Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số vấn đề chung của biện pháp tu từ 1. Khái niệm biện pháp tu từ Hiện nay, có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau về vấn đề khái niệm biện pháp tu từ, có thể kể các tác giả tiêu biểu sau: Theo Đinh Trọng Lạc: “Biện pháp tu từ là cách phối hợp sử dụng các đơn vị lời nói trong giới hạn của một đơn vị thuộc bậc cao hơn” (Đinh Trọng Lạc, 300 bài tập phong cách học Tiếng Việt, NXB Giáo dục, 1995, tr.5) Phan Phƣơng Dung quan niệm: “Biện pháp tu từ là cách phối hợp sử dụng trong lời nói các phương tiện ngôn ngữ, không kể là có màu sắc tu từ hay không trong một ngữ cảnh rộng để tạo ra hiệu quả tu từ” (Phan Phƣơng Dung, Tiếng Việt, NXB Đại học Sƣ phạm, 2007, tr. Tuy nhiên, chúng tôi chọn định nghĩa của Đinh Trọng Lạc để làm căn cứ, cơ sở lý luận để nghiên cứu đề tài:“Biện pháp tu từ là cách phối hợp sử dụng một cách khéo léo trong hoạt động lời nói các phương tiện ngôn ngữ không kể là trung hòa hay tu từ trong một ngữ cảnh rộng để tạo ra hiệu quả tu từ” (Đinh Trọng Lạc (1999), Phong cách học Tiếng Việt, NXB GD Hà Nội.
Các biện pháp tu từ đặc trưng được sử dụng trong chương trình Tiểu học. So sánh Theo tác giả Đinh Trọng Lạc: “So sánh (còn gọi là so sánh hình ảnh, so sánh tu từ) là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đối chiếu hai đối tượng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tượng.” Mô hình cấu tạo so sánh hoàn chỉnh gồm 4 yếu tố: Yếu tố 1: Yếu tố đƣợc hoặc bị so sánh. 12 Luan van Yếu tố 2: Yếu tố chỉ tính chất của sự vật hay trạng thái của hành động. Yếu tố 3: Yếu tố thể hiện quan hệ so sánh.
Yếu tố 4: Yếu tố đƣợc đƣa ra làm chuẩn để so sánh. Ví dụ: - Biện pháp tu từ so sánh xuất hiện trong phân môn Luyện từ và câu, Tiếng Việt 3, tập 1, Tr.8: Ơ, cái dấu hỏi Trông ngộ ngộ ghê, Như vành tai nhỏ Hỏi rồi lắng nghe.” (Phạm Nhƣ Hà) - Trong phân môn Chính tả, Tiếng Việt 4, tập 1, Tr.105: Trái nhót như ngọn đèn tín hiệu Trỏ lối sang mùa hè. Quả cà chua như cái đèn lồng nhỏ xíu Thắp mùa đông ấm những đêm thâu.” (Phạm Tiến Duật) - Trong phân môn Tập đọc, Tiếng Việt 5, tập 1, Tr.19: Em yêu màu đỏ: Như máu trong tim, Lá cờ Tổ quốc, Khăn quàng đội viên. Nhân hóa Trong cuốn 99 biện pháp tu từ tiếng Việt (Nxb Giáo dục, 1996), Đinh Trọng Lạc định nghĩa nhƣ sau: “Nhân hóa (nhân cách hóa) là một biến thể của ẩn dụ, lấy 13 Luan van từ ngữ biểu đạt thuộc tính, dấu hiệu của con người, làm cho đối tượng được miêu tả trở nên gần gũi, dễ hiểu hơn, đồng thời làm cho người nói có khả năng bày tỏ kín đáo tâm tư, thái độ của mình”.
Nhân hóa là gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật,…bằng những từ ngữ vốn đƣợc dùng để gọi hoặc tả con ngƣời; làm cho thế giới loài vật, cây cối, đồ vật trở nên gần gũi với con ngƣời, biểu thị đƣợc những suy nghĩ, tình cảm của con ngƣời. Nhân hóa có tác dụng làm cho các sự vật trở nên sống động gần gũi với con ngƣời. Nhân hóa hay nhân cách hóa là một biến thể của ẩn dụ, ở đó ngƣời ta chuyển đổi ý nghĩa của các từ ngữ chỉ thuộc tính của con ngƣời sang đối tƣợng không phải con ngƣời. Có ngƣời cho nhân hóa thực ra là nhân vật hóa, tức là cách biến mọi vật thành nhân vật đối thoại hay nhƣ là một nhân vật của mình.
Nhân hóa là gọi hoặc tả về tính nết hoạt động con vật cây cối, đồ vật,…bằng những từ ngữ vốn dùng để gọi và tả ngƣời. Ngoài ra, còn có cách nhân hóa: trò chuyện, xƣng hô với sự vật nhƣ đối với ngƣời; các nhân vật sự vật tự xƣng. Ví dụ: -Trong phân môn Tập đọc, Tiếng Việt 3, tập 1, Tr.116: “Nhớ khi giặc đến giặc lùng Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây. Núi giăng thành lũy sắt dày Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” (Tố Hữu) -Trong phân môn Luyện từ và câu, Tiếng Việt 5, tập 1, Tr.109: “Tiếng hót dìu dặt của Họa Mi giục các loài chim dạo lên những khúc nhạc tưng bừng, ca ngợi núi sông đang đổi mới.
Vị trí và nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu. Vị trí Phân môn Luyện từ và câu là một phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng ở trƣờng tiểu học. Các kiến thức và kỹ năng về sử dụng từ và câu còn đƣợc tích hợp trong các phân môn còn lại của môn Tiếng Việt và cả trong các môn học khác ở trƣờng tiểu học. Vị trí quan trọng của phân môn này đƣợc qui định bởi tầm quan 14 Luan van trọng của từ và câu trong hệ thống ngôn ngữ.
Từ là một đơn vị cơ bản của hệ thống ngôn ngữ. Muốn nắm đƣợc một ngôn ngữ nào đó đầu tiên là phải nắm đƣợc vốn từ. Nếu nhƣ không làm chủ đƣợc vốn từ của một ngôn ngữ thì không thể sử dụng đƣợc ngôn ngữ đó nhƣ một công cụ để học tập và giao tiếp. Ngoài ra, vốn từ ngữ của một con ngƣời càng giàu bao nhiêu thì khả năng lựa chọn từ ngữ của ngƣời đó càng lớn, khả năng diễn đạt của ngƣời đó càng chính xác, tinh tế bấy nhiêu.
Vì vậy, dạy luyện từ cho HS tiểu học là phải làm giàu vốn từ ngữ cho HS, phải chú trọng "số lƣợng từ, tính đa dạng và tính năng động của từ". Tuy nhiên, từ không phải là đơn vị trực tiếp sử dụng trong giao tiếp. Muốn giao tiếp, trao đổi thông tin, tƣ tƣởng, tình cảm với nhau con ngƣời phải sử dụng một đơn vị ngôn ngữ tối thiểu và cơ bản là câu. Nếu không nắm đƣợc các qui tắc ngữ pháp của một ngôn ngữ thì con ngƣời cũng không thể sử dụng đƣợc ngôn ngữ đó làm công cụ để giao tiếp.
Vì vậy, dạy từ ngữ cho HS phải gắn liền với dạy câu, dạy các qui tắc kết hợp từ thành câu, qui tắc sử dụng câu nhằm đạt hiệu quả giao tiếp cao…Những điều phân tích trên đã cho ta thấy ý nghĩa quan trọng của phân môn Luyện từ và câu ở tiểu học. Phân môn Luyện từ và câu có nhiệm vụ tổ chức cho HS thực hành làm giàu vốn từ, cụ thể là: - Chính xác hoá vốn từ (dạy nghĩa từ): là giúp HS có thêm những từ mới, những nghĩa mới của từ đã học, thấy đƣợc tính nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ. - Hệ thống hoá vốn từ (trật tự hoá vốn từ): là giúp HS sắp xếp các từ thành một trật tự nhất định trong trí nhớ của mình để có thể ghi nhớ từ nhanh, nhiều và tạo ra đƣợc tính thƣờng trực của từ. -Tích cực hoá vốn từ (luyện tập sử dụng từ): là giúp HS biến những từ ngữ tiêu cực (những từ ngữ hiểu nghĩa nhƣng không sử dụng trong khi nói, viết) thành những từ ngữ tích cực, đƣợc sử dụng thƣờng xuyên trong giao tiếp hàng ngày.
-Văn hoá hoá vốn từ: là giúp HS loại bỏ khỏi vốn từ những từ ngữ không văn hoá, tức là những từ ngữ thông tục hoặc sử dụng sai phong cách. Mặt khác, còn phải cung cấp cho HS một số khái niệm lý thuyết cơ bản và sơ giản về từ vựng học nhƣ về cấu tạo từ, các lớp từ có quan hệ về nghĩa. để HS có cơ sở nắm nghĩa từ một cách chắc chắn và biết hệ thống hoá vốn từ một cách có ý thức. 15 Luan van Phân môn này phải tổ chức cho HS thực hành để rèn luyện các kỹ năng cơ bản về ngữ pháp nhƣ kỹ năng đặt câu đúng ngữ pháp, kỹ năng sử dụng các dấu câu, kỹ năng sử dụng các kiểu câu phù hợp mục đích nói, tình huống lời nói để đạt hiệu quả giao tiếp cao, kỹ năng liên kết các câu để tạo thành đoạn văn, văn bản.
Để thực hiện tốt các nhiệm vụ thực hành, phân môn Luyện từ và câu phải cung cấp cho HS một số khái niệm, một số qui tắc ngữ pháp cơ bản, sơ giản và tối cần thiết: bản chất của từ loại, thành phần câu, dấu câu, các kiểu câu, qui tắc sử dụng câu trong giao tiếp và các phép liên kết câu. Bên cạnh đó, qua phân môn này còn giúp HS tiếp thu một số qui tắc chính tả nhƣ qui tắc viết hoa, qui tắc sử dụng dấu câu. Ngoài các nhiệm vụ kể trên, phân môn Luyện từ và câu phải chú trọng việc rèn luyện tƣ duy, giáo dục thẩm mỹ cho HS. Phương pháp dạy Luyện từ và câu.
- Phương pháp thảo luận nhóm Thảo luận nhóm là một cách học tạo điều kiện cho HS luyện tập khả năng mạnh dạn đƣa ra các cách làm bài; giúp học sinh rèn kĩ năng phân tích bài tập và tìm câu trả lời đúng; thay đổi vị thế của HS trong lớp từ vị thế thụ động, tiếp thu thông tin một chiều trở thành vị thế chủ động tiếp thu thông tin đa chiều. Qua thảo luận, ngôn ngữ và năng lực tƣ duy của HS trở nên linh hoạt. Phƣơng pháp thảo luận nhóm rất phù hợp với các bài dạy thuộc kiểu câu Ai làm gì?. Phƣơng pháp này tạo không khí học tập sôi nổi, tạo môi trƣờng thuận lợi cho việc vận dụng kĩ năng sử sự ghi nhớ thông tin mà giáo viên đã truyền đạt của HS.
Mỗi một bài tập yêu cầu khác nhau và sự biến đổi công thức đòi hỏi phải có sự hiểu biết kiến thức. Chính vì vậy, cần sự vận dụng một cách khéo léo và linh hoạt. Phƣơng pháp thảo luận nhóm sẽ giúp học sinh tìm ra đƣợc câu trả lời tốt nhất, sinh động nhất thông qua trí tuệ tập thể. Học sinh bên cạnh đƣợc củng cố đƣợc kiến thức, hứng thú học tập cũng đƣợc tăng cƣờng.
- Phương pháp trò chơi học tập Là phƣơng pháp trò chơi sƣ phạm trong dạy học môn Tiếng Việt, đƣợc hiểu là hình thức học tập môn Tiếng Việt theo hứng thú vui chơi, dựa trên những bài tập trắc nghiệm. 16 Luan van Việc giải quyết vấn đề bài tập đặt ra nhằm để HS lĩnh hội, củng cố, vận dụng kiến thức, kĩ năng sử dụng các cách làm bài hay đã đƣợc học, những kinh nghiệm sống đã đƣợc tích lũy vào các bài tập một cách tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo.