CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Một số vấn đề lí thuyết về từ tiếng Việt 1. Khái niệm từ tiếng Việt Xét về mặt cấp độ, từ là đơn vị được cấu tạo trực tiếp từ các hình vị và là đơn vị trực tiếp cấu tạo nên câu. Từ là đơn vị có sẵn, hiển nhiên, cố định, bắt buộc, có đặc điểm về hình thức và nội dung.
Trong các ngôn ngữ khác nhau, các đặc điểm về hình thức và nội dung của từ cũng khác nhau. Vì vậy, việc đưa ra một định nghĩa cụ thể về từ áp dụng cho tất cả các ngôn ngữ (kể cả tiếng Việt) là điều không thể, ngay cả các định nghĩa về từ tiếng Việt trong các nhà Việt ngữ học cũng không hoàn toàn giống nhau. Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về từ và từ tiếng Việt với khoảng trên 300 định nghĩa khác nhau. Với mỗi mục đích nghiên cứu, người nghiên cứu nhấn mạnh tới một phương diện nào đó của từ, có thể điểm qua một số quan niệm sau: Trong cuốn Từ điển tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê đã định nghĩa về từ như sau: “Từ là đơn vị ngôn ngữ mà bắt đầu từ nó ngôn ngữ mới thực hiện chức năng giao tiếp và chức năng tư duy…Từ là một đơn vị hai mặt: mặt hình thức và mặt ý nghĩa”.
Tác giả Nguyễn Như Ý, trong cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, đã khái quát về từ như sau: “Từ là đơn vị cấu trúc, ngữ nghĩa cơ bản của ngôn ngữ dùng để gọi tên các sự vật và thuộc tính của chúng, các hiện tượng, các quan hệ của thực tiễn, là một tổng thể các dấu hiệu ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp đặc trưng cho từng ngôn ngữ”. Theo Nguyễn Thiện Giáp: “Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo câu nói; nó có hình thức của một âm tiết, một “chữ” viết “lời” nói”. Cho tới nay, nhiều công trình nghiên cứu đều thống nhất với định nghĩa của nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững hoàn chỉnh, có 11 chức năng gọi tên; được vận dụng độc lập hay tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu. Từ có thể có một âm tiết hoặc hai, ba âm tiết trở lên”.
Với mục đích nghiên cứu về đặc điểm vốn từ của trẻ em lứa tuổi mẫu giáo, trong đề tài này chúng tôi sử dụng định nghĩa về từ của tác giả Đỗ Hữu Châu: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định bất biến mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu”. Một số đặc điểm ngữ pháp của từ tiếng Việt 1. Đặc điểm cấu tạo của từ tiếng Việt Mỗi kiểu loại từ có kiểu cấu tạo riêng giúp xác định ngữ nghĩa, ngữ pháp có nghĩa là từ đơn khác với từ láy, từ ghép về kiểu cấu tạo cho nên các kiểu loại từ này cũng khác nhau cả về ngữ nghĩa và ngữ pháp. Trong tiếng Việt, hình vị, từ và cụm từ, câu.về mặt ngữ âm đều là những âm tiết hoặc những tổ hợp âm tiết, cho nên việc nhận thức một âm tiết hoặc một tổ hợp âm tiết nào đó có phải là từ hay không có ý nghĩa cực kì quan trọng đối với việc sử dụng từ và lĩnh hội ý nghĩa của câu nói.
Về nguyên tắc, cấu tạo từ là những vận động trong lòng một ngôn ngữ để sản sinh ra các từ cho ngôn ngữ, phục vụ những nhu cầu mới về mặt diễn đạt mà xã hội đặt ra, việc sản sinh ra từ cũng trước hết là sản sinh ra các nghĩa mới. Trong tiếng Việt, các yếu tố cấu tạo từ là những hình thức ngữ âm có nghĩa nhỏ nhất, tức là những yếu tố không thể phân chia thành những yếu tố nhỏ hơn nữa mà cũng có nghĩa được dùng để cấu tạo ra các từ theo phương thức cấu tạo từ tiếng Việt. Theo đó, về mặt cấu tạo, từ tiếng Việt được chia thành: Từ đơn là từ được cấu tạo bởi chỉ một tiếng. Từ đơn là do một từ tố tạo thành và có cấu tạo từ đơn (đơn tiết) hoặc từ đơn (đa âm tiết).
Tuy có số lượng ít nhưng rất quan trọng vì chúng là cơ sở cấu tạo ra những từ phức hiện đang có xu hướng phát triển rất mạnh, đa số các từ đơn là từ nhiều nghĩa. Từ ghép là những từ có cấu tạo từ hai tiếng trở lên, giữa các tiếng có 12 quan hệ với nhau về mặt nghĩa. Căn cứ vào quan hệ mặt nghĩa giữa các tiếng trong từ ghép, người ta chia làm hai loại: từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ. Cụ thể: Từ ghép chính phụ: Là những từ ghép giữa hai từ tố có quan hệ chính phụ.
Nếu kí hiệu từ tố chính là X từ tố phụ là Y thì từ tố phụ là Y có tác dụng phân hóa nghĩa của từ tố chính X. Đây là kiểu từ ghép có quan hệ bất bình đẳng với nhau; một từ tố có vai trò chính và một đóng vai trò từ tố phụ; thành tố chính giữ vai trò trung tâm biểu đạt ý nghĩa.thành tố phụ biểu thị ý nghĩa hạn định khu biệt sự vật hoạt động trạng thái quá trình được thể hiện ở thành tố chính. Từ ghép đẳng lập: Là những từ ghép trong đó các từ tố được ghép bình đẳng với nhau, không từ tố nào chính, không từ tố nào phụ. Cả hai từ tố ghép lại với nhau để cho nghĩa mới của toàn bộ từ ghép.
Từ láy là những từ được cấu tạo bởi hai tiếng trở lên, giữa các tiếng có quan hệ với nhau về mặt âm. Trong từ láy chỉ có một tiếng gốc có nghĩa, các tiếng khác láy lại tiếng gốc. Từ láy có đặc điểm: Có hình thức là một âm tiết giống toàn bộ hay giống một phần hình thức ngữ âm của từ tố cơ sở. Âm tiết có nghĩa giống toàn bộ hay bộ phận nghĩa của từ tố cơ sở.
Về thanh điệu, nếu từ láy đôi thì có 2 âm tiết có thanh điệu đi với nhau như nhóm thanh cao và nhóm thanh thấp. Cả từ tố cơ sở và từ tố láy hợp lại thành từ láy. Đặc điểm về từ loại Từ loại là những lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp, được chia theo ý nghĩa, theo khả năng kết hợp với các từ ngữ khác trong ngữ lưu và thể hiện những chức năng ngữ pháp nhất định ở trong câu. Hệ thống từ loại có tính chất là cơ sở của cơ cấu ngữ pháp một ngôn ngữ nhất định.
Bất kì một ngôn ngữ nào có từ thì ngôn ngữ ấy nhất định sẽ có từ loại. Theo Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thung, hệ thống từ loại tiếng Việt có thể sắp xếp thành hai nhóm, bao gồm những từ loại sau đây: Nhóm 1: danh từ, động từ, tính từ; số từ; đại từ. Nhóm 2: phụ từ (định từ, phó từ); kết từ; tiểu từ (trợ từ và tình thái từ). 13 Danh từ : là những từ mang ý nghĩa chỉ thực thể.
Danh từ có khả năng làm thành tố chính trong cụm danh từ; có khả năng kết hợp với các đại từ chỉ định: này, kia, ấy, nọ,.; có khả năng kết hợp trực tiếp hay gián tiếp với số từ. Chức năng cú pháp chính của nó là làm chủ ngữ trong câu. Trong đó có: danh từ riêng (danh từ riêng là tên riêng của từng người, từng sự vật cụ thể và danh từ chung là từ chỉ tên chung của một chủng loại sự vật, có tính khái quát, trừu tượng, không có mối liên hệ đơn nhất giữa tên gọi và vật cụ thể được gọi tên). Động từ: biểu thị ý nghĩa hoạt động, quá trình, trạng thái của đối tượng.
Động từ làm trung tâm trong cụm động từ. Các từ chứng tiêu biểu của động từ là: hãy, đừng, chớ, đã, đang, sẽ, đều, vẫn, cũng, xong, rồi, nữa,. Chức năng cú pháp chính là làm vị ngữ trong câu. Dựa vào bản chất nghĩa - ngữ pháp của động từ, ta có thể chia động từ thành hai loại lớn: những động từ độc lập và những động từ không độc lập.
Động từ độc lập là những động từ tự thân có nghĩa, chúng có thể dùng độc lập, không cần một động từ khác đi kèm. Nhóm động từ không độc lập là những động từ biểu thị tình thái vận động, quá trình nhưng tự thân chưa mang nghĩa trọn vẹn. Tính từ: là lớp từ chỉ ý nghĩa đặc trưng (đặc trưng của thực thể hay đặc trưng của quá trình). Tính từ thường làm thành tố trung tâm trong cụm tính từ.
Từ chứng cho tính từ là các phó từ như: rất, hơi, quá, lắm,. Tính từ thường làm vị ngữ trong câu. Dựa vào nghĩa và khả năng kết hợp của tính từ (về ngữ pháp) có thể chia tính từ thành các tiểu loại: những tính từ chỉ đặc trưng, tính chất tuyệt đối (không được đánh giá theo thang độ): Ví dụ: riêng, chung, công, tư, chính, phụ, công cộng, đỏ lòm, trắng phau, đen sì, xanh mượt,.; những tính từ chủ đặc trưng thuộc về phẩm chất (được đánh giá theo thang độ). Tính từ chỉ đặc trưng về màu sắc, mùi vị.
Ví dụ: xanh, đỏ, vàng, đậm, nhạt, thơm, thối, cay, ngọt, nhạt,. Tính từ chỉ tính chất phẩm chất. Ví dụ: tốt, đẹp, xấu, khéo, vụng, tầm thường, quan trọng, phải, trái, hèn, mạnh, dũng cảm,. Tính từ chỉ đặc trưng về kích thước, số lượng.
Ví dụ: to, nhỏ, nặng, nhẹ, nhiều, ít, rậm, thưa, ngắn, dài, cao, thấp,. Tính từ chỉ đặc trưng về cường độ. Ví dụ: mạnh, yếu, nóng, lạnh. Tính từ chỉ đặc trưng về hình thể.
Ví dụ: vuông, tròn, thẳng, gãy, cong, méo, gầy, béo,. Tính từ chỉ đặc trưng 14 về âm thanh. Ví dụ: ồn, im, ồn ào, im lìm,. Tính từ chỉ đặc trưng mô phỏng (thường là từ láy).
Ví dụ: ào ào, đùng đùng, chênh vênh, gập ghềnh,… Số từ: so với đại từ, số từ gần với thực từ hơn vì nó còn có những nét nghĩa chân thực. Số từ gồm những từ biểu thị ý nghĩa số. Ý nghĩa số vừa có tính chất thực, vừa có tính chất hư. Số từ phổ biến là được dùng kèm với danh từ để biểu thị số lượng sự vật nêu ở danh từ.
Số từ có thể có từ kèm bổ nghĩa cho nó (nhưng hạn chế) như: độ, chừng, khoảng, hơn, ngót,. Có thể đảm nhiệm một số chức năng cú pháp như chủ ngữ, vị ngữ nhưng không nhiều.