mở đầu của quá trình tư duy, con người nhìn nhận hoàn cảnh có vấn đề- khi đó quá trình tư duy bắt đầu. Trong quá trình tư duy, con người tiến hành các thao tác tư duy: phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa. Sự thống nhất giữa tư duy và ngôn ngữ thể hiện ở kết quả của quá trình tư duy mà sản phẩm chính là những khái niệm phán đoán, suy lý được diễn đạt và lưu trữ trong từ ngữ và câu. Ngôn ngữ là phát triển của tư duy và nhận thức.
Nếu không có ngôn ngữ thì quá trình tư duy ở con người không thể diễn ra được, đồng thời các sản phẩm của tư duy cũng không được chủ thể và người khác tiếp nhận. Việc chỉ ra mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ cho phép xác định các phương pháp phát triển ngôn ngữ và tư duy một cách chính xác. Dạy trẻ lĩnh hội ngôn ngữ là phương tiện hữu hiệu để phát triển tư duy của trẻ. Mặt khác, tư duy cũng lại rất cần thiết cho sự phát triển ngôn ngữ.
Sự nhận thức của trẻ phát triển theo từng mức độ nhất định sẽ giúp ngôn ngữ của trẻ phát triển tương ứng. Chính vì thế, nếu không có tư duy thì ngôn ngữ cũng trở nên vô nghĩa. 17 Ở tuổi ấu nhi, hầu hết trẻ em đều rất tích cực hoạt động với đồ vật, nhờ đó trí tuệ, đặc biệt là tư duy của trẻ phát triển khá mạnh. Tuy nhiên, tư duy của trẻ chỉ thực sự phát triển khi trẻ lĩnh hội được ngôn ngữ.
Ngôn ngữ cố định lại kết quả của tư duy là vỏ vật chất của tư duy và phương tiện biểu đạt kết quả của tư duy, do đó có thể khách quan hóa kết quả của tư duy cho người khác và cho bản thân chủ thể tư duy. Ngược lại, không có tư duy thì sẽ không có ngôn ngữ, vì khi đó các đơn vị ngôn ngữ chỉ còn là những âm thanh trống rỗng, vô nghĩa. Cũng như LX.Vưgotxki đã nói “ Từ mà không có nghĩa thì không phải là từ mà chỉ là âm thanh trống rỗng”. Vì thế ngôn ngữ và tư duy như hai mặt của tờ giấy, không thể tách mặt này ra khỏi mặt kia.
Ngôn ngữ phát triển làm cho tư duy phát triển. Ngược lại, tư duy phát triển càng đẩy nhanh sự phát triển của ngôn ngữ. Tư duy của con người chủ yếu được tiến hành dưới hình thức ngôn ngữ. Ngôn ngữ là hình thức tồn tại, là phương tiện vật chất để thệ hiện tư duy.
Ngôn ngữ và tư duy thống nhất nhưng không đồng nhất. Ngôn ngữ là phương tiện biểu đạt, còn tư duy là cái được biểu đạt. Bên cạnh những đặc điểm mà ngôn ngữ nào cũng có, mỗi ngôn ngữ đều mang cho mình một đặc trưng riêng không lặp lại ở những ngôn ngữ khác. Trong khi đó tư duy, về cơ bản là mang tính nhân loại, nghĩa là không có sự khác biệt giữa tư duy của dân tộc này với tư duy của dân tộc khác.
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển vốn từ của trẻ a, Yếu tố sinh lý Nhược điểm về vận động: Khả năng phân tiết, cấu tạo, cũng như khả năng phối hợp vận động của cơ quan phát âm chưa tốt, vì vậy trẻ không thể phát âm đúng ngay tất cả các âm thanh ngôn ngữ. Ngoài ra còn có nhược điểm về tri giác: Do tri giác chưa tinh tế, khả năng chú ý còn yếu nên trẻ chưa phân biệt được sự khác biệt tinh tế trong cách phát âm. Trẻ chưa chú ý đồng đều đến các thành phần trong âm tiết, cách sử dụng các từ trong câu. Các âm 18 tiết gần giống nhau, các âm đệm được đọc lướt, các từ không được nhấn mạnh thường không được trẻ chú ý.
Khả năng ghi nhớ của trẻ còn hạn chế, trẻ không nhớ hết các âm đã tiếp thu, trật tự các từ trong câu, vì thế có hiện tượng trẻ bỏ bớt từ, bớt âm khi nói, hay trật tự từ trong câu không chính xác. Tư duy của trẻ cũng vậy, cũng còn khá hạn chế, kinh nghiệm sống và kinh nghiệm dùng từ của trẻ chưa được luyện tập nhiều, vì vậy có hiện tượng trẻ dùng từ sai dẫn đến việc trẻ nói câu sai. b, Yếu tố bệnh lý Cơ quan phát âm hay não của trẻ khiếm khuyết về mặt giải phẫu cũng làm cho ngôn ngữ của trẻ phát triển không bình thường, phát âm bị biến dạng. Ví dụ trẻ bị sứt môi, hở hàm ếch, câm, điếc, lưỡi ngắn hay quá dày…Ngoài ra, nếu trẻ mắc bệnh về tai, mũi, họng, đường hô hấp…cũng gây ảnh hưởng tới sự phát triển ngôn ngữ, đến âm điệu và sắc thái giọng trẻ.
Đặc biệt, những trẻ bị tổn thương nặng nề về tâm lý cũng có thế dẫn đến những khiếm khuyết về ngôn ngữ. Ví dụ có trẻ phải chứng kiến cảnh bạo lực, quá sợ hãi có thể bị câm, mặc dù trước đó trẻ đã biết nói. Ngoài những nguyên nhân trên, chúng ta còn thấy ở trẻ nhỏ còn mắc một bệnh lý rất đặc trưng đó là nói lắp. Điều này thường xảy ra khi trẻ suy nghĩ nhanh hơn nói hoặc trẻ sợ rằng người khác sẽ ngắt lời chúng.
Hầu hết trẻ em lớn lên sẽ khỏi nói lắp, nhưng với một số trẻ thì nói lắp lại trở thành tật của trẻ. c, Yếu tố giáo dục Một yếu tố cũng khá quan trọng và có quyền quyết định đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ, đó là môi trường ngôn ngữ - môi trường giáo dục. Trẻ mắc lỗi ngôn ngữ khi nói là do chịu ảnh hưởng của môi trường ngôn ngữ không tốt xung quanh trẻ. Cần phải để trẻ tránh tiếp xúc với những hình thái 19 ngôn ngữ không chính xác, không đẹp.
Một nguyên nhân nữa là trẻ phải sống trong môi trường giao tiếp nghèo nàn, ít có cơ hội tiếp xúc và nói chuyện với người khác, hoặc trẻ sống trong môi trường quá ầm ĩ, ảnh hưởng đến sự nhảy cảm của tai nghe, làm trẻ nghe kém, dẫn đến nói không chính xác. Đặc điểm phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi a, Về đặc điểm phát âm Khả năng phát âm của trẻ tỉ lệ thuận theo lứa tuổi, trẻ càng lớn phát âm càng chính xác và rõ ràng hơn. Tuy nhiên, trẻ ở đầu độ tuổi từ 3 – 4 tuổi có cách phát âm chưa thực sự ổn định, ta vẫn có thể bắt gặp những hiện tượng nói lắp, nói ngọng, thay thế những âm khó bằng những âm dễ như: rùa – đùa, khuyếch khoác – khếch khác… và giọng của trẻ còn kéo dài, chưa gọn. Những khi bước sang cuối độ tuổi, trẻ phát âm có nhiều tiến bộ và phát âm đúng hầu hết các hình thức âm thanh của ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ và phát âm đúng cả sáu thanh điệu.
b, Về đặc điểm vốn từ Vốn từ của trẻ tăng nhanh theo lứa tuổi, trẻ 4 tuổi có thể sử dụng 1200 từ. Vốn từ của trẻ không chỉ tăng nhanh về số lượng mà cả về chất lượng. Trẻ đã hiểu ý nghĩa của nhiều từ loại khác nhau, không chỉ hiểu những từ có tính cụ thế như: chó, mèo,gà…mà trẻ còn hiểu cả những từ có tính khái quát, trừu tượng như: gia súc, gia cầm, hiền, dữ…Tuy nhiên vốn từ của trẻ 3 – 4 tuổi vẫn là danh từ và động từ chiếm ưu thế, còn tính từ và các loại từ khác còn ít sử dụng. Bên cạnh đó trẻ ở lứa tuổi này còn biết sử dụng các từ mang tính biểu cảm có hình ảnh, màu sắc, âm thanh.
Với số lượng và chất lượng vốn từ của trẻ tăng nhanh như vậy, ta có thể thấy rằng môi trường sống, môi trường ngôn ngữ xung quanh trẻ rất phong phú và đa dạng. Trình độ văn hóa, nghề nghiệp, sự hướng dẫn chỉ bảo trực tiếp của người lớn sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển vốn từ của trẻ. 20 c, Về đặc điểm ngữ pháp Trẻ ở độ tuổi từ 3 – 4 tuổi đã có thể sử dụng câu có đầy đủ thành phần và cấu trúc ngữ pháp. Câu nói của trẻ trở nên rõ ràng và có sự liên kết chặt chẽ giữa các từ trong câu hơn.
Trẻ 3 tuổi nói câu ghép chưa nhiều, khoảng 10% trong tổng số câu nói, trong đó trẻ thường hay sử dụng câu ghép đẳng lập với các quan hệ từ đẳng lập như: và, hay,còn…Trẻ ở lứa tuổi này còn sử dụng được các loại câu tường thuật, câu nghi vấn và câu cầu khiến. Còn ở những loại câu khác ít khi xuất hiện hoặc không bao giờ xuất hiện ở trẻ. Tuy nhiên, trẻ 3 – 4 tuổi vẫn còn có những hạn chế trong việc sắp xếp lời nói, diễn đạt đôi khi còn dài dòng và lủng củng, nhất là trong quá trình tự nói. Phát triển vốn từ cho trẻ 3 – 4 tuổi a, Từ Cho đến nay đã có khoảng 300 định nghĩa về Từ.
Các nhà khoa học đứng trên những phương diện nghiên cứu khác nhau đã đưa ra những quan điểm xem xét từ trên phương diện ngữ pháp học ( phối hợp mặt ngữ âm và mặt ngữ nghĩa) được chấp nhận hơn cả. Dưới góc độ ngôn ngữ học, các ngôn ngữ đã định nghĩa về Từ Tiếng Việt như sau.: - Từ là đơn vị nhỏ nhất. là một âm hay một tổ hợp âm có nghĩa của một ngôn ngữ, có khả năng hoạt động độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu. - Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, bao gồm hình thức âm thanh ổn định và hoàn chỉnh về ý nghĩa.
Hai phần này liên quan mật thiết và hỗ trợ cho nhau để biểu hiện ý nghĩa của con người. Từ không chỉ biểu thị các sự vật hiện tượng đơn lẻ mà biểu thị một nhóm sự vật hiện tượng tập hợp lại theo một dấu hiệu nhất định, do đó từ có tính chất khái quát cao. 21 - Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp – từ vựng học Tiếng Việt, Hà Nội 1985: Từ vựng Tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất, có ý nghĩa dùng để tạo câu nói, nó có hình thức của một âm tiết, một “chữ” viết “rời”. Qua các định nghĩa trên cho thấy, dù chưa có sự thống nhất nhưng đã có quan điểm chung về Từ Tiếng Việt ở chỗ: Từ là đơn vị nhỏ nhất có ý nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo nên câu.
b, Vốn từ Vốn từ của một ngôn ngữ là “ tổng số và hệ thống toàn bộ từ và cụm từ cố định của ngôn ngữ đó”.