Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Xã hội học (mã số 9.01) với đề tài "Tiếp cận dịch vụ y tế và giáo dục với nhóm trẻ lai từ các cuộc hôn nhân Đài-Việt và Hàn-Việt ở khu vực Tây Nam Bộ (Nghiên cứu trường hợp tỉnh Hậu Giang)" được nghiên cứu sinh Dương Hiền Hạnh thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Đặng Nguyên Anh và bảo vệ năm 2019.

Về tính cấp thiết, luận án xuất phát từ bối cảnh toàn cầu hóa di cư và làn sóng phụ nữ Việt Nam, đặc biệt tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (Tây Nam Bộ), kết hôn với nam giới Đài Loan và Hàn Quốc từ sau thời kỳ Đổi Mới. Khi các cuộc hôn nhân xuyên quốc gia này gặp biến cố dẫn đến đổ vỡ, ly hôn, trục xuất hoặc khó khăn kinh tế, một bộ phận phụ nữ đã mang thai về sinh con tại quê nhà hoặc gửi con lai về cho gia đình bên ngoại chăm sóc. Báo cáo di cư công dân Việt Nam ghi nhận trong giai đoạn từ tháng 9/2008 đến tháng 9/2009, phía quản lý di dân Hàn Quốc thông báo có 1.700 trường hợp trẻ lai Hàn - Việt dưới 3 tuổi không được đưa trở lại Hàn Quốc. Tại Hậu Giang, theo số liệu của Sở Tư pháp năm 2014, có 169 trẻ con lai đang theo học tiểu học, và cán bộ cấp tỉnh ước tính thực tế có hơn 500 trẻ lai đang cư trú trên địa bàn.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra là: Chưa có quốc gia nào đưa ra con số thống kê chính thức về số lượng trẻ lai đang sống tại Việt Nam. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào thực trạng kết hôn, khía cạnh kinh tế hộ gia đình, hoặc điều kiện sống của phụ nữ và trẻ em tại nước sở tại (Đài Loan, Hàn Quốc). Thực trạng đời sống, tình trạng cư trú và khả năng tiếp cận hai dịch vụ xã hội cơ bản là y tế và giáo dục của nhóm trẻ lai sinh sống tại quê ngoại ở Việt Nam hoàn toàn chưa được điều tra thực nghiệm bài bản dưới góc độ xã hội học. Do thiếu giấy tờ hộ tịch hợp lệ (khai sinh, hộ khẩu Việt Nam, đăng ký tạm trú), nhóm trẻ này rơi vào tình trạng cư trú không đầy đủ về mặt pháp lý, dẫn đến nguy cơ bị gạt ra bên lề xã hội khi tiếp cận các dịch vụ công.

Mục đích nghiên cứu của luận án là tìm hiểu thực trạng tiếp cận dịch vụ y tế và giáo dục đối với nhóm trẻ lai Đài-Việt và Hàn-Việt đang sinh sống tại Hậu Giang cùng mẹ hoặc họ hàng bên ngoại bằng phương pháp tiếp cận xã hội học; qua đó giải thích hiện tượng xã hội hiện đại phát sinh trong quá trình phát triển và hội nhập của Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua ba nội dung:

  1. Đánh giá thực trạng tiếp cận dịch vụ y tế và giáo dục của trẻ lai Đài-Việt và Hàn-Việt, xác định và lý giải một số yếu tố tác động đến việc tiếp cận giáo dục và y tế của nhóm trẻ lai này.
  2. So sánh đối chiếu giữa nhóm trẻ lai và trẻ cộng đồng nhằm giải thích cho sự khác biệt của hai nhóm trẻ này trong việc tiếp cận dịch vụ y tế và giáo dục.
  3. Làm rõ những hạn chế trong chính sách y tế và giáo dục đối với nhóm trẻ lai, đồng thời đề xuất giải pháp nhằm tăng cường tiếp cận dịch vụ y tế và giáo dục đối với nhóm trẻ lai.

Về đối tượng nghiên cứu, luận án xác định là thực trạng tiếp cận dịch vụ giáo dục và chăm sóc y tế cho trẻ lai Đài-Việt và Hàn-Việt tại Hậu Giang.

Khách thể nghiên cứu bao gồm:

  • Nhóm trẻ lai sinh tại Việt Nam hoặc đưa từ nước ngoài về nuôi dưỡng bởi mẹ ruột hoặc họ hàng bên ngoại, từ 6 tháng đến 17 tuổi (khảo sát thông qua người trực tiếp chăm sóc/người bảo hộ).
  • Nhóm trẻ cộng đồng (trẻ địa phương mang quốc tịch Việt Nam, có cả cha và mẹ là người Việt Nam) từ 6 tháng đến 17 tuổi, sống cùng địa bàn và tương đồng về cấp lớp học, đóng vai trò là nhóm đối chứng để so sánh sự khác biệt.
  • Nhóm cá nhân liên quan tham gia phỏng vấn sâu: cán bộ công an phụ trách cư trú, cán bộ tư pháp, cán bộ y tế cơ sở, cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên trực tiếp giảng dạy, lãnh đạo chính quyền cấp huyện, xã và đại diện Văn phòng Kinh tế và Văn hóa Đài Bắc tại TP.HCM.

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn như sau:

  • Không gian: Ba đơn vị hành chính thuộc tỉnh Hậu Giang gồm Thành phố Vị Thanh, Thị xã Ngã Bảy và Huyện Vị Thủy.
  • Thời gian: Đề tài thực hiện từ tháng 12/2014 đến tháng 10/2016; trong đó giai đoạn khảo sát thực địa trực tiếp diễn ra từ tháng 7 đến tháng 9/2016.
  • Vấn đề nghiên cứu: Về y tế, tập trung vào việc tiêm ngừa vắc xin cho trẻ dưới 6 tuổi, thực trạng có thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) và hình thức sử dụng thẻ BHYT. Về giáo dục, tập trung vào tình trạng đăng ký nhập học, kết quả học tập, tình trạng đi học thêm và việc cấp học bạ chính thức.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các luồng nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến hôn nhân xuyên quốc gia, sự đổ vỡ gia đình và vấn đề con lai:

Thứ nhất, hướng nghiên cứu về thực trạng và động cơ kết hôn xuyên quốc gia:

  • Yang và Melody Chia-Wen Lu (2007) phân tích xu hướng hôn nhân có yếu tố nước ngoài gia tăng tại Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Kông và hiện tượng "nữ hóa di cư", song các công trình trong tuyển tập này chủ yếu xem xét hôn nhân và bước đầu nhắc đến ly hôn, chưa đề cập đến hậu quả đối với con lai.
  • Beck, Dixon, Ruth (1971) trong nghiên cứu "Explaining Cross – cultural Variation in Age at Marriage and Proportions never Marrying" đưa ra ba yếu tố tác động đến khuôn mẫu hôn nhân: khả năng lựa chọn bạn đời, tính khả thi và mong muốn hôn nhân dưới áp lực kinh tế, xã hội.
  • Wang và Chang (2002) với bài viết "Commodification of international marriage" xem xét hôn nhân quốc tế dưới góc độ kinh tế và thương mại hóa, so sánh sự tương đồng giữa Nhật Bản và Đài Loan (tại Nhật Bản số vụ kết hôn có yếu tố nước ngoài tăng từ 2.108 trường hợp năm 1970 lên 4.386 trường hợp năm 1980 và 20.226 trường hợp năm 1990).
  • Emiko Ochiai (2010) với công trình "Nghịch lí hôn nhân Đông Á" chỉ rõ Nhật Bản khởi xướng xu hướng kết hôn với người nước ngoài từ thập niên 1980, Hàn Quốc và Đài Loan bắt đầu từ thập niên 1990. Năm 2008, tỷ lệ kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Nhật Bản là 5,1%, Hàn Quốc là 11% và Đài Loan là 12,2%. Riêng năm 2003 tại Đài Loan, cứ ba cuộc kết hôn thì có một cuộc xuyên quốc gia, và 28% cô dâu không phải người Đài Loan.
  • Ở trong nước, Phan An và cộng sự (2001), Trần Thị Kim Xuyến (2005) nhìn nhận hôn nhân xuyên quốc gia có đóng góp kinh tế hộ gia đình, giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo tại địa phương. Hoàng Bá Thịnh (2008) phân tích "thị trường hôn nhân" Hàn - Việt dưới tác động của hiện đại hóa và toàn cầu hóa. Nguyễn Hữu Minh và Trần Thị Vân Anh (2009) điểm lại các giai đoạn kết hôn với người nước ngoài trong lịch sử Việt Nam (thời phong kiến, thời Pháp thuộc, thời kỳ chiến tranh và thời kỳ hợp tác lao động, du học Việt - Xô thập niên 1980 - 1990), dẫn lại quan điểm của Trịnh Thị Kim Ngọc về ngoại giao nhân dân cũng như mục đích kinh tế của hôn nhân.
  • Thống kê kết hợp từ Văn phòng Kinh tế và Văn hóa Đài Bắc tại TP.HCM và nghiên cứu của Đỗ Thị Như Tâm cùng cộng sự (2003) cho thấy từ năm 1995 đến 2016 có 133.023 phụ nữ Việt Nam kết hôn với nam giới Đài Loan, giai đoạn đỉnh điểm 1999 - 2003 ghi nhận gần 14.000 trường hợp/năm. Thống kê phía Hàn Quốc ghi nhận từ năm 2001 đến 2006 có 20.428 trường hợp kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam và nam giới Hàn Quốc, và tính đến thời điểm nghiên cứu có hơn 40.000 phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc.

Thứ hai, hướng nghiên cứu về khủng hoảng, ly hôn và hệ lụy đối với con cái:

  • Dương Hiền Hạnh (Duong, 2009) vận dụng lý thuyết căng thẳng gia đình ("Family Stress Theory") của Patrick C. McKenry và Sharon J. Price trong luận văn thạc sĩ nghiên cứu đổ vỡ hôn nhân Đài - Việt, chỉ ra các xung đột văn hóa, ngôn ngữ, tài chính và rào cản pháp lý trong thời hạn 3 năm đầu trước khi nhận thẻ cư trú (ID card). Khi khủng hoảng không giải quyết được, người phụ nữ bị trục xuất hoặc bỏ trốn về nước mang theo con nhỏ hoặc mang thai về sinh tại Việt Nam.
  • Nguyễn Nữ Nguyệt Anh (2010) trong nghiên cứu "Life of Vietnamese brides in Korea" sử dụng phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, chỉ ra tình trạng bạo lực gia đình, sự phụ thuộc và cô lập xã hội của cô dâu Việt tại Hàn Quốc.
  • Schaefer (2003) trong giáo trình "Xã hội học" bàn về dân số và nhập cư như một hiện tượng xã hội thúc đẩy bởi yếu tố kinh tế, nhưng chỉ tập trung vào người lớn và bỏ qua dòng di cư quay trở về. François Houtart phê phán mặt trái của toàn cầu hóa thị trường tự do, dẫn đến tình trạng các nhóm xã hội yếu thế bị bỏ rơi bên lề.
  • Shin-Mei Kao (2015) trong công trình "Narrative development of school children- Studies from multilingual families in Taiwan" thống kê đến năm 2012 có 153.828 trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Đài Loan, trong đó phụ nữ Việt Nam chiếm 57% (87.012 trường hợp); trẻ em sinh ra từ mẹ Việt Nam chiếm 40% số trẻ lai từ các nước Nam Á. Báo cáo của Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM) ước tính bình quân một cô dâu sinh 2 con, đưa ra con số ước lượng gần 200.000 trẻ lai Việt Nam tại Đài Loan.
  • Hui trong luận án nghiên cứu gia đình đa văn hóa Đài - Việt tại Đài Loan đã dành 17 tháng nghiên cứu dân tộc học về sự phối hợp giữa các bà mẹ Việt Nam và giáo viên tiểu học. Ahn Kyong Hwan dẫn nghiên cứu của Choi Soen Hee (Đại học Korean Bible, Hàn Quốc) cho thấy trẻ em nghèo trong gia đình đa văn hóa có tỷ lệ học kém cao gấp 2,2 lần.
  • Hiền Anh Lê (2016) khảo sát định tính 30 phụ nữ mang con lai Hàn - Việt hồi hương, phản ánh tình trạng trẻ sống không giấy tờ tùy thân, mẹ đi làm xa để lại con cho ông bà ngoại chăm sóc. Báo chí trong nước (VnExpress) phản ánh tại tỉnh Đồng Tháp có 475 trẻ lai Đài Loan về sống cùng họ ngoại, trong đó riêng huyện Lai Vung có 55 trường hợp ông bà không biết tên cháu để đăng ký tạm trú, 39 trường hợp gặp vướng mắc hộ tịch.

Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình đi trước phần lớn nghiên cứu cô dâu và trẻ em đa văn hóa tại nước sở tại (nơi đến). Hiện tượng trẻ lai hồi hương về sống cùng bên ngoại tại Việt Nam (nơi trẻ không có quốc tịch) mới chỉ dừng ở mức độ phản ánh trên báo chí hoặc nghiên cứu định tính quy mô nhỏ. Luận án chọn giải quyết khoảng trống này bằng việc khảo sát thực nghiệm cả định lượng và định tính tại Hậu Giang, tập trung trực tiếp vào hai dịch vụ xã hội cơ bản là y tế và giáo dục, so sánh tương quan với trẻ em địa phương để nhận diện rào cản chính sách và bất bình đẳng cơ hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên ba cơ sở lý thuyết và tiếp cận chính:

  1. Lý thuyết cấu trúc - chức năng: Xem xét các thiết chế xã hội cơ bản (gia đình, nhà trường, hệ thống y tế) trong việc thực hiện chức năng xã hội hóa cá nhân, chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em. Khi cấu trúc gia đình bị khiếm khuyết (thiếu vắng cha và mẹ), các thiết chế giáo dục và y tế công lập chịu áp lực bù đắp nhằm đảm bảo sự hòa nhập xã hội của trẻ.
  2. Lý thuyết mạng lưới xã hội: Phân tích vai trò của các mối quan hệ xã hội thân tộc (họ hàng bên ngoại), hàng xóm láng giềng và các kênh thông tin không chính thức trong việc hỗ trợ người chăm sóc đưa trẻ đi tiêm chủng, mua thẻ BHYT và làm thủ tục nhập học khi thiếu vắng sự hỗ trợ hành chính chính thức.
  3. Tiếp cận dựa trên quyền trẻ em: Căn cứ theo Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em (ký kết ngày 20/11/1989, có hiệu lực ngày 02/09/1990, Việt Nam phê chuẩn ngày 20/02/1990) với 4 nhóm quyền cơ bản: quyền sống còn, quyền được bảo vệ, quyền được phát triển và quyền được tham gia. Luận án tập trung vào Điều 24 (quyền được chăm sóc sức khỏe và thụ hưởng các dịch vụ y tế) và Điều 28 (quyền học tập, phổ cập tiểu học miễn phí không phân biệt đối xử).

Về mặt khái niệm, tác giả tiến hành thao tác hóa các khái niệm: "trẻ lai" (trẻ sinh ra từ cuộc hôn nhân giữa mẹ là người Việt Nam và bố là người Đài Loan hoặc Hàn Quốc, hiện sống tại địa phương), "trẻ cộng đồng" (trẻ em địa phương có cả cha và mẹ mang quốc tịch Việt Nam), "tiếp cận dịch vụ y tế" và "tiếp cận dịch vụ giáo dục".

Về phương pháp thu thập dữ liệu:

  • Phương pháp phân tích tư liệu sẵn có: Rà soát các văn bản pháp luật, chính sách của Việt Nam liên quan đến trẻ em như Hiến pháp 1992, Luật Phổ cập giáo dục tiểu học, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Bảo hiểm y tế.
  • Khảo sát thực địa được triển khai qua các giai đoạn:
    • Giai đoạn 1 (tháng 11/2015): Khảo sát sơ bộ tại 4 tỉnh Cần Thơ, Hậu Giang, Đồng Tháp, An Giang. Tỉnh An Giang chỉ ghi nhận 10 trẻ, nên tác giả quyết định chọn Hậu Giang làm địa bàn nghiên cứu chính thức.
    • Giai đoạn 2 (tháng 7 và tháng 8/2016): Thu thập số liệu bảng hỏi và phỏng vấn sâu tại TP Vị Thanh, TX Ngã Bảy và Huyện Vị Thủy.
    • Giai đoạn 3: Nghiên cứu sinh tham gia đề tài cấp nhà nước "Dân số và di dân Tây Nam Bộ" do PGS.TS Lê Thanh Sang làm chủ nhiệm, kế thừa các biên bản phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm để bổ sung dữ liệu định tính.

Quy mô và kỹ thuật chọn mẫu: Do không có khung mẫu tổng thể về trẻ lai tại địa phương, luận án sử dụng phương pháp lấy mẫu cụm kết hợp khảo sát toàn bộ các hộ gia đình nuôi trẻ lai tiếp cận được trên địa bàn ba đơn vị hành chính. Nhóm đối chứng (trẻ cộng đồng) được chọn theo tỷ lệ 1-1 tương đồng về địa bàn, độ tuổi và cấp lớp học.

Nhóm khách thể Địa bàn khảo sát Dung lượng mẫu Phương pháp thu thập
Trẻ lai (Đài-Việt và Hàn-Việt) TP Vị Thanh, TX Ngã Bảy, Huyện Vị Thủy 100 mẫu Bảng hỏi định lượng (130 câu)
Trẻ cộng đồng (đối chứng) TP Vị Thanh, TX Ngã Bảy, Huyện Vị Thủy 100 mẫu Bảng hỏi định lượng (130 câu)
Tổng mẫu định lượng 3 đơn vị hành chính 200 mẫu Bảng hỏi cấu trúc
Cán bộ công an cấp tỉnh Công an tỉnh Hậu Giang 1 trường hợp Phỏng vấn sâu bán cấu trúc
Đại diện cơ quan ngoại giao Văn phòng UBKTVH Đài Bắc tại TP.HCM 1 trường hợp Phỏng vấn sâu bán cấu trúc
Lãnh đạo UBND cấp huyện/thị TX Ngã Bảy, Huyện Vị Thủy 2 trường hợp Phỏng vấn sâu bán cấu trúc
Lãnh đạo Phòng Tư pháp TP Vị Thanh, TX Ngã Bảy, Huyện Vị Thủy 3 trường hợp Phỏng vấn sâu bán cấu trúc
Lãnh đạo UBND cấp xã/phường Các xã, thị trấn khảo sát 3 trường hợp Phỏng vấn sâu bán cấu trúc
Cán bộ tư pháp cấp xã Các xã, thị trấn khảo sát 3 trường hợp Phỏng vấn sâu bán cấu trúc
Cán bộ y tế xã/thị trấn Cơ sở y tế cơ sở 2 trường hợp Phỏng vấn sâu bán cấu trúc
Cán bộ quản lý giáo dục & giáo viên Phòng Giáo dục, ban giám hiệu, giáo viên 2 trường hợp (cán bộ cấp 8) Phỏng vấn sâu bán cấu trúc
Người trực tiếp chăm sóc trẻ lai Hộ gia đình nuôi trẻ lai 15 trường hợp Phỏng vấn sâu bán cấu trúc
Tổng mẫu định tính Các cấp quản lý và gia đình 40 trường hợp Phỏng vấn sâu bán cấu trúc

Về xử lý dữ liệu:

  • Dữ liệu định lượng: Nhập và phân tích bằng phần mềm SPSS 23.0. Kỹ thuật phân tích chủ yếu là bảng chéo (Crosstabs) và kiểm định T-test so sánh giữa các biến độc lập (quốc tịch, giấy tờ cư trú, học bạ, tuổi, giới tính, tình trạng cư trú của mẹ, đặc điểm người chăm sóc, mạng lưới thông tin) và biến phụ thuộc (tỷ lệ có BHYT, chi trả y tế, tiếp cận tiêm chủng, tỷ lệ đi học, có học bạ, kết quả học tập). Tác giả nêu rõ hạn chế dung lượng mẫu 100 trẻ lai không đủ lớn để chạy các mô hình hồi quy đa biến hay chia nhỏ mẫu theo địa bàn/quốc tịch.
  • Dữ liệu định tính: Mã hóa phân tầng và phân tích bằng phần mềm NVivo 7 (Anvivo 7) theo các chủ đề về tiếp cận BHYT, tiêm phòng, hồ sơ nhập học, chuyển cấp và nguyện vọng chính sách.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này tập trung tổng kết các lý thuyết và phát hiện thực nghiệm về di cư hôn nhân xuyên quốc gia tại khu vực Đông Á và Đông Nam Á. Tác giả dẫn chứng số liệu lịch sử kết hôn của phụ nữ Việt Nam với nam giới Đài Loan từ năm 1995 đến 2016 (133.023 trường hợp) và Hàn Quốc (trên 40.000 trường hợp). Luận điểm chính của chương khẳng định rằng di cư hôn nhân ban đầu xuất phát từ chiến lược kinh tế nhằm thoát nghèo và tìm kiếm việc làm. Khi các cuộc hôn nhân này đổ vỡ do khác biệt ngôn ngữ, văn hóa và bạo lực gia đình, làn sóng di cư ngược chiều xuất hiện: người mẹ mang con về gửi bên ngoại nuôi dưỡng. Chương 1 làm rõ sự thiếu vắng các công trình nghiên cứu xã hội học thực nghiệm về số phận pháp lý và phúc lợi xã hội của nhóm trẻ lai hồi hương tại Việt Nam, qua đó xác lập tính cấp thiết của đề tài.

Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày hệ thống khái niệm, thao tác hóa biến số và khung lý thuyết gồm lý thuyết cấu trúc - chức năng, lý thuyết mạng lưới xã hội và tiếp cận dựa trên quyền trẻ em. Nội dung chương phân tích khung pháp lý Việt Nam: Điều 7 Pháp lệnh Trẻ em và Luật Phổ cập giáo dục tiểu học quy định trẻ em có quyền học hết bậc phổ thông cơ sở không phải trả tiền và nhà nước giúp đỡ trẻ em nước ngoài sinh sống tại Việt Nam có nguyện vọng học tiểu học; Luật Bảo hiểm y tế quy định cấp thẻ BHYT miễn phí cho trẻ dưới 6 tuổi là công dân Việt Nam. Bên cạnh đó, chương mô tả chi tiết phương pháp lấy mẫu cụm 200 mẫu định lượng (100 trẻ lai và 100 trẻ cộng đồng) tại TP Vị Thanh, TX Ngã Bảy, Huyện Vị Thủy và 40 cuộc phỏng vấn sâu bán cấu trúc xử lý qua SPSS 23.0 và NVivo 7.

Chương 3: Tiếp cận dịch vụ y tế của nhóm trẻ lai qua kết quả khảo sát tại Hậu Giang

Chương 3 đi sâu phân tích thực trạng chăm sóc sức khỏe của trẻ lai so sánh với trẻ cộng đồng thông qua các chỉ báo về tiêm chủng vắc xin và sở hữu thẻ BHYT:

  • Đặc điểm nhân khẩu và hoàn cảnh gia đình: Trẻ lai sống chủ yếu với ông bà ngoại hoặc cậu, dì; phần lớn người mẹ đi làm xa ở các thành phố lớn hoặc tiếp tục ở lại nước ngoài, nguồn tài chính nuôi dưỡng phụ thuộc vào tiền mẹ gửi về (trung bình tiền gửi dao động tùy nơi cư trú của mẹ). Đa số trẻ không có hộ khẩu, không có khai sinh do chính quyền Việt Nam cấp, nhiều trường hợp cư trú bằng hộ chiếu nước ngoài đã hết hạn thị thực.
  • Về dịch vụ tiêm chủng: Kết quả khảo sát cho thấy trẻ lai dưới 6 tuổi vẫn được tiếp cận các đợt tiêm ngừa vắc xin cơ bản tại trạm y tế xã/thị trấn tương đương với trẻ cộng đồng. Điều này đạt được là nhờ tính phổ quát của chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia và sự linh hoạt của cán bộ y tế cơ sở thông qua mạng lưới thông tin ấp, xóm mà không bị rào cản gắt gao về hộ khẩu.
  • Về tiếp cận thẻ BHYT và chi trả khám chữa bệnh: Tồn tại sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai nhóm. Trẻ cộng đồng dưới 6 tuổi đương nhiên được ngân sách nhà nước cấp thẻ BHYT miễn phí theo diện công dân. Ngược lại, trẻ lai mang quốc tịch nước ngoài hoặc chưa xác định quốc tịch không thuộc diện cấp miễn phí. Để có thẻ BHYT, người nuôi dưỡng phải tự bỏ tiền mua thẻ tự nguyện (nếu địa phương linh hoạt giải quyết) hoặc chi trả 100% viện phí khi trẻ ốm đau. Tỷ lệ có thẻ BHYT của trẻ lai thấp hơn rõ rệt so với trẻ cộng đồng, tạo gánh nặng kinh tế trực tiếp lên hộ gia đình người chăm sóc.

Chương 4: Tiếp cận dịch vụ giáo dục của nhóm trẻ lai qua kết quả khảo sát tại Hậu Giang

Chương 4 đánh giá cơ hội đến trường, kết quả học tập và các rào cản hành chính trong giáo dục đối với trẻ lai:

  • Thực trạng nhập học tiểu học: Nhờ chủ trương nhân văn của ngành giáo dục và chỉ đạo của chính quyền địa phương nhằm đảm bảo quyền học tập của trẻ em (năm 2014 toàn tỉnh có 169 trẻ theo học tiểu học), các trường tiểu học tại TP Vị Thanh, TX Ngã Bảy và Huyện Vị Thủy đã tiếp nhận trẻ lai vào học lớp 1 dù trẻ không có giấy khai sinh Việt Nam hay hộ khẩu.
  • Vấn đề học bạ và rào cản chuyển cấp: Đây là phát hiện then chốt của chương. Phần lớn trẻ lai đi học theo hình thức "học nhờ", "học dự thính". Do thiếu hồ sơ tư pháp công dân hợp lệ, nhà trường không thể vào sổ điểm chính thức hoặc không thể cấp học bạ hợp thức hóa theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tình trạng này khiến trẻ lai gặp bế tắc khi hoàn thành bậc tiểu học: không có học bạ chính thức thì không đủ điều kiện xét tuyển chuyển cấp lên Trung học cơ sở và Trung học phổ thông.
  • Kết quả học tập và hình thức học: Trẻ lai có tỷ lệ tham gia học thêm thấp hơn và kết quả học tập có phần thiệt thòi hơn so với trẻ cộng đồng do người chăm sóc (ông bà ngoại cao tuổi, trình độ học vấn thấp) không thể kèm cặp bài vở, đồng thời thiếu sự quan tâm trực tiếp của cha mẹ ruột. Người chăm sóc bày tỏ nguyện vọng tha thiết đề nghị nhà nước tháo gỡ vướng mắc về hộ tịch để cấp học bạ cho trẻ được tiếp tục đi học.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:

Về mặt lý luận:

  • Vận dụng phối hợp lý thuyết cấu trúc - chức năng, lý thuyết mạng lưới xã hội và cách tiếp cận dựa trên quyền trẻ em để nghiên cứu một nhóm xã hội yếu thế mới nảy sinh từ tiến trình toàn cầu hóa di cư.
  • Thao tác hóa thành công các khái niệm xã hội học chuyên biệt gồm "trẻ lai", "trẻ cộng đồng", "tiếp cận dịch vụ y tế" và "tiếp cận dịch vụ giáo dục" trong bối cảnh địa bàn nông thôn Tây Nam Bộ.

Về mặt thực tiễn:

  • Là công trình nghiên cứu xã hội học thực nghiệm đầu tiên cung cấp bức tranh dữ liệu có hệ thống (200 mẫu khảo sát bảng hỏi và 40 cuộc phỏng vấn sâu) về đời sống và tình trạng tiếp cận dịch vụ công của trẻ lai Đài-Việt và Hàn-Việt tại Hậu Giang.
  • Nhận diện rõ mâu thuẫn giữa khung pháp lý hành chính hiện hành (quy định về quốc tịch, hộ khẩu, hộ tịch khi nhập học và cấp thẻ BHYT) với các cam kết quốc tế về quyền trẻ em mà Việt Nam đã tham gia ký kết.
  • Chỉ ra hiện tượng "cư trú hợp tình nhưng chưa hợp pháp": trẻ được cộng đồng và gia đình họ ngoại cưu mang nhưng bị nghẽn mạch chính sách khi chuyển cấp học và khám chữa bệnh BHYT.

Các kiến nghị, giải pháp đề xuất từ luận án:

  • Hoàn thiện chính sách hộ tịch và tư pháp: Chính phủ và các bộ ngành cần ban hành hướng dẫn đặc cách đăng ký khai sinh, đăng ký tạm trú dài hạn hoặc tạo điều kiện xác định quốc tịch Việt Nam cho trẻ lai đang sinh sống thực tế tại địa phương cùng người thân bên ngoại.
  • Chính sách giáo dục: Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có quy chế đặc thù cho phép các trường cấp học bạ chính thức và công nhận kết quả học tập cho trẻ lai không có khai sinh Việt Nam, đảm bảo quyền được chuyển cấp lên THCS và THPT.
  • Chính sách y tế: Mở rộng diện bao phủ BHYT, cấp thẻ BHYT hoặc hỗ trợ mức đóng cho trẻ lai dưới 6 tuổi đang cư trú tại địa phương tương đương như trẻ em Việt Nam, giảm bớt gánh nặng chi phí y tế cho gia đình người chăm sóc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế, luận án tự nhận định các điểm sau:

  • Do không có số liệu thống kê tổng thể chính thức về trẻ lai tại Hậu Giang, nghiên cứu không thể áp dụng công thức chọn mẫu ngẫu nhiên xác suất, làm giảm tính khái quát hóa thống kê của mẫu.
  • Dung lượng mẫu định lượng gồm 100 trẻ lai là tương đối nhỏ. Do đó, tác giả không thể phân tích chia nhỏ mẫu theo từng địa bàn hành chính, từng nhóm quốc tịch (Đài Loan hay Hàn Quốc), giới tính, và không thể xây dựng mô hình hồi quy đa biến để kiểm định sâu các mối quan hệ nhân quả.
  • Địa bàn nghiên cứu chỉ giới hạn tại ba đơn vị hành chính của tỉnh Hậu Giang (đã loại bỏ ba xã Vị Bình, Vị Đông, Vị Thanh do mẫu quá ít và địa phương diễn tập; loại 3 trường hợp từ chối trả lời vì nguyên tắc đạo đức nghiên cứu), chưa phản ánh toàn diện thực trạng tại các tỉnh khác thuộc Tây Nam Bộ.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát định lượng với quy mô mẫu lớn hơn trên toàn vùng Tây Nam Bộ và các tỉnh, thành phố khác có nhiều trẻ lai hồi hương.
  • Triển khai các nghiên cứu liên ngành giữa Xã hội học với Luật học, Nhân học, Công tác xã hội và Nghiên cứu Gia đình.
  • Thực hiện các nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal studies) để theo dõi quá trình trưởng thành của nhóm trẻ lai khi bước sang tuổi 18 liên quan đến quyền công dân, đào tạo nghề nghiệp, việc làm và hội nhập xã hội.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên và sinh viên các chuyên ngành Xã hội học, Dân số học, Công tác xã hội, Nhân học và Luật học khi tìm hiểu về biến đổi gia đình, di dân quốc tế và phúc lợi xã hội cho nhóm yếu thế.
  • Cán bộ quản lý nhà nước, chuyên viên hoạch định chính sách thuộc Bộ Tư pháp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp và chính quyền địa phương khu vực Đồng bằng sông Cửu Long trong việc rà soát, tháo gỡ rào cản hành chính cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

Phần nội dung đáng tham khảo nhất của công trình bao gồm:

  • Quy trình thiết kế mẫu khảo sát đối chứng 1-1 giữa trẻ lai và trẻ cộng đồng trên cùng địa bàn sinh sống để kiểm soát các biến ngoại lai.
  • Bộ công cụ khảo sát bảng hỏi 130 câu hỏi thu thập toàn diện thông tin về cư trú, gia đình, y tế và giáo dục.
  • Các phân tích định tính trích xuất từ 40 cuộc phỏng vấn sâu bán cấu trúc với cán bộ tư pháp, công an, y tế, giáo dục cơ sở và người chăm sóc trẻ lai, phản ánh chân thực những vướng mắc thực tiễn ở cấp cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án khảo sát bao nhiêu mẫu và tại các địa bàn cụ thể nào ở tỉnh Hậu Giang? Luận án tiến hành khảo sát định lượng trên tổng số 200 mẫu (gồm 100 trẻ lai Đài-Việt, Hàn-Việt và 100 trẻ cộng đồng làm nhóm đối chứng) và 40 trường hợp phỏng vấn sâu định tính. Địa bàn nghiên cứu được chọn là ba đơn vị hành chính thuộc tỉnh Hậu Giang: Thành phố Vị Thanh, Thị xã Ngã Bảy và Huyện Vị Thủy.

  2. Tại sao tác giả không thực hiện phân tích mô hình hồi quy đa biến trong luận án? Tác giả giải thích do không có số liệu tổng thể về trẻ lai tại địa phương nên không thể lấy mẫu xác suất. Với quy mô 100 mẫu trẻ lai tiếp cận được, dung lượng mẫu tương đối nhỏ, không đủ điều kiện kỹ thuật để chạy các mô hình kinh tế lượng hoặc hồi quy đa biến và không thể phân nhóm sâu theo quốc tịch hay địa bàn vì tỷ lệ phần trăm phân rã quá bé.

  3. Khung lý thuyết xã hội học nào được tác giả sử dụng làm nền tảng phân tích? Luận án vận dụng ba khung lý thuyết và tiếp cận chính: lý thuyết cấu trúc - chức năng (xem xét vai trò thiết chế gia đình, nhà trường, y tế), lý thuyết mạng lưới xã hội (vai trò của họ hàng bên ngoại và kênh thông tin không chính thức) và phương pháp tiếp cận dựa trên quyền trẻ em theo Công ước Quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc (tập trung vào quyền được chăm sóc y tế tại Điều 24 và quyền học tập tại Điều 28).

  4. Trở ngại lớn nhất của trẻ lai tại Hậu Giang khi tiếp cận dịch vụ giáo dục là gì? Trẻ lai được các trường tiểu học tạo điều kiện linh hoạt tiếp nhận vào học lớp 1, nhưng phần lớn ở dạng "học nhờ" hoặc dự thính. Do thiếu khai sinh và hộ khẩu Việt Nam, nhà trường không thể vào sổ điểm chính thức và không thể cấp học bạ hợp lệ, dẫn đến việc trẻ không có hồ sơ pháp lý để xét chuyển cấp lên Trung học cơ sở và Trung học phổ thông.

  5. Điểm khác biệt cơ bản về tiếp cận dịch vụ y tế giữa trẻ lai và trẻ cộng đồng dưới 6 tuổi là gì? Trẻ cộng đồng dưới 6 tuổi mang quốc tịch Việt Nam được ngân sách nhà nước cấp thẻ BHYT hoàn toàn miễn phí. Trong khi đó, trẻ lai mang quốc tịch nước ngoài hoặc chưa xác định quốc tịch không thuộc đối tượng cấp thẻ BHYT miễn phí, người chăm sóc phải tự bỏ tiền mua thẻ tự nguyện hoặc tự chi trả toàn bộ viện phí khi khám chữa bệnh.

Kết luận

Luận án tiến sĩ Xã hội học của Dương Hiền Hạnh là công trình nghiên cứu thực nghiệm phản ánh thực trạng tiếp cận dịch vụ y tế và giáo dục của nhóm trẻ lai Đài-Việt và Hàn-Việt tại tỉnh Hậu Giang. Thông qua việc kết hợp lý thuyết cấu trúc - chức năng, lý thuyết mạng lưới xã hội và tiếp cận quyền trẻ em, luận án làm sáng tỏ những bất bình đẳng về cơ hội thụ hưởng BHYT và rào cản cấp học bạ chuyển cấp do vướng mắc hộ tịch. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn và luận cứ khoa học quan trọng phục vụ công tác quản lý nhà nước và hoàn thiện chính sách an sinh xã hội đối với trẻ em di cư trong bối cảnh hội nhập quốc tế.