Tổng quan nghiên cứu

Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, khoảng 10% đến 20% thanh thiếu niên trên toàn cầu đang phải trải qua các vấn đề về sức khỏe tâm thần, chiếm tới 16% tổng gánh nặng bệnh tật và thương tật ở nhóm tuổi từ 10 đến 19. Tại Việt Nam, kết quả Tổng điều tra dân số năm 2019 ghi nhận nhóm vị thành niên chiếm 14,3% dân số cả nước, với tỷ lệ mắc các rối nhiễu tâm lý dao động từ 8% đến 29% và tỷ lệ có ý định hoặc hành vi tự tử là khoảng 2,3%.

Giai đoạn trung học phổ thông là thời kỳ then chốt với sự chuyển giao tâm sinh lý phức tạp, đồng thời các em phải chịu sức ép lớn từ kỳ thi tốt nghiệp và định hướng nghề nghiệp tương lai. Nghiên cứu này được triển khai nhằm hai mục tiêu chính: mô tả thực trạng sức khỏe tâm thần của học sinh thông qua bộ công cụ chuẩn hóa quốc tế và phân tích các yếu tố liên quan từ cấp độ cá nhân, gia đình đến môi trường học đường.

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 01/2021 đến tháng 08/2021 tại một trường trung học phổ thông công lập trọng điểm có bề dày thành tích tại thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Kết quả nghiên cứu xác định tỷ lệ học sinh có vấn đề sức khỏe tâm thần chung là 37,6%, cung cấp nguồn dữ liệu thực nghiệm quan trọng nhằm hỗ trợ nhà trường và các nhà hoạch định chính sách xây dựng giải pháp can thiệp sớm, hướng tới mục tiêu giảm thiểu từ 20% đến 30% tỷ lệ rối loạn cảm xúc và hành vi tiêu cực trong học đường.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu áp dụng thuyết phát triển sinh thái kết hợp cùng định nghĩa sức khỏe toàn diện của Tổ chức Y tế Thế giới và hệ thống phân loại bệnh tật quốc tế ICD-10 theo Quyết định số 4469/QĐ-BYT (nhóm mã F90-F98 dành cho các rối loạn hành vi và cảm xúc khởi phát ở lứa tuổi thanh thiếu niên). Giai đoạn vị thành niên được xác định trong độ tuổi từ 10 đến 18 tuổi theo Quyết định số 4128/QĐ-BYT của Bộ Y tế.

Mô hình nghiên cứu xác định biến phụ thuộc là tình trạng sức khỏe tâm thần của học sinh, được cấu trúc qua 5 phân nhóm: vấn đề cảm xúc, vấn đề hành vi ứng xử, tăng động - giảm chú ý, khó khăn trong quan hệ bạn bè và suy giảm kỹ năng tiền xã hội. Hệ thống biến độc lập gồm 3 nhóm yếu tố: đặc điểm cá nhân và thói quen sinh hoạt (thời gian dùng mạng, uống rượu bia, chơi thể thao), môi trường gia đình (tình trạng hôn nhân, mâu thuẫn, sự quan tâm của cha mẹ) và môi trường nhà trường (áp lực thi cử, bạo lực học đường, tương tác sư phạm).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế cắt ngang có phân tích với phương pháp tiếp cận định lượng. Cỡ mẫu nghiên cứu được tính toán theo công thức ước tính một tỷ lệ trong quần thể với tỷ lệ tham chiếu p = 0,27, hệ số thiết kế DE = 2 và dự phòng 5% sai số, cho ra cỡ mẫu mục tiêu 324 học sinh. Nghiên cứu đã thu thập thành công 327 phiếu khảo sát hợp lệ từ các học sinh từ khối 10 đến khối 12 sau khi loại bỏ 13 phiếu thiếu thông tin.

Quy trình chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn được tiến hành khoa học qua 3 bước: chọn chủ đích 9 lớp học (mỗi khối chọn ngẫu nhiên 3 lớp bằng hình thức bốc thăm), sau đó khảo sát toàn bộ học sinh có mặt trong các lớp được chọn. Công cụ thu thập số liệu gồm bộ câu hỏi sàng lọc SDQ-25 phiên bản tiếng Việt (điểm cắt bất thường là từ 15 đến 40 điểm) có độ tin cậy chẩn đoán đạt từ 0,70 đến 0,79 và thang đo áp lực học tập ESSA gồm 16 biến số đo lường với thang điểm từ 21 đến 80. Dữ liệu được kiểm soát chất lượng qua nhập liệu kép bằng phần mềm EpiData 3.1 nhằm loại bỏ triệt để sai số kỹ thuật, sau đó phân tích trên phần mềm SPSS phiên bản 20.0 bằng thống kê mô tả và mô hình hồi quy logistic xác định tỷ số chênh Odds Ratio (OR) với khoảng tin cậy 95% CI.

Quy trình nghiên cứu đã được phê duyệt đạo đức sinh học theo Quyết định số 021-0371DD-YTCC ngày 08/02/2021 của Hội đồng Đạo đức Trường Đại học Y tế Công cộng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát trên 327 học sinh (nữ chiếm 70,6% và nam chiếm 29,4%) ghi nhận tỷ lệ học sinh có vấn đề sức khỏe tâm thần chung là 37,6%, với điểm số trung bình tổng thể là 13,49 ± 4,72 điểm.

Về từng khía cạnh lâm sàng cụ thể:

  • Khó khăn trong quan hệ bạn bè chiếm tỷ lệ cao nhất với 36,1% (điểm trung bình 1,36 ± 0,48).
  • Suy giảm kỹ năng tiền xã hội chiếm 34,3% (điểm trung bình 6,13 ± 1,48).
  • Vấn đề bất ổn cảm xúc chiếm 33,0% (ở nữ là 35,9%, cao hơn rõ rệt so với nam là 26,0%; điểm trung bình 4,76 ± 1,87).
  • Vấn đề tăng động - giảm chú ý chiếm 21,2% (điểm trung bình 1,21 ± 0,41).
  • Rối loạn hành vi ứng xử chiếm 12,5% (điểm trung bình 2,10 ± 1,35).

Phân tích hồi quy đơn biến đã chỉ ra 5 yếu tố nguy cơ mang tính quyết định:

  • Áp lực học tập cao (điểm ESSA từ 56 đến 80 điểm) khiến nguy cơ gặp vấn đề tâm thần tăng gấp 4,13 lần so với nhóm chịu áp lực thấp (OR = 4,13; 95% CI: 2,42 - 7,04; p < 0,05). Tỷ lệ có vấn đề tâm thần ở nhóm áp lực cao lên tới 63,3%, trong khi nhóm áp lực thấp chỉ chiếm 29,4%.
  • Thái độ thờ ơ, lạnh nhạt từ cha mẹ làm tăng nguy cơ rối nhiễu tâm lý lên gấp 4,25 lần (OR = 4,25; 95% CI: 2,21 - 9,03; p < 0,05).
  • Tình trạng bị bắt nạt trực tiếp tại trường học làm gia tăng nguy cơ lên gấp 3,31 lần (OR = 3,31; 95% CI: 1,28 - 8,54; p < 0,05).
  • Hành vi bạo lực gia đình khiến trẻ bị người lớn đánh đập làm tăng nguy cơ lên 2,54 lần (OR = 2,54; 95% CI: 1,39 - 4,61) và chứng kiến bạo lực gia đình làm tăng nguy cơ lên 2,25 lần (OR = 2,25; 95% CI: 1,15 - 4,39).
  • Yếu tố lối sống và giới tính: Học sinh nữ có nguy cơ cao gấp 1,95 lần so với nam sinh (OR = 1,95; 95% CI: 1,16 - 3,28). Thói quen uống rượu bia trong 6 tháng qua làm tăng nguy cơ lên 2,48 lần (OR = 2,48; 95% CI: 1,19 - 5,14) và thời gian sử dụng internet trên 2 giờ mỗi ngày làm tăng nguy cơ lên 1,75 lần (OR = 1,75; 95% CI: 1,11 - 2,75).

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ thanh phân tầng tỷ lệ theo giới tính và bảng đối chiếu đa biến biểu thị các khoảng tin cậy của chỉ số OR. Điểm số áp lực học tập trung bình của học sinh đạt mức 51,11 ± 7,13 điểm. Thực tế có 84,1% học sinh đạt học lực giỏi và 96,3% đạt hạnh kiểm tốt cho thấy môi trường trường chuyên tạo ra kỳ vọng hoàn hảo rất lớn, biến điểm số thành nguồn cơn chính của stress cảm xúc.

Tỷ lệ 37,6% học sinh có vấn đề sức khỏe tâm thần trong nghiên cứu này có sự tương đồng chặt chẽ với các nghiên cứu tại tỉnh Đồng Tháp (37,1%) và tỉnh Hòa Bình (40,5%), nhưng cao hơn mức 29,6% tại các trường trung học cơ sở khu vực Bắc Bộ. Nữ sinh có xu hướng bộc lộ các rối loạn lo âu và trầm cảm cao hơn nam sinh do sự nhạy cảm về nội tiết tố và áp lực xã hội. Sự thiếu hụt kết nối cảm xúc từ gia đình kết hợp với vấn nạn bạo lực học đường tạo nên những sang chấn tâm lý kéo dài, trực tiếp làm suy giảm khả năng tập trung và năng lực hòa nhập cộng đồng của học sinh.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng dịch tễ học thu được, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp can thiệp đồng bộ:

  1. Thiết lập phòng tham vấn tâm lý học đường chuyên trách: Ban Giám hiệu nhà trường chủ trì phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo xây dựng quy trình sàng lọc định kỳ bằng thang đo SDQ-25 cho 100% học sinh vào đầu mỗi năm học, hoàn thiện trong giai đoạn 2021-2023, nhằm phát hiện sớm và giảm 25% tỷ lệ rối loạn lo âu ở nữ sinh.
  2. Cải tiến phương pháp giảng dạy và kiểm soát áp lực thi cử: Tổ chuyên môn và giáo viên bộ môn thực hiện đa dạng hóa hình thức đánh giá năng lực, giảm tải bài tập về nhà, lồng ghép 02 tiết học kỹ năng quản lý cảm xúc mỗi tháng, hướng tới mục tiêu hạ mức điểm áp lực học tập trung bình từ 51,11 điểm xuống dưới 40 điểm trong giai đoạn 2022-2024.
  3. Xây dựng môi trường an toàn và phòng chống bạo lực học đường: Đoàn Thanh niên và Ban Giám thị triển khai đường dây nóng ẩn danh tiếp nhận phản ánh, áp dụng chế tài nghiêm khắc đối với hành vi bắt nạt trực tiếp, mục tiêu kéo giảm 100% các vụ việc bạo lực trong vòng 12 tháng kể từ khi áp dụng.
  4. Tăng cường truyền thông và gắn kết gia đình - nhà trường: Ban đại diện cha mẹ học sinh phối hợp cùng các chuyên gia y tế công cộng tổ chức 04 buổi tọa đàm mỗi năm về kỹ năng lắng nghe và đồng hành tích cực cùng con em, cam kết loại bỏ hoàn toàn các hành vi bạo lực và thái độ thờ ơ trong gia đình.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống dữ liệu thực nghiệm của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cán bộ quản lý giáo dục và Ban Giám hiệu các trường trung học: Vận dụng kết quả nghiên cứu làm cơ sở thực tiễn để ban hành các văn bản điều chỉnh chính sách thi đua, xây dựng không gian học đường thân thiện và bố trí biên chế cho nhân sự tư vấn tâm lý chuyên trách.
  • Chuyên viên tâm lý học đường và cán bộ y tế công cộng: Ứng dụng quy trình đánh giá chuẩn hóa bằng thang đo SDQ-25 và ESSA để triển khai các chương trình can thiệp trị liệu nhóm và theo dõi sức khỏe tâm thần học sinh định kỳ.
  • Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu khoa học: Sử dụng khung lý thuyết sinh thái, phương pháp chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn và bộ bảng biến số chi tiết của luận văn làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu dịch tễ học sức khỏe hành vi.
  • Giáo viên chủ nhiệm và các bậc phụ huynh: Nhận diện sớm các dấu hiệu thay đổi tâm sinh lý bất thường, nhận thức rõ tác hại của sự thờ ơ và áp lực điểm số, từ đó thiết lập phương thức giao tiếp tích cực và hỗ trợ tinh thần kịp thời cho con em.

Câu hỏi thường gặp

Thang đo SDQ-25 đo lường sức khỏe tâm thần của học sinh qua những khía cạnh nào?

Thang đo SDQ-25 đánh giá 25 biểu hiện tâm lý phân bổ trên 5 khía cạnh cốt lõi: bất ổn cảm xúc, hành vi ứng xử, tăng động - giảm chú ý, quan hệ bạn bè và kỹ năng tiền xã hội. Tổng điểm từ 15 đến 40 điểm phản ánh học sinh đang có vấn đề sức khỏe tâm thần cần được sàng lọc và hỗ trợ chuyên sâu.

Áp lực học tập tác động đến sức khỏe tâm thần của học sinh ở mức độ nào?

Nghiên cứu chứng minh học sinh có điểm áp lực học tập từ 56 đến 80 điểm có nguy cơ gặp vấn đề sức khỏe tâm thần cao gấp 4,13 lần so với nhóm có điểm áp lực từ 21 đến 55 điểm. Tỷ lệ có vấn đề tâm lý ở nhóm chịu áp lực nặng lên tới 63,3%, khẳng định áp lực điểm số là yếu tố nguy cơ hàng đầu.

Hành vi bắt nạt học đường trực tiếp gây ra những hệ lụy gì cho tâm lý học sinh?

Học sinh bị bắt nạt trực tiếp tại trường học có nguy cơ mắc các rối nhiễu tâm thần cao gấp 3,31 lần so với các bạn không bị bắt nạt. Dù chỉ có khoảng 6,1% học sinh báo cáo bị bắt nạt, những tổn thương về thể chất và tinh thần khiến các em luôn trong trạng thái bất an, thu mình và suy giảm khả năng hòa nhập.

Thái độ thờ ơ của cha mẹ ảnh hưởng như thế nào đến tâm lý lứa tuổi vị thành niên?

Học sinh bị cha mẹ thờ ơ, lạnh nhạt có nguy cơ gặp vấn đề sức khỏe tâm thần cao gấp 4,25 lần (khoảng tin cậy 95% CI: 2,21 - 9,03) so với học sinh được quan tâm chăm sóc. Sự thiếu thốn tình cảm tạo ra cảm giác bị bỏ rơi, khiến học sinh mất điểm tựa tâm lý trong giai đoạn phát triển nhân cách nhạy cảm.

Thói quen sử dụng internet và đồ uống có cồn làm gia tăng rủi ro tâm lý ra sao?

Nghiên cứu chỉ ra học sinh sử dụng internet trên 2 giờ mỗi ngày có nguy cơ rối nhiễu tâm lý cao gấp 1,75 lần. Đồng thời, nhóm học sinh có sử dụng rượu bia trong 6 tháng qua (chiếm 10,1% mẫu nghiên cứu) có nguy cơ mắc vấn đề tâm thần cao gấp 2,48 lần so với nhóm không sử dụng chất có cồn.

Kết luận

  • Tỷ lệ học sinh trung học phổ thông có vấn đề sức khỏe tâm thần chung ở mức cao với 37,6%, trong đó khó khăn về quan hệ bạn bè (36,1%) và suy giảm kỹ năng tiền xã hội (34,3%) là hai khía cạnh phổ biến nhất.
  • Áp lực học tập là yếu tố tác động mạnh mẽ nhất, làm gia tăng nguy cơ rối loạn tâm thần lên gấp 4,13 lần ở nhóm học sinh chịu sức ép thi cử lớn.
  • Bầu không khí gia đình đóng vai trò quyết định, trong đó sự thờ ơ của cha mẹ khiến nguy cơ mắc vấn đề tâm lý của học sinh tăng vọt lên 4,25 lần.
  • Vấn nạn bắt nạt trực tiếp và bạo lực gia đình làm tăng nguy cơ tổn thương sức khỏe tâm thần lần lượt là 3,31 lần và 2,54 lần.
  • Học sinh nữ cùng nhóm đối tượng sử dụng internet trên 2 giờ/ngày hoặc tiêu thụ rượu bia có tỷ lệ rối nhiễu tâm lý cao vượt trội so với các nhóm còn lại.

Luận văn đã đóng góp hệ thống bằng chứng thực nghiệm giá trị về dịch tễ học sức khỏe tâm thần học đường, cung cấp cơ sở khoa học vững chắc cho việc hoạch định chính sách y tế trường học tại các đô thị Việt Nam. Các cơ sở giáo dục cần khẩn trương hoàn thiện mô hình phòng tư vấn tâm lý trong 06 tháng tới và triển khai các can thiệp đa chiều giai đoạn 2022-2025 nhằm bảo vệ và nâng cao toàn diện sức khỏe tinh thần cho học sinh.