Luận Án Tiến Sĩ Về Mô Hình Sinh Con và Nuôi Dạy Con Tại Thành Phố Hồ Chí Minh

Luận án tiến sĩ nghiên cứu xã hội học những khuôn mẫu sinh con và nuôi dạy con ở thành phố hồ chí minh hiện nay, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong lĩnh

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2024

227
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ SINH CON VÀ NUÔI DẠY CON

1.1. Các lý thuyết trong nghiên cứu về sinh con

1.2. Các lý thuyết trong nghiên cứu về nuôi dạy con

1.3. Các nghiên cứu thực nghiệm

1.4. Các nghiên cứu ở Việt Nam

1.5. Các nghiên cứu về chính sách khuyến khích sinh con và hỗ trợ nuôi dạy con

1.6. Các phương pháp nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Định nghĩa khái niệm

2.2. Thực hành nuôi dạy con (Child-rearing Practice)

2.3. Cấu trúc giai cấp (Classification)

2.4. Mô hình lý thuyết ảnh hưởng của cấu trúc kinh tế đến khuôn mẫu sinh con và nuôi dạy con

2.5. Mô hình lý thuyết các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị con cái

2.6. Mô hình lý thuyết ảnh hưởng của tầng lớp xã hội và một số yếu tố khác đến khuôn mẫu nuôi con

2.7. Lý thuyết giá trị con cái và những khuôn mẫu nuôi con

2.8. Mô hình lý thuyết của luận án

2.9. Phương pháp nghiên cứu

2.10. Địa bàn nghiên cứu

2.11. Đặc điểm của những người tham gia

3. CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ CON CÁI, QUAN NIỆM VÀ HÀNH VI SINH CON VÀ NUÔI DẠY CON

3.1. Số con hiện tại, dự định sinh con, giới tính con và sở thích về giới tính của con cái

3.2. Hành vi nuôi dạy con và những kỳ vọng của cha mẹ về con cái

3.3. Mối liên hệ giữa giá trị con cái với hành vi sinh con và nuôi dạy con

4. CHƯƠNG 4: MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ TRỊ CON CÁI, QUAN NIỆM VÀ HÀNH VI SINH CON VÀ NUÔI DẠY CON

4.1. Mối liên hệ giữa đặc điểm nhân khẩu và tầng lớp xã hội với giá trị con cái

4.2. Mối liên hệ giữa đặc điểm nhân khẩu và tầng lớp xã hội với quan niệm và hành vi nuôi dạy con

4.3. Ảnh hưởng của đặc điểm nhân khẩu đến quan niệm và hành vi nuôi dạy con

4.4. Ảnh hưởng của tầng lớp xã hội đến quan niệm và hành vi nuôi dạy con

4.5. So sánh mức độ ảnh hưởng giữa yếu tố đặc điểm nhân khẩu với yếu tố tầng lớp xã hội đến quan niệm và hành vi nuôi dạy con

4.6. Những khía cạnh nuôi dạy con mà yếu tố tầng lớp xã hội ảnh hưởng mạnh hơn

4.7. Những khía cạnh nuôi dạy con mà yếu tố đặc điểm nhân khẩu ảnh hưởng mạnh hơn

PHẦN THẢO LUẬN, KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Bối cảnh và sự cần thiết của nghiên cứu

Nghiên cứu về mô hình sinh connuôi dạy con tại TP.HCM hiện nay là một chủ đề quan trọng, phản ánh sự thay đổi trong xã hội và văn hóa. Thành phố Hồ Chí Minh, với dân số đông và tốc độ đô thị hóa nhanh, đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc duy trì tỷ lệ sinh và chất lượng nuôi dạy trẻ. Theo Tổng cục Thống kê, tỷ suất sinh tại thành phố này chỉ đạt 1,48 con/phụ nữ, thấp hơn mức thay thế. Điều này đặt ra câu hỏi về các chính sách gia đìnhdịch vụ chăm sóc trẻ hiện có. Nghiên cứu này không chỉ nhằm tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển trẻ em mà còn xem xét các kinh nghiệm nuôi dạy con của các bậc phụ huynh. Những vấn đề như bất bình đẳng giới, bạo lực gia đình và xung đột giá trị giữa các thế hệ cũng cần được xem xét trong bối cảnh này.

II. Các lý thuyết trong nghiên cứu về sinh con và nuôi dạy con

Nghiên cứu về mô hình sinh connuôi dạy con thường dựa trên nhiều lý thuyết khác nhau. Lý thuyết cấu trúc xã hội và văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu rõ các giá trị con cáiquan niệm nuôi dạy con. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng tầng lớp xã hộiđặc điểm nhân khẩu có ảnh hưởng lớn đến cách thức nuôi dạy trẻ. Chẳng hạn, các gia đình thuộc tầng lớp trung lưu thường có xu hướng nuôi dạy con theo phong cách dân chủ hơn so với các gia đình thuộc tầng lớp lao động. Điều này cho thấy sự cần thiết phải kết hợp các lý thuyết này để có cái nhìn toàn diện hơn về thách thức nuôi dạy con trong bối cảnh hiện tại.

III. Tình hình nuôi dạy con ở TP

Tình hình nuôi dạy con tại TP.HCM hiện nay đang gặp nhiều khó khăn. Các bậc phụ huynh thường phải đối mặt với áp lực từ công việc và xã hội, dẫn đến việc thiếu thời gian và kiến thức trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ. Nhiều cha mẹ tìm kiếm thông tin từ sách báo và mạng xã hội, nhưng không phải lúc nào cũng hiệu quả. Các chương trình hỗ trợ từ chính quyền địa phương vẫn còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào việc phổ biến kiến thức pháp luật mà chưa thực sự đáp ứng nhu cầu thực tế của các gia đình. Điều này cho thấy sự cần thiết phải cải thiện chương trình giáo dụcdịch vụ chăm sóc trẻ để hỗ trợ tốt hơn cho các bậc phụ huynh.

IV. Chính sách gia đình và dịch vụ chăm sóc trẻ

Chính sách gia đình tại TP.HCM cần được xem xét và cải thiện để đáp ứng nhu cầu của các gia đình hiện đại. Các chính sách gia đình hiện tại chủ yếu tập trung vào việc cung cấp dịch vụ y tế và thông tin pháp luật, trong khi các dịch vụ hỗ trợ khác như tư vấn nuôi dạy con và giáo dục sớm vẫn còn thiếu. Việc phát triển các dịch vụ chăm sóc trẻ chất lượng cao sẽ giúp giảm bớt gánh nặng cho các bậc phụ huynh và nâng cao chất lượng phát triển trẻ em. Các chương trình hỗ trợ cần được thiết kế để phù hợp với nhu cầu đa dạng của các gia đình, từ đó tạo ra môi trường nuôi dạy con tốt hơn.

V. Kết luận và khuyến nghị

Nghiên cứu về mô hình sinh connuôi dạy conTP.HCM hiện nay cho thấy sự cần thiết phải có những thay đổi trong chính sách và dịch vụ hỗ trợ gia đình. Các bậc phụ huynh cần được trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết để nuôi dạy con cái một cách hiệu quả. Đồng thời, chính quyền địa phương cần tăng cường các chương trình hỗ trợ và dịch vụ chăm sóc trẻ, nhằm tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển của trẻ em. Việc này không chỉ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho các gia đình mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Bối cảnh và sự cần thiết của nghiên cứu Sinh con và nuôi day con: Lịch sử nghiên cứu và những vấn đề đặt ra Nghiên cứu về vấn đề sinh con và nuôi dạy con được chú ý từ nửa sau thế kỷ 20 với những công trình của các tác giả tiên phong như Davis & Havighurst (1946), White (1957), Bulatao (1984), Mai Quỳnh Nam (1984), Phạm Bích San (1985), Vũ Mạnh Lợi (1990). Hiện nay, chủ đề sinh con và nuôi dạy con vẫn đang tiếp tục nhận được sự quan tâm của nhiều nhà xã hội học. Sự quan tâm của các chuyên gia về vấn đề sinh con xuất phát từ thực trạng dân số phát triển không đồng đều ở các khu vực khác nhau trên thế giới.

Trong khi mức sinh có xu hướng giảm trên phạm vi toàn thé giới, từ các quốc gia phát triển (A dhikari, 2010; Majumder & Ram, 2015; Awad, 2017; Cabella, 2018) đến các quốc gia đang phát triển (Matsumoto, 2013; Kato, 2018; Song và cộng sự, 2018; Chabé-Ferret, 2019) thì ở châu Phi, dân số vẫn tiếp tục tăng (Makinwa-Adebusoye, 2001; Bakilana, 2016). Các nha khoa học trong khi nghiên cứu về sinh con thường tập trung tìm hiểu mức sinh và các yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh (Yousif, 2001; Đặng Nguyên Anh, 2007; Adhikari, 2010; Majumder & Ram, 2015; Dorjee, 2016; Awad, 2017; Cabella, 2018; Azmoude, 2019). Các nghiên cứu về nuôi dạy con thường tập trung tìm hiểu sự thực hành nuôi dạy con của cha mẹ khi con cái của họ ở độ tuổi trước khi học mẫu giáo hoặc độ tuổi vị thành niên. Những nghiên cứu ở nước ngoài thường tập trung nhiều nhất vào sự thực hành nuôi dạy con của các gia đình đang có con dưới độ tuổi đi học hoặc đang học mẫu giáo (Davis & Havighurst 1946; White, 1957; Havighurst & Davis, 1955; Littman và cộng sự, 1957; Yarrow và cộng sự, 1962; Lareau, 2002).

Trong khi đó, các nghiên cứu ở Việt Nam thường khảo sát các gia đình có trẻ ở độ tuổi vị thành niên nhiều hơn (Vũ Mạnh Lợi, 1990; Pham Hoàng Nam Phác, 2006; Mai Huy Bích, 2009; Mai Thi Qué, 2012; Phạm Văn Quyết, 2012; Châu Thị Thu Thủy, 2014; Nguyễn Thị Trang, 2017; Nguyễn Đức Chiện và cộng sự, 2017; Nguyễn Kiều Tiên, 2017; Trịnh Thị Quynh, 2019). Có rất ít các nghiên cứu về vấn đề nuôi dạy trẻ dưới sáu tuổi như của Vũ Thị Tố Uyên (2015) và Phạm Thị Thúy (2015, 2017, 2018). Mặc dù các nghiên cứu về chủ đề sinh con và nuôi day con khá phố biến, có rat ít nghiên cứu kết nối hai van dé này với nhau. Các nghiên cứu về mối liên hệ việc sinh con và nuôi dạy con trước đây chủ yếu phân tích mối liên hệ giữa quy mô gia đình (số lượng con) đến cách thức nuôi dạy con.

Các tác giả cho rằng ở những gia đình công con, người cha tham gia nhiều hơn vào hoạt động nuôi dạy con (Elder và Bowerman, 1963). Bên cạnh đó, những gia đình càng đông con, cha mẹ cảng có khuynh hướng sử dụng các phương pháp bạo lực khi kỷ luật trẻ (Erlanger, 1974; Wagner và cộng sự, 1985). Ở khía cạnh lý thuyết, các nhà khoa học đề xuất các cách tiếp cận lý thuyết khác nhau về van đề sinh con và nuôi day con. Trong đó, phổ biến là cách tiếp cận cấu trúc.

Một số tác giả áp dụng cách tiếp cận cấu trúc kinh tế - xã hội (với các lý thuyết Quá độ dan số của Kirk (1996), lý thuyết kinh tế của Becker (1965) và Caldwell (1982). Một số khác chú trọng đến ảnh hưởng của yếu tố văn hóa (Freedman, 1994; Jose và cộng sự, 2000; Trommsdorff, 2006; Rubin, 2006; He và cộng sự, 2021). Cách tiếp cận phân tầng xã hội cũng được áp dụng khá rộng rãi, đặc biệt là trong các nghiên cứu về nuôi dạy con (Davis & Havighurst 1946; Havighurst & Davis, 1955; Littman và cộng sự, 1957; White, 1957; Yarrow và cộng sự, 1962; Kohn, 1963, 1969; Mussen & Beytagh, 1969; Lareau, 2002; Keller va cộng sự, 2006). Tuy nhiên, rat ít nghiên cứu khảo sát về mối liên hệ giữa tầng lớp xã hội với việc sinh con.

Các tác giả bàn về vấn đề này thường tập trung nhiều vào trải nghiệm sinh nở giữa phụ nữ ở các tầng lớp khác nhau (trung lưu và lao động) theo cách tiếp cận định tính (Nelson, 1983; Zadoroznyj, 1999; Liamputtong, 2005). Lý thuyết Giá tri con cái va những khuôn mẫu nuôi con của Hoffman (1988) có thé xem là sự tổng hợp cách tiếp cận cấu trúc xã hội và văn hóa trong van dé sinh con và nuôi dạy con. Tuy nhiên, Hoffman (1988) chưa phân tích chỉ tiết các khía cạnh sinh con và nuôi dạy con. Ở khía cạnh sinh con, tác giả chỉ bàn về giá trị con cái mà chưa đề cập đến các yếu tố như giới tính con, sở thích giới tính đối với con cái, dự định sinh,.

Ở khía cạnh nuôi dạy con, tác giả chỉ phân tích kỳ vọng của cha mẹ về phâm chất tương lai của trẻ mà không đê cập đên các khía cạnh ăn uông, vệ sinh, giúp việc nhà, tự chăm sóc bản thân, cách kiêm soát trẻ. Ngoài ra, mô hình lý thuyết của Hoffman (1988) chưa quan tâm day đủ đến yếu tố giới. Tác giả đề cập ảnh hưởng của nghề nghiệp của cha đến kỳ vọng về pham chất của con nhưng không khảo sát sự ảnh hưởng có thé có của nghề nghiệp người mẹ. Tương tự, Hoffman (1988) phân tích ảnh hưởng của quốc tịch của người mẹ đến kỳ vọng về phâm chất tương lai của con trai và con gái nhưng không bàn đến quốc tịch của cha.

Sinh con và nuôi dạy con: Những vấn đề thực tiễn Thanh phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế - thương mại - giáo dục — khoa học công nghệ - y tế - văn hóa - du lịch của Việt Nam và là cửa ngõ cho quá trình tiếp biến văn hóa giữa Việt Nam và quốc tế. Về dân só, tính đến năm 2021, đây là địa phương đông dân nhất cả nước với 9.000 người (mật độ dân số 4.375 người/km?), trong đó khoảng 80% dân cư sống ở khu vực đô thị. Tốc độ tăng dân số bình quân của thành phố là 2,28%/nam nhưng đang có xu hướng chậm lại. Đây cũng là địa phương có mức sinh thấp nhất cả nước với tổng tỷ suất sinh (TER) là 1,48 con/phụ nữ, dưới mức sinh thay thé (2,1 con/phụ nữ) (Tổng cục Thống kê, 2023).

Bên cạnh vấn đề tỷ suất sinh thấp, nhiều vấn đề gia đình cũng còn tồn tại như: bất bình dang giới, bạo lực gia đình, xung đột giá tri giữa các thế hệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (Vụ Gia đình, 2022). Các vấn đề nảy sinh trong phương pháp nuôi dạy con, đặc biệt là con nhỏ, cũng khiến nhiều bậc cha mẹ bối rối và thậm chí nảy sinh mâu thuẫn. Chăng hạn như quan niệm về dinh dưỡng và cách cho con ăn, chọn trường cho con khi con sắp vào lớp một, dạy con học (Hy An, 2022). Các bậc cha mẹ phản ứng trước các khó khăn, thách thức này bằng cách hoặc là tự tìm hiểu các thông tin từ sách, báo, mạng xã hội, v.; hoặc là tham gia các khóa học dành cho cha mẹ với chi phí cao nhưng hiệu quả không đáng kể (Hoài Nam, 2014).

Mặt khác, công tác gia đình của UBND Thanh phó Hồ Chí Minh hiện tại vẫn chỉ chủ yếu là thực hiện phố biến kiến thức pháp luật về gia đình, việc cung cấp kiến thức, kỹ năng cho nam nữ thanh niên trước khi kết hôn và sau khi sinh con mặc dù có nhưng chưa rộng rãi và it thiết thực. Bên cạnh đó, sự hỗ trợ vật chất cho các gia đình còn rất hạn chế và chủ yếu là về hỗ trợ tiếp cận dịch vụ y tế (Long Hồ, 2019). Mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu Luận án nhằm góp phần bổ sung một số khoảng trống trong lý thuyết tiếp cận trong nghiên cứu về sinh con và nuôi day con. Cu thé: (1) Kiểm tra lý thuyết của Hoffman (1988) về sự ảnh hưởng của cấu trúc xã hội đến giá tri con cái, quan niệm và hành vi sinh con và nuôi dạy con ở Việt Nam (mà cụ thê là ở Thành phố Hồ Chí Minh); (2) Mở rộng khung lý thuyết của Hoffman (1988) thông qua việc đưa vào mô hình các biến đặc điểm nhân khẩu (dé kiêm định ảnh hưởng của các biến này đến giá trị con cái, quan niệm và hành vi sinh con và nuôi dạy con) và chi tiết hóa khái niệm “sinh con” và “nuôi dạy con”; (3) Dua vào yêu tố giới (của cha mẹ và con cái) trong phân tích về giá trị con cái, quan niệm, hành vi sinh con và nuôi dạy con.

Mục tiêu nghiên cứu 1. Tìm hiểu giá tri con cái, quan niệm và hành vi sinh con và nuôi day con ở các gia đình tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay theo giới tính của cha mẹ và con cái. Phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố nhân khẩu, tầng lớp xã hội đến giá trị con cái, quan niệm và hành vi sinh con và nuôi day con theo giới tính của cha mẹ va con cái ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Từ đó, xây dựng mô hình lý thuyết về ảnh hưởng của cấu trúc xã hội đến giá tri con cái, quan niệm và hành vi sinh con, nuôi dạy con theo giới tính của cha mẹ và con cái.

Câu hỏi nghiên cứu 1. Giá tri con cái, quan niệm và hành vi sinh con và nuôi dạy con tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay có những đặc trưng gì? 2. Giá tri con cái, quan niệm và hành vi sinh con và nuôi day con có mối liên hệ tuần tự và có sự khác biệt theo giới tính của cha mẹ và con cái như thế nào? 3. Ngoài sự ảnh hưởng của tuần tự của yếu tố tang lớp xã hội đến giá tri con cái, quan niệm và hành vi sinh con và nuôi dạy con; yếu tố đặc điểm nhân khẩu nhân khẩu có thê có ảnh hưởng gây nhiễu trong mô hình như thế nào? 3.

Giả thuyết nghiên cứu Giả thuyết H1. Đa số các bậc cha mẹ tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay đề cao giá trị thành tích, sinh ít con, bình đẳng về sở thích giới tính con, nuôi dạy con theo phong cách đề cao sự tự do, tự chủ sáng tạo. về giá tri con cái, Hoffman (1988) lập luận rằng ở các xã hội có trình độ phát triển kinh tế cao hơn (xã hội công nghiệp, dịch vụ), cha mẹ sẽ thiên về giá tri tình cảm và thành tích hơn giá trị kinh tế như các xã hội có trình độ phát triển thấp hơn (xã hội nông nghiệp).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Mô Hình Sinh Con và Nuôi Dạy Con Ở TP.HCM Hiện Nay" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các phương pháp sinh con và nuôi dạy con cái tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả phân tích những xu hướng hiện tại, từ việc lựa chọn mô hình gia đình đến các phương pháp giáo dục, nhằm giúp các bậc phụ huynh hiểu rõ hơn về những thách thức và cơ hội trong việc nuôi dạy con cái. Bài viết không chỉ mang lại thông tin hữu ích mà còn khuyến khích các bậc phụ huynh áp dụng những phương pháp phù hợp để phát triển toàn diện cho trẻ.

Để mở rộng thêm kiến thức về giáo dục trẻ em, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận văn thạc sĩ nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em các gia đình nhập cư vào thành phố hồ chí minh", nơi đề cập đến những thách thức trong việc giáo dục trẻ em từ các gia đình nhập cư. Ngoài ra, bài viết "Luận văn thạc sĩ hcmute giáo dục sự tự tin cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi thông qua tổ chức hoạt động ngày lễ ngày hội tại một số trường mầm non quận thủ đức thành phố hồ chí minh" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách xây dựng sự tự tin cho trẻ nhỏ. Cuối cùng, bài viết "Luận văn thạc sĩ hcmute giáo dục tính tự lập cho trẻ mầm non tại trường mầm non 106 biên hòa đồng nai" sẽ cung cấp thêm thông tin về việc phát triển tính tự lập cho trẻ em trong giai đoạn mầm non. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về giáo dục và nuôi dạy trẻ em trong bối cảnh hiện đại.