đặc trưng của chỉ số phân biệt lời (SDI) theo từng dạng bệnh lý và từng mức độ nghe kém theo tai.

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 tập trung phân tích, biện giải các phát hiện nghiên cứu trong sự đối sánh với y văn:

  • Phân tích tính khoa học của việc lựa chọn kho ngữ liệu dựa trên tần suất xuất hiện từ vựng học đường, giải thích vì sao dải tuổi 6-15 tuổi có thể dùng chung một bộ bảng từ mở mà không cần chia nhỏ như lứa tuổi dưới 6 tuổi.
  • Biện giải quy tắc cân bằng âm sắc 7/11/7 (bảng 1 âm tiết) và 3/4/3 (bảng 2 âm tiết) cùng nguyên tắc triệt tiêu sự đối kháng âm sắc giữa phụ âm đầu và nguyên âm; chứng minh việc kiểm soát chặt chẽ các yếu tố ngữ âm học giúp bảng từ tiếng Việt đạt độ chính xác tương đương các bộ từ quốc tế (như PBK, CID W-22, NU-6).
  • Bàn luận về tính tương đương thính học giữa 10 danh sách từ thử tại mức 15 dBHL: Tính tương đương này cho phép bác sĩ lâm sàng có thể thay đổi danh sách từ thử trong các lần đo lặp lại trên cùng một bệnh nhân mà không sợ sai số do học thuộc từ.
  • Phân tích giá trị của phép đo SRT và SDI trong chẩn đoán vị trí tổn thương (phân biệt tổn thương dẫn truyền tại tai giữa, tổn thương tiếp nhận tại ốc tai và tổn thương thần kinh sau ốc tai qua hình thái đồ thị Portmann). Đánh giá sự cần thiết của việc đo sức nghe lời đối với trẻ em bị viêm tai giữa ứ dịch mạn tính hoặc nghe kém tiếp nhận trong môi trường tiếng ồn lớp học.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án mang lại những đóng góp cụ thể về cả phương diện học thuật lý luận và ứng dụng thực tiễn:

1. Đóng góp về mặt lý luận và ngữ liệu học:

  • Xây dựng thành công kho ngữ liệu từ vựng học đường chuẩn hóa cho trẻ em 6-15 tuổi (phương ngữ Bắc Bộ) dựa trên phân tích tần suất xuất hiện thực tế.
  • Phát triển và hoàn thiện hệ thống tiêu chí thiết kế bảng từ thính lực lời tiếng Việt cân bằng 3 bậc âm sắc (thấp, trung, cao), tích hợp toàn diện các tham số ngữ âm học thực nghiệm (phụ âm đầu, F2 nguyên âm, âm đệm, 4 loại vần, âm vực F0 của thanh điệu) và các mô hình nhận thức tiếng nói hiện đại (NAM).

2. Đóng góp về mặt thực tiễn và lâm sàng:

  • Cung cấp trọn bộ công cụ đo thính lực lời hoàn chỉnh cho trẻ em lứa tuổi 6 đến 15 tuổi tại Việt Nam, bao gồm:
    • Bảng từ thử 1 âm tiết gồm 10 danh sách (25 từ/danh sách) phục vụ đo chỉ số phân biệt lời (SDI).
    • Bảng từ thử 2 âm tiết gồm 10 danh sách (10 từ/danh sách) phục vụ đo ngưỡng nghe lời (SRT).
  • Chuẩn hóa đĩa ghi âm chất liệu lời nói chuyên nghiệp tại phòng thu Đài Tiếng nói Việt Nam, giúp loại bỏ hoàn toàn các sai số chủ quan do phát âm trực tiếp của kỹ thuật viên đo.
  • Thiết lập hệ thống chỉ số tham chiếu bình thường về SRT và SDI cho trẻ em học đường, đồng thời làm sáng tỏ quy luật tương quan giữa SRT, SDI với PTA trên các thể loại và mức độ nghe kém bệnh lý.
  • Chuẩn hóa quy trình kỹ thuật đo sức nghe lời và quy tắc cài đặt cường độ che lấp (masking) bằng tiếng ồn lời nói (Speech Noise) áp dụng thống nhất trong chuyên ngành Tai Mũi Họng và Thính học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Căn cứ vào phạm vi và nội dung văn bản luận án:

  • Hạn chế:
    • Ngữ liệu và giọng đọc thu âm của các bảng từ thử mới chỉ được xây dựng và chuẩn hóa trên phương ngữ Bắc Bộ (chuẩn giọng Hà Nội), chưa bao phủ các đặc trưng ngữ âm của phương ngữ Trung Bộ và Nam Bộ.
    • Nhóm đối tượng khảo sát lâm sàng tập trung vào trẻ nghe bình thường và trẻ nghe kém sau ngôn ngữ; chưa tiến hành đánh giá chuyên biệt trên các nhóm trẻ can thiệp thiết bị thính học đặc thù (trẻ cấy ốc tai điện tử, đeo máy trợ thính có tuổi nghe chênh lệch lớn so với tuổi sinh học) hoặc trẻ nghe kém trước ngôn ngữ.
    • Các thử nghiệm lâm sàng mới thực hiện trong môi trường phòng cách âm yên tĩnh tiêu chuẩn, chưa xây dựng phép đo thính lực lời trong môi trường tiếng ồn mô phỏng lớp học.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng chuẩn hóa các bảng từ thử thính lực lời cho trẻ em học đường theo phương ngữ miền Trung và miền Nam.
    • Nghiên cứu phát triển các bộ câu thử đo sức nghe lời trong môi trường tiếng ồn (Speech-in-Noise) dành cho lứa tuổi học đường.
    • Ứng dụng bộ bảng từ để theo dõi, đánh giá hiệu quả phục hồi chức năng thính giác sau phẫu thuật cấy ốc tai điện tử và hiệu chỉnh máy trợ thính ở trẻ em.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cao cho nhiều nhóm đối tượng chuyên môn:

  • Bác sĩ Tai Mũi Họng và chuyên viên thính học lâm sàng: Có thể đưa trực tiếp 10 danh sách từ thử 1 âm tiết, 10 danh sách từ thử 2 âm tiết cùng quy trình kỹ thuật đo và hướng dẫn che lấp vào thực hành khám chữa bệnh hàng ngày để chẩn đoán chính xác mức độ suy giảm nghe hiểu, định vị tổn thương tai giữa, ốc tai hay sau ốc tai.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên sau đại học ngành Tai Mũi Họng, Ngôn ngữ học ứng dụng: Cung cấp phương pháp luận mẫu mực về sự kết hợp liên ngành y học lâm sàng - ngữ âm học thực nghiệm; là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp phân tích phổ âm, thiết kế bảng từ cân bằng âm vị và kiểm định thính học.
  • Chuyên gia ngôn ngữ trị liệu, giáo dục đặc biệt và y tế học đường: Cung cấp cơ sở khoa học để đánh giá đúng năng lực nghe hiểu thực tế của học sinh, làm căn cứ đề xuất các giải pháp can thiệp thính học học đường và cải thiện môi trường âm học lớp học.

Câu hỏi thường gặp

1. Cấu trúc số lượng danh sách và tỷ lệ phân bố âm sắc trong bảng từ 1 âm tiết và 2 âm tiết của luận án được thiết kế như thế nào? Bảng từ 1 âm tiết gồm 10 danh sách, mỗi danh sách có 25 từ với tỷ lệ phân bố âm sắc là 7 từ âm sắc thấp / 11 từ âm sắc trung / 7 từ âm sắc cao (tổng cộng 250 từ). Bảng từ 2 âm tiết gồm 10 danh sách, mỗi danh sách có 10 từ/ngữ với tỷ lệ phân bố âm sắc là 3 từ âm sắc thấp / 4 từ âm sắc trung / 3 từ âm sắc cao (tổng cộng 100 từ). Các từ được kiểm soát nghiêm ngặt để không có sự đối kháng âm sắc trực tiếp giữa phụ âm đầu và nguyên âm.

2. Nguồn ngữ liệu đầu vào để trích xuất kho từ vựng cho trẻ 6-15 tuổi bao gồm những tài liệu nào? Ngữ liệu được thu thập từ sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1 (tập 1 và tập 2) cùng các truyện tranh, truyện dân gian, truyện ngụ ngôn phương ngữ Bắc dành cho lứa tuổi từ 0-6 hoặc 6-15 tuổi (phải bao hàm độ tuổi 6) do Nhà xuất bản Giáo dục và Nhà xuất bản Trẻ phát hành dưới dạng bản in cứng trong giai đoạn 2015-2020. Từ kho ngữ liệu này, tác giả trích xuất 1000 từ 1 âm tiết và 1000 từ 2 âm tiết có tần suất xuất hiện cao nhất.

3. Cơ sở ngữ âm học nào được tác giả sử dụng để phân loại các nhóm âm sắc nguyên âm và phụ âm đầu? Phụ âm đầu được phân thành 3 nhóm (thấp: m, n, nh, ng; cao: th, ph, x, ch, kh, h, tr, s; trung: các phụ âm còn lại và âm tắc họng) dựa trên phân tích đặc trưng phổ âm của Nguyễn Văn Lợi và Edmondson. Nguyên âm đơn được phân thành 3 nhóm dựa trên tần số formant thứ hai F2 theo Vũ Kim Bảng và Vũ Hải Hà (thấp: F2 < 1000 Hz gồm u, ô, o; trung: F2 từ 1000-2000 Hz gồm ư, ơ/â, a/ă; cao: F2 > 2000 Hz gồm i, ê, e). Âm sắc của nguyên âm đôi phụ thuộc vào yếu tố nguyên âm thứ nhất.

4. Phép đo ngưỡng nghe lời (SRT) và chỉ số phân biệt lời (SDI) phục vụ mục đích lâm sàng gì và dùng bảng từ thử nào? Phép đo SRT sử dụng bảng từ 2 âm tiết nhằm xác định cường độ nhỏ nhất mà người nghe nhắc lại đúng ít nhất 50% số từ, dùng để kiểm tra độ tin cậy của thính lực đơn âm (tương thích tốt khi chênh lệch với PTA $\le$ 6 dB) và làm mốc xác định cường độ đo trên ngưỡng. Phép đo SDI sử dụng bảng từ 1 âm tiết (25 từ/danh sách, mỗi từ tương ứng 4%) tại các mức cường độ 35, 55, 75 dBHL hoặc trên ngưỡng SRT từ 20-40 dB nhằm đánh giá chính xác tỷ lệ phần trăm nghe hiểu lời nói, phục vụ chẩn đoán phân biệt vị trí tổn thương tại ốc tai hay sau ốc tai.

5. Quy định che lấp (masking) trong quy trình kỹ thuật đo sức nghe lời của luận án được tiến hành khi nào? Tiến hành che lấp tai đối diện bằng tiếng ồn lời nói (Speech Noise) khi cường độ âm kích thích phát ra ở tai đo vượt quá ngưỡng nghe đường xương trung bình (tại 500 Hz, 1000 Hz, 2000 Hz) của tai đối diện từ 45 dB trở lên. Cường độ che lấp được tính theo công thức: Cường độ che lấp = Cường độ phát - 45 dB + Khoảng Rinne trung bình của tai đối diện.


Kết luận

Luận án tiến sĩ y học của tác giả Phạm Tiến Dũng đã xây dựng thành công 02 bộ bảng từ thính lực lời tiếng Việt chuẩn hóa (gồm 10 danh sách từ thử 1 âm tiết và 10 danh sách từ thử 2 âm tiết) dành riêng cho trẻ em lứa tuổi học đường từ 6 đến 15 tuổi dựa trên nền tảng ngữ âm học thực nghiệm và mô hình tâm lý tiếp nhận ngôn ngữ. Các bảng từ thử đã được kiểm định đạt tính cân bằng âm học và tương đương thính học cao tại mức kích thích 15 dBHL, đồng thời được thu âm chuẩn hóa tại Đài Tiếng nói Việt Nam nhằm bảo đảm tính khách quan tuyệt đối khi đo lường. Công trình đã xác lập các chỉ số thính lực lời bình thường (SRT, SDI) ở trẻ em và chứng minh giá trị lâm sàng vượt trội của phép đo sức nghe lời trong đánh giá chức năng giao tiếp, chẩn đoán thể loại, mức độ tổn thương thính giác ở trẻ em học đường.