MỞ ĐẦU 1. Bối cảnh và sự cần thiết của nghiên cứu Sinh con và nuôi day con: Lịch sử nghiên cứu và những vấn đề đặt ra Nghiên cứu về vấn đề sinh con và nuôi dạy con được chú ý từ nửa sau thế kỷ 20 với những công trình của các tác giả tiên phong như Davis & Havighurst (1946), White (1957), Bulatao (1984), Mai Quỳnh Nam (1984), Phạm Bích San (1985), Vũ Mạnh Lợi (1990). Hiện nay, chủ đề sinh con và nuôi dạy con vẫn đang tiếp tục nhận được sự quan tâm của nhiều nhà xã hội học. Sự quan tâm của các chuyên gia về vấn đề sinh con xuất phát từ thực trạng dân số phát triển không đồng đều ở các khu vực khác nhau trên thế giới.
Trong khi mức sinh có xu hướng giảm trên phạm vi toàn thé giới, từ các quốc gia phát triển (A dhikari, 2010; Majumder & Ram, 2015; Awad, 2017; Cabella, 2018) đến các quốc gia đang phát triển (Matsumoto, 2013; Kato, 2018; Song và cộng sự, 2018; Chabé-Ferret, 2019) thì ở châu Phi, dân số vẫn tiếp tục tăng (Makinwa-Adebusoye, 2001; Bakilana, 2016). Các nha khoa học trong khi nghiên cứu về sinh con thường tập trung tìm hiểu mức sinh và các yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh (Yousif, 2001; Đặng Nguyên Anh, 2007; Adhikari, 2010; Majumder & Ram, 2015; Dorjee, 2016; Awad, 2017; Cabella, 2018; Azmoude, 2019). Các nghiên cứu về nuôi dạy con thường tập trung tìm hiểu sự thực hành nuôi dạy con của cha mẹ khi con cái của họ ở độ tuổi trước khi học mẫu giáo hoặc độ tuổi vị thành niên. Những nghiên cứu ở nước ngoài thường tập trung nhiều nhất vào sự thực hành nuôi dạy con của các gia đình đang có con dưới độ tuổi đi học hoặc đang học mẫu giáo (Davis & Havighurst 1946; White, 1957; Havighurst & Davis, 1955; Littman và cộng sự, 1957; Yarrow và cộng sự, 1962; Lareau, 2002).
Trong khi đó, các nghiên cứu ở Việt Nam thường khảo sát các gia đình có trẻ ở độ tuổi vị thành niên nhiều hơn (Vũ Mạnh Lợi, 1990; Pham Hoàng Nam Phác, 2006; Mai Huy Bích, 2009; Mai Thi Qué, 2012; Phạm Văn Quyết, 2012; Châu Thị Thu Thủy, 2014; Nguyễn Thị Trang, 2017; Nguyễn Đức Chiện và cộng sự, 2017; Nguyễn Kiều Tiên, 2017; Trịnh Thị Quynh, 2019). Có rất ít các nghiên cứu về vấn đề nuôi dạy trẻ dưới sáu tuổi như của Vũ Thị Tố Uyên (2015) và Phạm Thị Thúy (2015, 2017, 2018). Mặc dù các nghiên cứu về chủ đề sinh con và nuôi day con khá phố biến, có rat ít nghiên cứu kết nối hai van dé này với nhau. Các nghiên cứu về mối liên hệ việc sinh con và nuôi dạy con trước đây chủ yếu phân tích mối liên hệ giữa quy mô gia đình (số lượng con) đến cách thức nuôi dạy con.
Các tác giả cho rằng ở những gia đình công con, người cha tham gia nhiều hơn vào hoạt động nuôi dạy con (Elder và Bowerman, 1963). Bên cạnh đó, những gia đình càng đông con, cha mẹ cảng có khuynh hướng sử dụng các phương pháp bạo lực khi kỷ luật trẻ (Erlanger, 1974; Wagner và cộng sự, 1985). Ở khía cạnh lý thuyết, các nhà khoa học đề xuất các cách tiếp cận lý thuyết khác nhau về van đề sinh con và nuôi day con. Trong đó, phổ biến là cách tiếp cận cấu trúc.
Một số tác giả áp dụng cách tiếp cận cấu trúc kinh tế - xã hội (với các lý thuyết Quá độ dan số của Kirk (1996), lý thuyết kinh tế của Becker (1965) và Caldwell (1982). Một số khác chú trọng đến ảnh hưởng của yếu tố văn hóa (Freedman, 1994; Jose và cộng sự, 2000; Trommsdorff, 2006; Rubin, 2006; He và cộng sự, 2021). Cách tiếp cận phân tầng xã hội cũng được áp dụng khá rộng rãi, đặc biệt là trong các nghiên cứu về nuôi dạy con (Davis & Havighurst 1946; Havighurst & Davis, 1955; Littman và cộng sự, 1957; White, 1957; Yarrow và cộng sự, 1962; Kohn, 1963, 1969; Mussen & Beytagh, 1969; Lareau, 2002; Keller va cộng sự, 2006). Tuy nhiên, rat ít nghiên cứu khảo sát về mối liên hệ giữa tầng lớp xã hội với việc sinh con.
Các tác giả bàn về vấn đề này thường tập trung nhiều vào trải nghiệm sinh nở giữa phụ nữ ở các tầng lớp khác nhau (trung lưu và lao động) theo cách tiếp cận định tính (Nelson, 1983; Zadoroznyj, 1999; Liamputtong, 2005). Lý thuyết Giá tri con cái va những khuôn mẫu nuôi con của Hoffman (1988) có thé xem là sự tổng hợp cách tiếp cận cấu trúc xã hội và văn hóa trong van dé sinh con và nuôi dạy con. Tuy nhiên, Hoffman (1988) chưa phân tích chỉ tiết các khía cạnh sinh con và nuôi dạy con. Ở khía cạnh sinh con, tác giả chỉ bàn về giá trị con cái mà chưa đề cập đến các yếu tố như giới tính con, sở thích giới tính đối với con cái, dự định sinh,.
Ở khía cạnh nuôi dạy con, tác giả chỉ phân tích kỳ vọng của cha mẹ về phâm chất tương lai của trẻ mà không đê cập đên các khía cạnh ăn uông, vệ sinh, giúp việc nhà, tự chăm sóc bản thân, cách kiêm soát trẻ. Ngoài ra, mô hình lý thuyết của Hoffman (1988) chưa quan tâm day đủ đến yếu tố giới. Tác giả đề cập ảnh hưởng của nghề nghiệp của cha đến kỳ vọng về pham chất của con nhưng không khảo sát sự ảnh hưởng có thé có của nghề nghiệp người mẹ. Tương tự, Hoffman (1988) phân tích ảnh hưởng của quốc tịch của người mẹ đến kỳ vọng về phâm chất tương lai của con trai và con gái nhưng không bàn đến quốc tịch của cha.
Sinh con và nuôi dạy con: Những vấn đề thực tiễn Thanh phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế - thương mại - giáo dục — khoa học công nghệ - y tế - văn hóa - du lịch của Việt Nam và là cửa ngõ cho quá trình tiếp biến văn hóa giữa Việt Nam và quốc tế. Về dân só, tính đến năm 2021, đây là địa phương đông dân nhất cả nước với 9.000 người (mật độ dân số 4.375 người/km?), trong đó khoảng 80% dân cư sống ở khu vực đô thị. Tốc độ tăng dân số bình quân của thành phố là 2,28%/nam nhưng đang có xu hướng chậm lại. Đây cũng là địa phương có mức sinh thấp nhất cả nước với tổng tỷ suất sinh (TER) là 1,48 con/phụ nữ, dưới mức sinh thay thé (2,1 con/phụ nữ) (Tổng cục Thống kê, 2023).
Bên cạnh vấn đề tỷ suất sinh thấp, nhiều vấn đề gia đình cũng còn tồn tại như: bất bình dang giới, bạo lực gia đình, xung đột giá tri giữa các thế hệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (Vụ Gia đình, 2022). Các vấn đề nảy sinh trong phương pháp nuôi dạy con, đặc biệt là con nhỏ, cũng khiến nhiều bậc cha mẹ bối rối và thậm chí nảy sinh mâu thuẫn. Chăng hạn như quan niệm về dinh dưỡng và cách cho con ăn, chọn trường cho con khi con sắp vào lớp một, dạy con học (Hy An, 2022). Các bậc cha mẹ phản ứng trước các khó khăn, thách thức này bằng cách hoặc là tự tìm hiểu các thông tin từ sách, báo, mạng xã hội, v.; hoặc là tham gia các khóa học dành cho cha mẹ với chi phí cao nhưng hiệu quả không đáng kể (Hoài Nam, 2014).
Mặt khác, công tác gia đình của UBND Thanh phó Hồ Chí Minh hiện tại vẫn chỉ chủ yếu là thực hiện phố biến kiến thức pháp luật về gia đình, việc cung cấp kiến thức, kỹ năng cho nam nữ thanh niên trước khi kết hôn và sau khi sinh con mặc dù có nhưng chưa rộng rãi và it thiết thực. Bên cạnh đó, sự hỗ trợ vật chất cho các gia đình còn rất hạn chế và chủ yếu là về hỗ trợ tiếp cận dịch vụ y tế (Long Hồ, 2019). Mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu Luận án nhằm góp phần bổ sung một số khoảng trống trong lý thuyết tiếp cận trong nghiên cứu về sinh con và nuôi day con. Cu thé: (1) Kiểm tra lý thuyết của Hoffman (1988) về sự ảnh hưởng của cấu trúc xã hội đến giá tri con cái, quan niệm và hành vi sinh con và nuôi dạy con ở Việt Nam (mà cụ thê là ở Thành phố Hồ Chí Minh); (2) Mở rộng khung lý thuyết của Hoffman (1988) thông qua việc đưa vào mô hình các biến đặc điểm nhân khẩu (dé kiêm định ảnh hưởng của các biến này đến giá trị con cái, quan niệm và hành vi sinh con và nuôi dạy con) và chi tiết hóa khái niệm “sinh con” và “nuôi dạy con”; (3) Dua vào yêu tố giới (của cha mẹ và con cái) trong phân tích về giá trị con cái, quan niệm, hành vi sinh con và nuôi dạy con.
Mục tiêu nghiên cứu 1. Tìm hiểu giá tri con cái, quan niệm và hành vi sinh con và nuôi day con ở các gia đình tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay theo giới tính của cha mẹ và con cái. Phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố nhân khẩu, tầng lớp xã hội đến giá trị con cái, quan niệm và hành vi sinh con và nuôi day con theo giới tính của cha mẹ va con cái ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Từ đó, xây dựng mô hình lý thuyết về ảnh hưởng của cấu trúc xã hội đến giá tri con cái, quan niệm và hành vi sinh con, nuôi dạy con theo giới tính của cha mẹ và con cái.
Câu hỏi nghiên cứu 1. Giá tri con cái, quan niệm và hành vi sinh con và nuôi dạy con tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay có những đặc trưng gì? 2. Giá tri con cái, quan niệm và hành vi sinh con và nuôi day con có mối liên hệ tuần tự và có sự khác biệt theo giới tính của cha mẹ và con cái như thế nào? 3. Ngoài sự ảnh hưởng của tuần tự của yếu tố tang lớp xã hội đến giá tri con cái, quan niệm và hành vi sinh con và nuôi dạy con; yếu tố đặc điểm nhân khẩu nhân khẩu có thê có ảnh hưởng gây nhiễu trong mô hình như thế nào? 3.
Giả thuyết nghiên cứu Giả thuyết H1. Đa số các bậc cha mẹ tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay đề cao giá trị thành tích, sinh ít con, bình đẳng về sở thích giới tính con, nuôi dạy con theo phong cách đề cao sự tự do, tự chủ sáng tạo. về giá tri con cái, Hoffman (1988) lập luận rằng ở các xã hội có trình độ phát triển kinh tế cao hơn (xã hội công nghiệp, dịch vụ), cha mẹ sẽ thiên về giá tri tình cảm và thành tích hơn giá trị kinh tế như các xã hội có trình độ phát triển thấp hơn (xã hội nông nghiệp).