Chương 1: Khai quát vé giải quyết tranh chấp lao động cá nhân và pháp Tuật quyết tranh chấp lao động cá nhân. Chương 2: Thực trang quy định pháp luật v giải quyết tranh chấp lao động cá nhân vả thực tiễn thực hiện tại tinh Bắc Ninh. Chương3: Một số kiên nghỉ thực ti vé gi quyết tranh chp lao đồng cá nhân ‘va nông cao hiệu quả thực hiện tại tỉnh Bắc Ninh theo Bộ luật Lao động năm 2019 CHƯƠNG L KHÁI QUÁT VE GIẢI QUYẾT TRANH CHAP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN VA PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHAP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN. về tranh chấp lao động cá nhân và giải quyết tranh chấp lao nvé tranh: chip lao động cá nhân: “Trong nên kinh tế thị trường, sức lao đồng là hàng hứa, quan hệ giữa NLD và NSDLĐ là quan hệ trao đổi sử dụng giá tr sức lao đồng.
Trong mối quan hệ nay, NLD dem sức lao động của minh lâm việc cho NSDLĐ và phải tuân theo sự quân lý, điểu hành của NSDLĐ thông qua việc thuê mướn, sử dụng lao động nhằm thu hút được những giá trí mới lớn hơn ~ đó chính là lợi nhuên. Theo đó, mục tiêu đạt được lợi ích tối đa luôn là động lực trực tiếp của các bén nên giữa họ khó có thể thông nhất được các quyển và nghĩa vu trong qua trình thực hiện QHLĐ. Những lợi ích đối lập này giữa NLB và NSDLĐ sé trở thành mâu thuẫn, ‘at đồng nêu hai bên không dung hòa được quyển lợi của nhau, lợi ich tối đa ma "hai bên mong muôn. 'Từ những mâu thuẫn von co, diễn biển qua trình thực hiện QHLĐ theo xu.
hướng trên, tất yêu xy ra xung đột giữa NLD va NSDLD. Tuy nhiền, xung đột mới chỉ biểu hiện một mặt nảo đó của QHLĐ, mâu thuẫn đó chỉ là sự phản ứng. tức thời, chưa thể hiện rõ nét mục đích của chủ thé. Ở dạng mâu thuẫn nay, trong.
nhiên trường hợp di các bên không chủ đồng giãi quyết nhưng xung đột cũng có thể mắt đi. Chỉ khi mâu thuẫn, xung đột đạt đến một mức độ nhất định, được tiểu hiện bằng một hình thức cụ thé thi mới xuất hiện tranh chấp. "bên trong quan hệ tranh chấp sẽ thể hiện sw bat đông của mình với bên kia bằng hành vi xử sự cụ thể, hảnh vi đó có thể là sự phản đổi (lời nói hoặc văn bản), bằng yên cầu đổi với bên kia, bang việc khiêu nai, hoäc yêu cầu chủ thể thứ ba hỗ trợ, can thiệp vào vụ tranh chấp. Do đó, TCLĐ xảy ra là điều dé nhân thay, là sản phẩm tat yêu của QHLD.
lao động luôn lả van dé ma mỗi quốc gia, mỗi thể chế Nha nước đều có sự quan tâm đặc biệt nhằm mục đích hướng tới sự én định QHLĐ. Tuy nhí , ở mỗi quốc gia khác nhau, quan niệm về TCLĐ cũng khác nhau. Ví dụ: Tại Úc, tranh chấp lao động (Industrial dispute/Labour dispute) được Ủy ‘ban quan hệ lao động xác định la: “Bat dau giữa NSDLĐ va NLD. Các van dé TCLĐ thường gấp là tiên lương, điều kiện làm việc, an toàn vệ sinh lao động, sa thải bat công hoặc các van để mối trường”.
Luật điều chỉnh Công đoàn và quan hệ lao động của Han Quốc, năm 1997, tại Điều 2 quy định về TCLĐ là: "Để chỉ bắt kỳ tranh cất hay khác biệt nẫy sinh từ sự bắt đồng ý kiến giữa công đoàn và NSDLĐ hay hiệp hội sử dung lao động liên quan tới việc xác định các điều khoản hay diéu kiện tuyển dung lao động. như tiển lương, gi làm, phúc lợi, sa thải, đổi xử khác. Trong trường hợp nay, “bất đồng y kiến” được hiểu la các tình huống ma các bên không thé đi đến. thống nhất cho di họ có tiếp tục cổ gắng để đạt được théa thuận".
Tuy theo điển kiến, hoàn cảnh và quan niềm của mỗi quốc gia mã có những cách phân loại TCLĐ khác nhau vả có thể không phân ra thánh từng loại TCL Cụ thể như trong Luật lao động một số nước như Anh, Pháp phân loại TCLD dựa vào số lượng người tham gia tranh chấp, được chia thành TCLĐ cá nhân và TCLD tập thể, Cách phân loại này còn một số chuyên gia chưa đồng tinh vi cho rang chỉ dựa vào số lượng người tham gia thi chưa làm rổ hết bản chất của từng. loai TCLĐ, cũng như dẫn đền sự hing túng trong việc áp dung trình tu, thủ tục, xác định cơ quan có thẩm quyên giải quyết TCLĐ. Luật vé quan hệ công nghiệp 1967 của Malaysia lại phân loại TCLĐ thinh TCLĐ vé quyền và TCLĐ vé lợi ích Cũng ban về phân loại TCLĐ, một số chuyền gia pháp luật khác như ở Pháp lai đưa ra hai cách phân biết khác với những cách trên, cách thứ nhất là phân biết tranh chấp thuộc pháp luật là tranh chấp vẻ việc thực hiện các quy đính của pháp ˆ Ngyễn Trị Thanh Lom C016), Gai qyét rah dip ho đồng cá hữu ti in vì tax tn hinh gi toh niên din hinh hổ Hi Mộ, Luận vin Tac sf Tuậthọc, Viện Hin lim oe hae xã hội VietNam. =——— luật lao đồng va tranh chấp không thuộc pháp luật là tranh chấp vẻ những vẫn để ‘ma pháp luật lao đồng không quy định, cách thứ bai là phân biệt giữa tranh chấp thuộc thẩm quyên la tranh chấp có thé do cấp thẩm quyên phân xử và tranh chấp 'không thuộc thẩm quyền là tranh chấp có thể giải quyết bang thương lượng giữa "hai bên tranh chấp cho đến khi đạt được thoả thuận” Nhìn chung, héu hết các quốc gia déu phân chia TCLD căn cứ vào yêu tổ chủ thể gồm TCLĐ cá nhân và TCLĐ tập thé.
Tại Việt Nam thi TCLĐ gồm: TCLD giữa NLD/nhém NLD với NSDLĐ va TCLD tập thé giữa tập thé lao. động với NSDLĐ. Trong đó, TCLĐ cá nhân mang tinh chất đơn giền, quy mô nhỏ nhưng thực tế đây 14 loại tranh chấp phé biến, dé xảy ra và chiếm đa số trong các TCLĐ những năm gin đây, thường phát sinh với tỷ lê cao. Theo quy định pháp luật lao động Việt Nam, néu hiểu theo quy định tại BLLĐ năm 20123, “tranh chấp lao động cả nhân giữa NLD với NSDLĐ” khải niệm TCLĐ cả nhân.
còn khá đơn giản, thâm chí là không bao ham hết được moi trường hop ma BLLĐ coi là TCLD cá nhân. Đặc biệt, việc xác định TCLĐ nào thuộc TCLĐ cá nhân là rat quan trong "Tóm lại, từ những phân tích nêu trên, về cơ bản, TCLĐ cá nhân cẩn được hiểu như sau: Tranh chấp lao động cá nhân là những tranh chấp, mâu thuẫn, xung đột về quyển, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa NLD và NSDLD về các vấn dé trong QHLĐ hoặc quan hệ có liên quan đến QHLĐ biểu hiện bằng một hình thức pháp lý. Quy định vẻ TCLĐ và TCLĐ cá nhân ở mỗi quốc gia được ‘biéu hiện khác nhau, tuy nhiên, vẻ bản chat, nhận thay TCLĐ cả nhân la một loại TCLD nên nó mang những đặc điểm của TCLĐ nói chung Bên canh đó, TLĐ cá nhân có những đặc điểm riếng như sau Thứ nhất, về mặt chi thé: Tranh chap lao động cá nhân thường là tranh chấp giữa cá nhân NLD với NSDLĐ. Tuy nhiên, tai Việt Nam, trong một số trường hợp YR Th Tn Bà C009), So săn: piệp hut it và Dang Qude về giã quất ra chấp lao động “nh Tie of Lut hocKhoa Liệt Đạthọc Quốc ga HANG tr 1-12 hon 7 Điệu oa BLLD nin 2012 TCLD cá nhân không chỉ la tranh chấp giữa một NLD cụ thể với NSDLĐ mà còn có thể phát sinh giữa một nhỏm NLD với NSDLD.
Ở nước ta, chưa có quy định cu thể, rõ ràng để xác định số lượng của nhóm người trong TCLĐ cá nhân để phân biệt với tập thể NLD. Nhưng thông thường, nhóm NLD trong TCLĐ cá nhân được hiểu chi 14 một số NLD chứ không phải toản bô NLB bay không phải quá nửa NLB ‘rong một đơn vị sử dụng lao đồng hoặc trong mét bộ phận cơ cầu của đơn vi. Việc xác định số lượng người tham gia vào vụ tranh chấp 1a hết sức quan trong và cần thiết. Trong một sé trường hop, mặc dù chỉ có sự xuất hiện của một NLD đại điện cho tập thé lao động nhưng cũng không thể căn cứ vào sự tham gia của một NLD đó để khẳng định đây là TCLĐ cá nhân vả ngược lại, khi một vu ‘TCLD xảy ra, có nhiêu NLD tham gia thì không thể căn cứ vào số lượng người tham gia do để kết luận đây la TCLĐ tập thể.
Số lương người tham gia chỉ la một trong cắc dẫu hiệu cơ bản, nó chỉ có ý nghĩa khi phù hợp với muc đích của người tham gia vụ TCLĐ dé, Nếu trong một vụ TCLĐ có đông NLD tham gia ‘mi mỗi người chỉ quan tâm đến quyên lợi của bản thân minh thi đó là TCLD cá nhân, còn nếu tắt cả moi người tham gia vụ tranh chấp đó quan tâm đến quyền. lợi của nhau thì đó là TCLĐ tập thé Việc sác định đúng loại TCLĐ có ý nghĩa quan trọng giúp cho việc giải quyết TCLĐ được đúng thấm quyền và đúng trình tự, thủ tục luật định. Thứ hat, về mặt nội dung: Nội dung của TCLD cả nhân chỉ liên quan đến quyến, nghĩa vụ và loi ich hợp pháp của một cá nhân lao động va trong một số trường hợp là của một nhóm NLD với NSDLĐ, nảy sinh trên cơ si của HBLD hoặc hợp đồng học nghề nhưng không phải lả tập thể, không phải 1a lợi ích. chung của cả tập thé NLD.
Trong các lnh vực dân sự, thương mai. tranh chấp chi phát sinh khi có sự vi pham nghĩa vụ của một bên (vi phạm các điều khoăn đã cam kết trong hợp đồng hoặc vi pham quy định của pháp lust). Trong lĩnh vực lao động, TCLĐ cá nhân cũng không là ngoại 1é với nguyên tắc chung 46. Điển này có thể được lý giải xuất phát từ bản chất của QHLĐ va cơ chế điểu chỉnh.
10 của pháp luật lao động. QHLĐ trong cơ chế thi trường thực chất là quan hệ mua ‘ban sức lao động giữa NLĐ và NSDLĐ. Quan hệ “mua — bán” nảy được sác lập theo nguyên tắc tự do thương lượng và thỏa thuận trên cơ sở quy định khung của pháp luật Nhìn chung, các TCLĐ cá nhân thường phát sinh vẻ những vẫn để ma pháp luật quy định cho các biên được hưởng hay phải thực hiện hoặc những vấn để mà các bên thôa thuên từ trước trong HĐLĐ, hop đồng học nghề như tiến lương, thời gian làm việc,. liên quan đến các chế độ đất ngô và phúc lợi như: tiên lương, chế đô, môi trường làm việc, hiệu suất hay chế đô bảo hiểm, phúc lợi xã hội,.