Luận văn xã hội học: Hoạt động giải trí công nhân KCN Đồng Văn Hà Nam

Đánh giá thực trạng tham gia hoạt động giải trí tập thể của công nhân KCN Đồng Văn, Hà Nam hiện nay cùng các giải pháp nâng cao đời sống tinh thần.

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2022

105
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan hoạt động giải trí tập thể của công nhân KCN Đồng Văn

Hoạt động giải trí tập thể giữ vai trò thiết yếu đối với đời sống công nhân lao động. Tại khu công nghiệp Đồng Văn, tỉnh Hà Nam, nhu cầu tái tạo sức lao động ngày càng trở nên cấp thiết. Môi trường công nghiệp đòi hỏi cường độ làm việc cao. Công nhân thường xuyên đối mặt với áp lực dây chuyền sản xuất. Các hình thức giải trí tập thể mang lại không gian thư giãn lành mạnh. Những sự kiện này giúp giảm thiểu căng thẳng thể chất và tâm lý. Đồng thời, việc giao lưu tập thể củng cố tinh thần đoàn kết nội bộ. Doanh nghiệp và công đoàn cơ sở đã bước đầu triển khai nhiều phong trào phong phú. Các giải bóng đá mini, hội diễn văn nghệ và ngày hội công nhân được duy trì thường niên. Tuy nhiên, mức độ tiếp cận vẫn chưa đồng đều giữa các nhóm lao động. Người lao động di cư gặp nhiều rào cản về thời gian và điều kiện sinh hoạt. Việc đánh giá bức tranh tổng quan giúp xác định rõ thực trạng và nhu cầu thực tế của lực lượng lao động.

1.1. Khái niệm và vai trò của giải trí tập thể

Giải trí tập thể là chuỗi hoạt động có tổ chức và mang tính tự nguyện cao. Loại hình này bao gồm giao lưu văn nghệ, thi đấu thể thao và dã ngoại tập thể. Đối với công nhân, đây là phương thức hữu hiệu để phục hồi năng lượng sau ca làm. Hoạt động này tạo cơ hội xây dựng mối quan hệ đồng nghiệp bền chặt. Khi tinh thần thoải mái, hiệu suất làm việc của công nhân tăng lên rõ rệt. Ngoài ra, giải trí lành mạnh giúp ngăn ngừa các thói quen tiêu cực tại khu nhà trọ. Môi trường làm việc nhờ đó trở nên thân thiện và nhân văn hơn. Đây là nền tảng quan trọng để phát triển nguồn nhân lực bền vững.

1.2. Bối cảnh lao động tại KCN Đồng Văn Hà Nam

Khu công nghiệp Đồng Văn là trung tâm kinh tế trọng điểm của tỉnh Hà Nam. Nơi đây quy tụ hàng chục nghìn lao động trẻ từ nhiều địa phương. Nhịp độ sản xuất diễn ra liên tục theo các ca kíp dày đặc. Phần lớn công nhân có thu nhập ở mức trung bình và phải thuê trọ. Điều kiện sinh hoạt của người lao động ngoại tỉnh còn nhiều thiếu thốn. Thời gian rỗi của công nhân thường bị thu hẹp do nhu cầu tăng ca kiếm thêm thu nhập. Nhu cầu tham gia các sân chơi giải trí tập thể là rất lớn nhưng cơ hội tiếp cận còn hạn chế. Thực tế này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc phát triển các thiết chế văn hóa phục vụ người lao động.

II. Thực trạng tham gia hoạt động giải trí của công nhân KCN Đồng Văn

Khảo sát thực tế tại khu công nghiệp Đồng Văn cho thấy nhiều điểm bất cập trong sinh hoạt văn hóa của công nhân. Tỷ lệ công nhân thường xuyên tham gia các hoạt động giải trí tập thể còn ở mức khiêm tốn. Phần lớn người lao động chỉ tham gia vào các dịp lễ lớn hoặc hội thao thường niên do công ty tổ chức. Tần suất sinh hoạt định kỳ hàng tuần hay hàng tháng gần như vắng bóng. Nguyên nhân trực tiếp xuất phát từ áp lực thời gian làm thêm giờ và gánh nặng kinh tế gia đình. Sau giờ làm, đa số công nhân chọn cách ở lại phòng trọ để nghỉ ngơi hoặc lướt mạng xã hội. Cơ sở hạ tầng phục vụ văn hóa thể thao tại địa bàn còn thiếu thốn nghiêm trọng. Nhiều khu nhà trọ không có sân bãi, công viên hay nhà văn hóa sinh hoạt chung. Kinh phí tổ chức từ phía doanh nghiệp và công đoàn còn hạn hẹp. Sự thiếu hụt các mô hình giải trí phù hợp đã ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng đời sống tinh thần của công nhân.

2.1. Tần suất và các hình thức tham gia thực tế

Hình thức giải trí tập thể phổ biến nhất hiện nay là các giải bóng đá nam nữ nội bộ. Một số doanh nghiệp tổ chức thi cắm hoa, văn nghệ nhân dịp ngày lễ kỷ niệm. Tuy nhiên, các sự kiện này diễn ra rời rạc và thiếu tính liên tục. Đa số công nhân chỉ đóng vai trò khán giả thay vì trực tiếp tham gia tranh tài. Nhóm lao động nữ và lao động lớn tuổi ít có sân chơi chuyên biệt. Hoạt động dã ngoại hay du lịch tập thể chỉ xuất hiện ở một số ít doanh nghiệp có nguồn lực dồi dào. Tình trạng này khiến đời sống tinh thần của đại bộ phận công nhân chưa thực sự được phong phú.

2.2. Những rào cản hạn chế công nhân tham gia

Rào cản lớn nhất đối với công nhân là sự thiếu hụt quỹ thời gian tự do. Nhu cầu tăng ca để trang trải chi phí sinh hoạt khiến công nhân kiệt sức sau mỗi ngày làm việc. Bên cạnh đó, các thiết chế văn hóa tại khu công nghiệp Đồng Văn chưa được đầu tư đồng bộ. Khu vực nhà trọ thiếu vắng không gian công cộng dành cho các hoạt động thể thao ngoài trời. Nội dung chương trình giải trí do công đoàn tổ chức đôi khi còn rập khuôn, chưa kích thích được sự hào hứng của người lao động trẻ. Thêm vào đó, thông tin về các sự kiện chưa được phổ biến kịp thời đến từng phân xưởng sản xuất.

III. Giải pháp nâng cao chất lượng giải trí tập thể cho công nhân Hà Nam

Để nâng cao hiệu quả tham gia hoạt động giải trí tập thể, cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp thực tiễn. Trước hết, các cấp chính quyền tỉnh Hà Nam cần quy hoạch quỹ đất để xây dựng trung tâm văn hóa công nhân. Các khu thể thao đa năng và điểm sinh hoạt công cộng cần được bố trí gần khu nhà trọ tập trung. Doanh nghiệp cần phối hợp chặt chẽ với tổ chức công đoàn cơ sở để xây dựng lịch trình sinh hoạt hợp lý. Việc phân bổ thời gian làm việc khoa học sẽ giúp công nhân có điều kiện tái tạo sức lao động. Đồng thời, nguồn kinh phí dành cho các hoạt động phúc lợi cần được trích lập minh bạch và đều đặn. Cần đổi mới phương thức tổ chức theo hướng đa dạng, trẻ trung và hấp dẫn hơn. Ứng dụng công nghệ số trong việc kết nối và thông báo hoạt động sẽ thu hút đông đảo đoàn viên tham gia. Sự chung tay giữa chính quyền, doanh nghiệp và tổ chức công đoàn là chìa khóa giải quyết triệt để vấn đề này.

3.1. Hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở

Chính quyền địa phương cần ưu tiên đầu tư xây dựng các khu thể thao công cộng quanh KCN Đồng Văn. Hệ thống sân bóng đá, cầu lông và bóng chuyền cần được mở cửa miễn phí cho người lao động. Các chủ nhà trọ cũng cần được khuyến khích tạo không gian sinh hoạt chung thoáng đãng. Việc xã hội hóa nguồn vốn đầu tư cơ sở vật chất giải trí là hướng đi hiệu quả. Khi cơ sở hạ tầng thuận tiện, công nhân sẽ chủ động tham gia rèn luyện thể chất thường xuyên hơn. Sự hỗ trợ từ nguồn lực xã hội sẽ thúc đẩy phong trào thể thao lan tỏa mạnh mẽ.

3.2. Đổi mới hình thức tổ chức từ công đoàn

Công đoàn cơ sở cần chủ động lắng nghe nguyện vọng giải trí của đoàn viên thông qua các cuộc khảo sát định kỳ. Nội dung hoạt động cần phong phú, kết hợp giữa thể thao, âm nhạc và trò chơi vận động tập thể. Các giải đấu nên được chia thành nhiều hạng mục phù hợp với cả nam và nữ ở mọi lứa tuổi. Công tác truyền thông nội bộ cần tận dụng các nhóm mạng xã hội để lan tỏa thông tin nhanh chóng. Chế độ khen thưởng kịp thời cũng là động lực lớn thúc đẩy sự tham gia nhiệt tình của công nhân lao động.

IV. Kết luận và định hướng phát triển đời sống công nhân KCN Đồng Văn

Chăm lo đời sống tinh thần cho công nhân là mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững của tỉnh Hà Nam. Thực trạng tại khu công nghiệp Đồng Văn phản ánh nhu cầu giải trí rất lớn nhưng còn thiếu điều kiện thực thi. Việc nâng cao chất lượng các hoạt động giải trí tập thể không chỉ mang lại niềm vui tức thời cho người lao động. Đây còn là động lực thúc đẩy năng suất lao động, giảm thiểu tỷ lệ nghỉ việc và xây dựng văn hóa doanh nghiệp vững mạnh. Một môi trường làm việc lành mạnh sẽ thu hút và giữ chân lực lượng lao động chất lượng cao. Doanh nghiệp cần nhìn nhận chi phí cho hoạt động văn hóa là khoản đầu tư sinh lợi dài hạn. Chính sách an sinh xã hội của địa phương cần gắn liền với việc xây dựng môi trường sống văn minh cho công nhân. Khi đời sống tinh thần được đảm bảo, công nhân sẽ cống hiến hết mình cho sự phát triển kinh tế chung của khu vực.

4.1. Tác động tích cực đến năng suất lao động

Các hoạt động giải trí tập thể đóng vai trò như liều thuốc giải tỏa áp lực công việc hàng ngày. Khi tinh thần sảng khoái và thể lực phục hồi, công nhân sẽ giảm thiểu sai sót trong thao tác kỹ thuật. Sự gắn kết giữa các thành viên trong phân xưởng giúp cải thiện kỹ năng phối hợp làm việc nhóm. Môi trường văn hóa tích cực tạo nên sự gắn bó lâu dài giữa người lao động và doanh nghiệp. Điều này trực tiếp làm giảm tỷ lệ biến động nhân sự và chi phí đào tạo tuyển dụng mới cho nhà máy.

4.2. Khuyến nghị chính sách cho tỉnh Hà Nam

Tỉnh Hà Nam cần ban hành các chính sách ưu đãi nhằm thu hút đầu tư vào hạ tầng xã hội phục vụ khu công nghiệp. Cần đưa chỉ tiêu về thiết chế văn hóa cho công nhân vào quy hoạch phát triển đô thị. Các cơ quan quản lý lao động cần giám sát chặt chẽ việc thực hiện chế độ nghỉ ngơi của doanh nghiệp. Việc tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức công đoàn hoạt động là yếu tố then chốt. Sự phối hợp đa ngành sẽ kiến tạo môi trường sống và làm việc an toàn, lành mạnh và tiến bộ cho công nhân.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Thực trạng tham gia các hoạt động giải trí tập thể của công nhân lao động khu công nghiệp đồng văn tỉnh hà nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực trạng tham gia các hoạt 15 động giải trí tập thể của công nhân lao động khu công nghiệp Đồng Văn tỉnh Hà Nam Chương 2: Phân tích thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng tới tham gia hoạt động giải trí của công nhân lao động Chương 3: Nhu cầu giải trí và giải pháp nhằm cải thiện tham gia các hoạt động giải trí tập thể. 16 NỘI DUNG Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC TRẠNG THAM GIA CÁC HOẠT ĐỘNG GIẢI TRÍ TẬP THỂ CỦA CÔNG NHÂN LAO ĐỘNG KCN ĐỒNG VĂN TỈNH HÀ NAM 1. Các khái niệm cơ bản 1. Hoạt động Theo quan điểm của Ph.Ăngghen, "Vận động trở thành phương thức tồn tại của vật chất" (Giáo trình triết học Mác-Lenin,) hay có thể hiểu là hoạt động là phương thức tồn tại của con người.

Trong tác phẩm “tâm lý học Mác-xít”, cuộc sống con người được coi như là một dòng hoạt động, ở đó con người là chủ thể của các hoạt động thay thế nhau. Hay nói cách khác hoạt động là một quá trình con người thực hiện các quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên, xã hội. Kế thừa từ những quan điểm sáng giá trên, chúng ta có thể hiểu hoạt động là quá trình tác động qua lại giữa con người với thế giới xung quanh để tạo ra sản phẩm về phía thế giới và sản phẩm về phía con người. Theo Weber một nhà xã hội học Đức, “hành động xã hội” là loại hành động cá nhân mang nghĩa chủ quan để lý giải về tính hợp lý của mối quan hệ giữ phương tiện với mục đích của hành động trên cơ sở định hướng và tính toán, chờ đợi phản ứng đáp lại từ phía đối tác [tr49].

Vì thế hành động xã hội là loại hành động tương quan với hành động của người khác, định hướng vào hành động của họ theo ý nghĩa chủ quan của chủ thể. Theo từ điển Tiếng Việt thì hoạt động được lý giải là làm những việc khác nhau với mục đích nào đó trong đời sống xã hội, ví dụ như hoạt động nghệ thuật, hoạt động quân sự, hoạt động văn hóa. “Hoạt động” có thể coi là một phương thức đặc thù của con người giúp con người liên hệ với thế giới chung quanh nhằm cải tạo thế giới theo hướng phục vụ nhu cầu và cuốc sống thiết yếu của con người. Qua đó tạo ra được 17 sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của chủ thể-con người.

Nhưng hình thức cơ bản, có ý nghĩa quyết định là thực tiễn xã hội. Giải trí Giải trí là một từ Hán - Việt. Theo cụ Đào Duy Anh thì: Giải trí là khi làm việc rỗi, làm cho trí não được khoan khoái, gần nghĩa với giải trí là tiêu khiển, tiêu khiển là giải muộn phiền, giải sầu. Hay đôi khi người ta còn hay nói vui chơi, giải trí do giải trí là từ đồng nghĩa của vui chơi.

Từ điển Xã hội học: “Giải trí là một dạng hoạt động của con người, đáp ứng những nhu cầu phát triển của con người về các mặt thể chất, trí tuệ và mỹ học” và “Giải trí không chỉ là nhu cầu của từng cá nhân, mà còn là nhu cầu của đời sống cộng đồng” [tr. Trong đó từ "nhu cầu" nằm trong định nghĩa trên được giải nghĩa theo từ điển tóm tắt Xã hội học (tiếng Nga) là “Nhu cầu là đòi hỏi điều gì đó cần thiết để đảm bảo hoạt động sống của cơ thể, của nhân cách con người, của nhóm xã hội hoặc toàn xã hội nói chung; là nguồn thôi thúc nội tại của hoạt động” [tr. Trong xã hội nông nghiệp, người nông dân lao động theo thời vụ do đó mà các hoạt động giải trí thường đơn giản, gần gũi và diễn ra sau vụ thu hoạch hoặc trong lúc nông nhàn. Các hoạt động vui chơi giải trí của xã hội nông nghiệp phần lớn thường nhẹ nhàng, tiết tấu chậm rãi và thường không sôi động lắm ví dụ như: đánh đu, thả diều, chọi chim, chọi gà, chọi dế.

Đặc trưng nổi bật của xã hội công nghiệp là sự năng động xã hội, lao động căng thẳng và diễn ra với tiết tấu nhanh, phân công lao động cụ thể, do vậy hoạt động giải trí trong xã hội công nghiệp thường diễn ra hết sức sôi động với tiết tấu nhanh, năng động như: Bóng đá, các cuộc thi thể thao quần vợt, tennis.các hoạt động giải trí mang tính dịch vụ như du lịch, thám hiểm,… Những hoạt động này hoàn toàn phù hợp với xã hội công nghiệp, góp phần giải toả những căng thẳng tâm thần, lập lại thế cân bằng nội tại nhằm tái 18 sản xuất sức lao động. Trong thời gian rỗi con người có thể chủ động làm những việc như: Tranh thủ làm thêm để kiếm sống hoặc học thêm để nâng cao trình độ (khi đó thời gian rỗi đã bị biến thành thời gian lao động); cũng có người dùng thời gian rỗi để thực hiện những hoạt động mà xã hội thường gọi là "vô bổ" hoặc có hại (la cà hàng quán, rong chơi không mục đích hoặc sa vào các tệ nạn xã hội.) Những hoạt động lệch chuẩn như vậy không thuộc nội hàm khái niệm giải trí. Hoạt động giải trí mà nghiên cứu muốn hướng tới ở đây là những hoạt động của con người nhằm nâng cao đời sống văn hoá tinh thần và phát triển toàn diện con người. Giải trí là sản phẩm của lao động.

Có thể nói khi lao động đạt tới trình độ phát triển nhất định thì sẽ tạo được không gian cho giải trí. Và nhu vậy, giải trí ngược lại giúp con người giải tỏa được áp lực, thỏa mãn nhu cầu thiết yếu, phát triển toàn diện, và kết quả là năng suất lao động tăng lên. Ta có thể hiểu theo một nghĩa đơn giản đó là lao động đi đôi với giải trí, giải trí được đáp ứng đúng lúc sẽ thúc đẩy lao động hiệu quả, lao động hiệu quả đáp lại giúp cho giải trí được nâng cao. Lao động và giải trí là một mối tương quan chặt chẽ, đồng thời có hỗ trwoj và chuyển hóa cho nhau, nên không có lao động tồn tại thì sẽ không có sự tồn tại của giải trí, mà khi giải trí không tồn tại thì con người trở nên vô cảm, bế tắc, tẻ nhạt và điều đó không khác gì việc cảm nhận cuộc sống này quá vô vị mà không có động lực phát triển đi lên, hay thậm chí cũng không biết hưởng thụ những thành quả lao động do chính bản thân con người tạo dựng lên.

Như vậy, giải trí - vui chơi là nhu cầu văn hoá cơ bản của con người (cá nhân và cộng đồng), là hoạt động của con người nhằm giải toả những căng thẳng, mệt mỏi do lao động đem lại, bù đắp những thiếu hụt và mất mát về sức khoẻ và tinh thần. Đồng thời, giải trí là nguồn động lực thúc đẩy tái tạo sức lao động, để con người phát triển toàn diện về thể lực, trí lực, tình cảm 19 thẩm mỹ, thoả mãn nhu cầu tinh thần ngày càng cao của con người. Hoạt động giải trí tập thể Trước tiên là định nghĩa về “Hoạt động giải trí”, đây là dạng hoạt động mang tính chất tự do hơn các dạng hoạt động khác, nó không hề mang tính cưỡng bức; con người có quyền lựa chọn theo sở thích, trong khuôn khổ hệ chuẩn mực của xã hội. Nó là bước chuyển từ những hoạt động nghĩa vụ, bổn phận sang những hoạt động tự nguyện.

Theo nhà nghiên cứu văn hoá Đoàn Văn Chúc thì trong bất kỳ xã hội nào cũng có 4 dạng hoạt động mà con người phải thực hiện cụ thể như sau: Đầu tiên là hoạt động lao động sản xuất nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển của cá nhân và xã hội. Hay được gọi là nghĩa vụ xã hội của mỗi người; Thứ hai là hoạt động thuộc các quan hệ cá nhân trong xã hội như nuôi dạy con cái, chăm sóc người nhà, thăm nom họ hàng, bạn bè. Đây chính là nghĩa vụ cá nhân của mỗi người; Thứ ba là hoạt động đời sống vật chất của con người như nấu nướng, ăn uống, ngủ nghỉ, vệ sinh nhà cửa. còn gọi là hoạt động thoả mãn nhu cầu cá nhân của mỗi người; Thứ tư là hoạt động đời sống tinh thần của cá nhân như thưởng thức văn nghệ, vui chơi, sinh hoạt tôn giáo.chính là hoạt động thoả mãn nhu cầu tinh thần của mỗi người.

Dumagdier là một nhà xã hội học Pháp đã từng nói về triển vọng của xã hội hậu công nghiệp rằng đây là một " xã hội giải trí", trong đó thời gian lao động được rút ngắn một cách tối thiểu, thời gian rỗi được tăng lên, mối quan tâm của xã hội không phải là làm gì để sống, mà là làm thế nào để giải trí tốt hơn. Cũng giúp như những tiên đoán của C.Mác trong vấn đề này thì trong tương lai một xã hội có lao động không còn là cực nhọc, mà là lao động sáng tạo, lao động mang lại niềm vui và trở thành một hình thức giải trí. Những tiến bộ của khoa học công nghệ vượt bậc ở tương lai giúp năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động ngày càng cao, tạo điều kiện cho con người thoát ly những sự vất vả bằng lao động chân tay, tăng thời gian nghỉ ngơi lên nhiều 20 hơn, từ đó con người sẽ có nhiều hơn các hoạt động giải trí nhằm phát triển nhân cách hài hoà và toàn diện. Vào những thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản, các nhà tư bản có những tham vọng muốn đạt lợi nhuận càng cao càng tốt không quan tâm đến con người khổ sai nên đã thúc ép công nhân gia tăng cường độ làm việc, khiến họ bị suy kiệt cả về sức khỏe lẫn tinh thần.

Do đó mới làm xuất hiện các phong trào đấu tranh của công nhân đòi giảm giờ làm và tăng thời gian nghỉ ngơi, giải trí. Và thành tựu để lại được cho đến ngày hôm nay đó chính là việc giờ hành chính được quy định trên thế giới hiện nay là 8 giờ/ngày nhờ vào cuộc đấu tranh năm 1910 đòi đưa ra thành công luật hưu trí đối với công nhân. Cũng vào thời gian này, quốc tế XHCN phát động cuộc đấu tranh với khẩu hiệu: 8 giờ lao động, 8 giờ nghỉ ngơi và 8 giờ giải trí. Tuy nhiên, trong giờ giải trí, nghỉ ngơi con người lại cần phải quan tâm và chia ra làm những việc tất yếu như: nấu ăn, tắm rửa, săn sóc con cái.

Các công việc trên đã tiêu tốn gần hết một nửa số thời gian còn sót lại của một người, còn lại khoảng 3 - 4 tiếng/ngày gọi là thời gian tự do. Đây mới thực là thời gian dành cho các hoạt động giải trí.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Nguyễn Ngọc Ánh (2022), Thực trạng tham gia các hoạt động giải trí tập thể của công nhân lao động khu công nghiệp Đồng Văn tỉnh Hà Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội.
APA 7
Nguyễn, N. Á. (2022). Thực trạng tham gia các hoạt động giải trí tập thể của công nhân lao động khu công nghiệp Đồng Văn tỉnh Hà Nam hiện nay [Luận văn thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/thuc-trang-tham-gia-cac-hoat-dong-giai-tri-tap-the-cua-cong-nhan-lao-dong-khu-cong-nghiep-dong-van-tinh-ha-nam-hien-nay/9535648887
IEEE
N. Á. Nguyễn, "Thực trạng tham gia các hoạt động giải trí tập thể của công nhân lao động khu công nghiệp Đồng Văn tỉnh Hà Nam hiện nay," Luận văn thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội, 2022. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/thuc-trang-tham-gia-cac-hoat-dong-giai-tri-tap-the-cua-cong-nhan-lao-dong-khu-cong-nghiep-dong-van-tinh-ha-nam-hien-nay/9535648887

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác