phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần Nội dung chính của luận án gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Trong chƣơng này, chúng tôi trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở VN về các vấn đề: Thứ nhất, lịch sử nghiên cứu về việc ứng dụng NNHTN vào giảng dạy ngôn ngữ nói chung, dạy học TV cho ngƣời nƣớc ngoài nói riêng. Thứ hai, lịch sử nghiên cứu về về NL từ ngữ và phát triển NL từ ngữ cho ngƣời học. Chƣơng 2: Cơ sở khoa học của việc phát triển năng lực từ ngữ tiếng Việt cho học viên Hàn Quốc theo hƣớng vận dụng NNHTN Luận án nghiên cứu một số vấn đề lí luận nhƣ: vấn đề từ ngữ và phát triển NL từ ngữ dƣới góc nhìn NNHTN; đặc trƣng ngôn ngữ và văn hoá HQ và khả năng vận dụng NNHTN vào việc dạy TV cho HV HQ. Đồng thời, luận án cũng nghiên cứu thực trạng việc cung cấp vốn từ và rèn luyện kĩ năng sử dụng từ ngữ trong các sách giáo trình dạy TV cho ngƣời nƣớc ngoài hiện nay; thực trạng việc sử dụng các phƣơng pháp dạy học từ ngữ TV cho ngƣời nƣớc ngoài của GV và thực tiễn NL từ ngữ TV của HV HQ tại một số cơ sở đào tạo TV ở VN hiện nay.
Chƣơng 3: Tổ chức phát triển năng lực từ ngữ tiếng Việt cho học viên Hàn Quốc theo hƣớng vận dụng NNHTN Ở chƣơng này, chúng tôi xuất phát từ một số nguyên tắc vận dụng NNHTN vào phát triển NL từ ngữ TV cho HV HQ để đƣa ra một số biện pháp dạy học và hệ thống BT nhằm phát triển NL từ ngữ TV cho họ theo hƣớng ứng dụng NNHTN. Các biện pháp dạy học bao gồm 3 BP chính: BP sử dụng bản đồ tƣ duy, BP sử dụng mô hình tri nhận, BP sử dụng ngữ cảnh tình huống và khung tri thức nền của ngƣời học. Hệ thống BT bao gồm 3 nhóm lớn: BT phát triển NL nhận biết và hiểu nghĩa của từ ngữ; BT phát triển NL mở rộng và hệ thống hoá vốn từ; BT phát triển NL tích cực hoá vốn từ trong giao tiếp. Chƣơng 4: Thực nghiệm sƣ phạm Chƣơng 4 của luận án đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các BP dạy học và hệ thống BT đƣợc đề xuất ở Chƣơng 3 bằng TN sƣ phạm trong thực tiễn dạy học một số nhóm từ ngữ TV ở hai trình độ cơ bản và nâng cao.
5 luan an CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Đề tài của chúng tôi quan tâm đến đối tƣợng nghiên cứu là các giải pháp nhằm phát triển NL từ ngữ TV cho HV HQ theo hƣớng vận dụng NNHTN. Với đối tƣợng nghiên cứu nhƣ trên, chúng tôi sẽ trình bày dƣới đây những vấn đề có liên quan mật thiết đến đề tài đã đƣợc thực hiện nghiên cứu trong và ngoài nƣớc, đồng thời đánh giá tổng quát sơ bộ về hƣớng nghiên cứu của đề tài. Những nghiên cứu về việc ứng dụng Ngôn ngữ học tri nhận vào dạy học ngôn ngữ nói chung, dạy học tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài nói riêng 1. Trên thế giới a.
Những nghiên cứu về Ngôn ngữ học tri nhận NNHTN đƣợc nhen nhóm hình thành vào cuối những năm 1950 của thế kỉ XX và chính thức ra đời vào năm 1989 với sự kiện Hiệp hội Ngôn ngữ học tri nhận Quốc tế đƣợc thành lập tại Hội nghị Duisburgn (Đức) và đến năm 1990, Tạp chí Ngôn ngữ học tri nhận phát hành số đầu tiên. Trên thế giới, những tác phẩm đã đặt nền tảng vững chắc cho NNHTN phải kể đến là: Metaphor: we live by của G. Johnson (1980); The Body in the Mind: The Bodily Basis of Meaning, Imagination and Reason của M. Johnson (1987); Women, fire, and dangerous things của G.
Lakoff, Chicago-London (1987); Foundation of Cognitive Grammar của R. Langacker (1987)… Hiện nay, NNHTN thế giới phát triển theo hai hƣớng nghiên cứu chính: Hƣớng đi thứ nhất là: Ngữ nghĩa học tri nhận, với các tác giả tiêu biểu: Lakoff, Johnson, Rosch, Fillmore, Fauconnier, Turner… nghiên cứu về một số nội dung chính nhƣ: cấu trúc nghĩa và cấu trúc ý niệm; ý niệm hoá, ẩn dụ và hoán dụ ý niệm; phạm trù và phạm trù hoá, lí thuyết điển mẫu và cấp bậc cơ sở; ý nghĩa của từ và sự đa nghĩa… Hƣớng đi thứ hai là: Ngữ pháp học tri nhận, với các tên tuổi: Talmy, Langacker, Goldberg… nghiên cứu các hiện tƣợng chính nhƣ: sự phân chia từ loại, các kết cấu ngữ pháp (từ, ngữ, cú, câu), các phạm trù ngữ pháp (thời, thể, thức, dạng), các biểu thức thành ngữ… Trong hai hƣớng nghiên cứu này, chúng tôi tập trung tìm hiểu hƣớng thứ nhất: Ngữ nghĩa học tri nhận, bởi vì “sự nghiên cứu ngữ nghĩa học vẫn phong phú và đa dạng hơn” [76, 171], đồng thời nó cũng phù hợp với hƣớng đi chính của luận án. Những nghiên cứu về việc ứng dụng Ngôn ngữ học tri nhận vào dạy học ngôn ngữ và ngoại ngữ Trong khoảng 30 năm kể từ khi ra đời đến nay, NNHTN đã phát triển mạnh, xác lập khuynh hƣớng nghiên cứu tƣơng đối rõ rệt, đánh dấu sự thay đổi 6 luan an cả về triết lí lẫn phƣơng pháp luận khoa học, đồng thời mở ra nhiều hƣớng ứng dụng khả thi và hiệu quả, đặc biệt là trong giảng dạy ngoại ngữ và trong nghiên cứu trí tuệ nhân tạo. NNHTN và những khả năng ứng dụng của nó đã đƣợc quan tâm rộng khắp Âu - Mĩ và lan sang châu Á, với những công trình nghiên cứu của Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc… Ở châu Âu, châu Mĩ, trong khoảng 10 năm trở lại đây, nhiều tác giả đã khẳng định mối quan hệ rõ ràng, dễ thấy của NNHTN và việc thụ đắc ngôn ngữ thứ hai, đồng thời đề xuất những cách tiếp cận theo hƣớng tri nhận đối với việc giảng dạy ngoại ngữ, tiêu biểu là các công trình nhƣ: M.
Littemore (2009) [132]; De Knop et al (2010) [112]… Nhìn lại một thập niên nghiên cứu áp dụng NNHTN vào giảng dạy ngoại ngữ nói chung trên thế giới, có thể khái quát lại một số luận điểm quan trọng về khả năng ứng dụng của NNHTN vào giảng dạy ngoại ngữ mà các tác giả trên thế giới đã đƣa ra nhƣ: NNHTN có ba quan niệm cơ bản và làm sáng rõ năm quá trình liên quan đến cơ chế đúc rút ra tri thức ngôn ngữ từ việc sử dụng ngôn ngữ. Đó là: quá trình lí giải, quá trình xác lập các phạm trù, quá trình xác định kết cấu ngôn ngữ, tƣ duy ẩn dụ và hoán dụ [61, 18]. Ngoài ra, các tác giả cũng đã thống nhất về những gợi ý của việc ứng dụng NNHTN vào giảng dạy ngoại ngữ tập trung vào hai nội dung: dạy cái gì (what to teach) và dạy như thế nào (how to teach) [112]. Ba hƣớng ứng dụng NNHTN vào giảng dạy ngoại ngữ đƣợc sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu thử nghiệm trong khoảng 10 năm gần đây theo một tổng kết của Boers (2013) là: Thứ nhất, dạy ngoại ngữ cần làm nổi bật và giúp ngƣời học ghi nhớ các cách dùng và nghĩa chuyển của các từ đa nghĩa thông qua việc xác lập các liên kết giữa các nghĩa và cách dùng cơ bản của từ.
Thứ hai, dạy các thành ngữ và các động từ nhiều chữ bằng cách chỉ ra những thành ngữ và động từ nhiều chữ này có thể cụ thể hoá những ẩn dụ ý niệm. Thứ ba, dạy ngoại ngữ thông qua việc yêu cầu ngƣời học sắp xếp các diễn đạt biểu trƣng theo các tiêu đề ẩn dụ ý niệm hoặc yêu cầu họ xác định miền nguồn của các diễn đạt biểu trƣng cụ thể. [dt 61, 20] Những gợi ý của NNHTN đối với giảng dạy ngoại ngữ đã nhanh chóng đƣợc áp dụng trong các nghiên cứu thử nghiệm trong hơn 10 năm qua. Chúng ta có thể tham khảo bảng thống kê một số công trình nghiên cứu ứng dụng NNHTN vào dạy học ngoại ngữ theo hƣớng thực nghiệm (trong Phụ lục 1).
Nhìn vào bảng ở Phụ lục 1, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy: hầu nhƣ tất cả các nghiên cứu đều áp dụng NNHTN vào dạy tiếng Anh nhƣ một ngoại ngữ, trừ nghiên cứu của Lam (2009) áp dụng phƣơng pháp tri nhận để dạy giới từ trong tiếng Tây Ban Nha; nội dung giảng dạy phần lớn rơi vào ẩn dụ, thành ngữ, cụm động từ, 7 luan an động từ khuyết thiếu, giới từ; kết quả bƣớc đầu cho thấy, so với phƣơng pháp giảng dạy truyền thống, phƣơng pháp tri nhận ngôn ngữ tỏ ra có hiệu quả hơn. Tuy nhiên, những nghiên cứu về việc áp dụng các phƣơng pháp giảng dạy ngoại ngữ theo hƣớng tri nhận của các tác giả trên thế giới đa phần “đều là những nghiên cứu thử nghiệm có số lượng khách thể nhỏ và các nội dung ngôn ngữ được dạy thử nghiệm còn ít (chủ yếu là thành ngữ, ẩn dụ và giới từ), và đa số tập trung vào tiếng Anh như một ngoại ngữ” [61, 22]. Vì thế, cần có nhiều nghiên cứu áp dụng NNHTN vào giảng dạy ngoại ngữ đối với nhiều ngôn ngữ hơn và với những nội dung ngôn ngữ phong phú hơn cho những nhóm khách thể lớn hơn để từ đó có thể đƣa ra những phƣơng pháp giảng dạy ngoại ngữ có hiệu lực hơn. Ở Trung Quốc, từ cuối thế kỉ trƣớc, nhiều nhà ngôn ngữ học đã quan tâm đến NNHTN.
Họ không chỉ dừng lại ở bình diện lí thuyết mà chú ý tới ứng dụng của NNHTN trong giảng dạy ngoại ngữ và giảng dạy tiếng Hán. NNHTN đã thúc đẩy sự ra đời của ngành Từ vựng học tri nhận tiếng Hán. Đặc biệt phải kể đến cuốn Dẫn luận ngôn ngữ học tri nhận của Triệu Diễm Phƣơng (1999). Cuốn sách không chỉ giới thiệu một cách tổng quát các thành tựu của NNHTN mà còn chỉ ra những ứng dụng của nó đối với việc nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ nói chung và tiếng Hán nói riêng dƣới góc độ tri nhận.
Tác giả đã khẳng định: “Ảnh hưởng của NNHTN đối với việc giảng dạy có thể không mang tính cách mạng, nhưng có thể khẳng định được giá trị của nó đối với việc giảng dạy ngôn ngữ, đặc biệt là giảng dạy ngoại ngữ” [67, 286]. Còn trong công trình Dẫn luận Giáo dục học Hán ngữ đối ngoại, tác giả Lƣu Huýnh (2000) có liệt kê hệ thống các phƣơng pháp giảng dạy ngôn ngữ thứ hai, trong đó có đề cập đến phương pháp tri nhận.