CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ 1. Khái niệm, đặc trưng của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự 1.1 Trách nhiệm dân sự là gì? Trách nhiệm dân sự được hiểu rất rộng, bao gồm: Trách nhiệm công khai xin lỗi, buộc chấm dứt hành vi vi phạm, đăng bài cải chính và bồi thường thiệt hại đối với người đã bị họ bằng hành vi của mình xâm phạm tới uy tín, danh dự, nhân phẩm, tài sản, sức khoẻ, tính mạng. Xử sự của các chủ thể diễn ra trong đời sống xã hội rất đa dạng và phong phú nên không thể liệt kê hết các xử sự này bao gồm những hành vi nào. Nhưng khi chủ thể thực hiện các hành vi của mình phải tuân theo các quy tắc chung của ngành luật dân sự, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác.
Vì vậy, khi xử sự của một chủ thể làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác thì xử sự đó bị coi là trái pháp luật dân sự. Người có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác áp dụng trách nhiệm dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Khi trách nhiệm dân sự được áp dụng thì người có xử sự trái với quy định của pháp luật dân sự phải gánh chịu một hoặc một số hậu quả pháp lý nhất định. “Trách nhiệm dân sự nói chung được hiểu là sự quy định của pháp luật dân sự về hậu quả pháp lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng buộc người có hành vi vi phạm quy tắc xử sự phải gánh chịu những hậu quả pháp lý nhất định nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bên có quyền dân sự bị xâm phạm” [9, tr.
Song, trách nhiệm dân sự là đối tượng của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự chỉ là trách nhiệm về bồi thường thiệt hại. Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự Luận văn thạc sĩ 7 1.2 Bảo hiểm trách nhiệm dân sự là gì? Bảo hiểm trách nhiệm dân sự là một loại bảo hiểm mà theo đó doanh nghiệp bảo hiểm cam kết bồi thường phần trách nhiệm dân sự của người tham gia bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng khi có sự kiện bảo hiểm phát sinh, còn bên tham gia bảo hiểm phải nộp một khoản phí cho doanh nghiệp bảo hiểm. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự là một cơ chế bảo đảm phòng ngừa, hạn chế và khắc phục kịp thời những tổn thất do bên mua bảo hiểm gây ra cho bên thứ ba. Với ý nghĩa đó, dù không khắc phục được hoàn toàn tổn thất xảy ra, song bảo hiểm trách nhiệm dân sự góp phần bình ổn tài chính cho cả bên được bảo hiểm và bên thứ ba khi người tham gia bảo hiểm gây ra thiệt hại.
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chính là bảo hiểm cho những khoản tài chính cần thiết để khắc phục tổn thất cho người bị thiệt hại. Việc bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm không phải là toàn bộ thiệt hại trực tiếp về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người mua bảo hiểm mà là những thiệt hại về tài chính người đó phải bồi thường cho người thứ ba căn cứ vào những tổn thất về tài sản, sức khoẻ, tính mạng mà họ đã gây ra cho bên thứ ba. Doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường trên cơ sở thoả thuận của các bên trong hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật nhưng không vượt quá thiệt hại thực tế của người thứ ba.3 Khái niệm, đặc trưng của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm còn bên bảo hiểm phải trả một khoản tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm (Điều 571 Bộ luật Dân sự năm 2005). Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định, hợp đồng bảo hiểm gồm ba loại: Hợp đồng bảo hiểm con người, hợp đồng bảo hiểm tài sản và Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự Luận văn thạc sĩ 8 hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
Vậy, hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự là một trong ba loại hợp đồng bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự là hợp đồng về bảo hiểm trách nhiệm dân sự hay chính là sự thoả thuận bằng văn bản giữa bên bảo hiểm (doanh nghiệp bảo hiểm) với bên tham gia bảo hiểm (tổ chức, cá nhân), theo đó doanh nghiệp bảo hiểm cam kết sẽ thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người thứ ba thay cho bên được bảo hiểm nếu sự kiện bảo hiểm xảy ra trong thời hạn có hiệu lực của hợp đồng còn bên tham gia bảo hiểm có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự mang những đặc điểm chung của hợp đồng bảo hiểm đồng thời có những đặc trưng riêng: Thứ nhất, đối tượng trong hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự là trách nhiệm về bồi thường thiệt hại, là loại bảo hiểm không thể xác định được giá trị đối tượng bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng. Điều 52 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định: “Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự là trách nhiệm dân sự của người tham gia bảo hiểm đối với bên thứ ba theo quy định của pháp luật”.
Khác với hợp đồng bảo hiểm tài sản có đối tượng là tài sản cụ thể, hợp đồng bảo hiểm con người là bảo hiểm đối với một người cụ thể; đối tượng của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự là trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người tham gia bảo hiểm đối với bên thứ ba; đó là thiệt hại có thể xảy ra trong tương lai, trong phạm vi, giới hạn bảo hiểm và thuộc trách nhiệm bồi thường của bên tham gia bảo hiểm. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại mang tính trừu tượng chúng ta không nhìn thấy, không cảm nhận được bằng các giác quan và thực tế chúng không tồn tại hiện hữu trong không gian tại thời điểm giao kết hợp đồng. Chỉ khi nào người tham gia bảo hiểm gây thiệt hại cho người khác và phải bồi thường thì mới xác định được trách nhiệm bồi thường thiệt hại là Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự Luận văn thạc sĩ 9 bao nhiêu. Thường đối với các hợp đồng bảo hiểm tài sản ta có thể xác định được mức tổn thất tối đa của tài sản khi giao kết hợp đồng, còn với các hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự thì không thể xác định được trách nhiệm bồi thường thiệt hại tối đa là bao nhiêu.
Mức trách nhiệm bồi thường được xác định theo thoả thuận của các bên và các quy định của pháp luật, trên cơ sở mức độ lỗi của người gây thiệt hại và thiệt hại thực tế của người thứ ba. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có các điều kiện sau: - Có hành vi gây thiệt hại của người tham gia bảo hiểm đối với người thứ ba - Có lỗi của người gây thiệt hại - Có thiệt hại thực tế đối với bên thứ ba - Thiệt hại xảy ra là kết quả tất yếu của hành vi gây thiệt hại và ngược lại hành vi là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại. Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự có đối tượng là trách nhiệm về bồi thường thiệt hại, song trên thực tế thì các doanh nghiệp bảo hiểm ở Việt Nam mới chỉ tiến hành các loại nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trong đó, tồn tại đồng thời hai mối quan hệ: Quan hệ hợp đồng giữa doanh nghiệp bảo hiểm với người tham gia bảo hiểm và quan hệ giữa người tham gia bảo hiểm với người thứ ba bị thiệt hại.
Trong trường hợp này, người thứ ba và trách nhiệm bồi thường của người tham gia bảo hiểm không thể xác định cụ thể tại thời điểm giao kết hợp đồng, mà được xác định thông qua việc định trước số tiền bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm khi giao kết hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự. Thứ hai, trong hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự lỗi của người tham gia bảo hiểm khi thực hiện hành vi gây thiệt hại là căn cứ để xác định trách nhiệm bồi thường của người tham gia bảo hiểm, đồng thời cũng là căn cứ để xác định trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm. Tại Khoản 1 Điều Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự Luận văn thạc sĩ 10 604 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Theo đó, nếu không có thoả thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì người vi phạm phải bồi thường khi có lỗi.
Lỗi là thái độ tâm lý của người có hành vi gây thiệt hại phản ánh nhận thức của người đó đối với hành vi và hậu quả của hành vi mà họ thực hiện. Yếu tố lỗi chưa được quy định trong pháp luật dân sự. Trên thực tế, lỗi trong trách nhiệm dân sự là lỗi suy đoán, nên người gây thiệt hại bị suy đoán là có lỗi khi thực hiện hành vi gây thiệt hại, trừ trường hợp họ chứng minh được thiệt hại xảy ra trong trường hợp phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ, trong tình thế cấp thiết hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại. Ví dụ, một người đang chạy xe trên đường đột ngột có em nhỏ lao vụt từ trong ngõ ra, vì tránh để không gây tai nạn cho em bé mà đâm vào quán ở bên đường gây thiệt hại đến tài sản của chủ quán.
Trong trường hợp này, người đi xe không có lỗi và không phải bồi thường. Lỗi của người tham gia bảo hiểm khi thực hiện hành vi gây thiệt hại không chỉ là căn cứ để xác định doanh nghiệp bảo hiểm có phải thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm không; mà còn là cơ sở để xác định trách nhiệm bồi thường. Căn cứ vào mức độ lỗi để xác định người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ, một phần hoặc liên đới bồi thường, từ đó doanh nghiệp bảo hiểm xác định trách nhiệm bồi thường của mình. Thứ ba, doanh nghiệp bảo hiểm chỉ phải thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm khi có yêu cầu bồi thường của người thứ ba.