Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÀ CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG. Khái niệm Hợp đồng lao động: Nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải có một môi trường pháp lý đảm bảo sự tự do kinh doanh của tất cả các chủ thể sản xuất - kinh doanh, cũng như sự “lùi bước” và “nhường bước” của quyền lực công trước nguyên tắc tự do kinh doanh của các loại hình doanh nghiệp. Song sự “lùi bước” hay “nhường bước” của quyền lực công không có nghĩa là “để mặc” cho thị trường tự do cạnh tranh. Đó không phải là một nền kinh tế thị trường mà Nhà nước ta muốn hướng tới.
Tai Đại hội VII, Dang ta đã quán triệt tư tưởng chủ đạo: “ Tiếp tục thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách kinh tế nhiều thành phần, phát huy nguồn lực để phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời hoàn thiện cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [18, tr. Như vậy có thể khẳng định rằng, Đảng và Nhà nước ta đã dứt khoát từ bỏ cơ chế bao cấp, chuyển sang cơ chế kinh tế mới, cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước nhằm giải phóng và phát huy mọi tiềm năng lao động sản xuất trong xã hội. Chúng ta sự mua bán sức lao động là hiện tượng khách quan của thị trường, song cũng khẳng định: “Thừa nhận sự tồn tại lâu dài của các hình thức thuê mướn lao động nhưng không để biến thành quan hệ thống tri, dẫn đến sự phân hoá xã hội thành hai thái cực đối lập” [18, tr. Trong nền kinh tế thị trường sức lao động được coi là hàng hoá, nên người lao động (NLD) có quyền sở hữu đối với sức lao động của minh.
Họ có quyền sử dụng sức lao động vào bất cứ việc gì, cho bất kỳ ai và ở bất kỳ nơi nào mà luật không cấm để có thu nhập bảo đảm cho cuộc sống cho bản thân gia đình. Tuy nhiên khi tham gia quan hệ họ thường bi coi là kẻ yếu vi họ chỉ có duy nhất một thứ tài sản: đó là sức lao động để mang trao đổi. Song bao giờ họ cũng muốn bán sức lao động với giá cao nhất, được làm việc ổn định lâu dài, được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khoẻ và kinh tế ở cả trong cũng như sau khi chấm dứt quan hệ lao động. Với tư cách là người sử dụng lao động (NSDLD) các chủ doanh nghiệp và cá nhân có quyền lựa chọn lao động phù hợp với yêu cầu của mình, bởi vì khi họ bỏ vốn, tài sản vào kinh doanh thì mục tiêu cao nhất của họ là lợi nhuận, vì vậy họ sẽ tìm mọi cách để hạ thấp chi phí kinh doanh đến mức thấp nhất trong đó có tiền lương và điều kiện làm việc của NLĐ.
Do đó ở đây đã tồn tại một mâu thuẫn nội tại giữa hai chủ thể khi tham gia quan hệ lao động. Tuy nhiên, sức lao động không chỉ có ý nghĩa với các bên trong quan hệ mà nó còn là một trong những yếu tố quan trọng tạo cơ sở phát triển nên kinh tế quốc dân. Vì vậy vấn đề trao đổi, mua bán sức lao động không chỉ còn là vấn đề giữa kẻ mua, người bán nữa mà còn là vấn đề được đặt trong mối tương quan chung của xã hội. Với những yêu cầu và đòi hỏi trên đây, để thị trường lao động vân động, phát triển một cách bình thường và ổn định đồng thời đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi tham gia quan hệ lao động nhất thiết phải có một hình thức pháp lý phù hợp tạo ra cơ sở để các bên thiết lập quan hệ lao động.
Hình thức pháp lý này phải đáp ứng được những yêu cầu khách quan của quan hệ lao động trong thị trường, đó là sự trao đổi trên cơ sở tự do, tự nguyện và bình đẳng. Tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đồng thời duy trì một cách ổn định, hài hoà quan hệ giữa các bên. Đặt lợi ích của các bên trong lợi ích chung của xã hội. Ngoài ra hình thức pháp lý này còn giúp Nhà nước quản lý, tổ chức và điều tiết lao động trên phạm vi cả nước.
Hình thức pháp ly đó chính là hợp đồng lao động (HĐLDĐ). Xét về phương diện lịch sử, luật Lao động ra đời tương đối muộn so với các ngành luật khác. Trước đó các vấn đề liên quan đến lao động chủ yếu được điều chỉnh bằng các qui định của luật Dân sự. Ngay từ thời kỳ đầu của nước Việt nam non trẻ khi cách mạng tháng Tám với thành công ngày 12/03/1947 Chính phủ đã ra sắc lệnh số 29/SL quy định về chế độ lao động, trong đó có han một chương “ Khế ước làm công” ( chương II) Điều 18, sắc lệnh 29 quy định “ Khế ước làm công phải tuân theo Dân luật”.
Tiếp theo đó sắc lệnh số 77/SL ngày 22/5/1950 có quy định về “Công nhân tuyển dụng theo giao kèo” ( chương VIID. Với các qui định của hai Sắc lệnh trên cho thấy: trách nhiệm bảo đảm duy trì quan hệ lao động hợp pháp không chỉ là trách nhiệm riêng có của người chủ và người thợ trực tiếp tham gia quan hệ lao động mà còn là trách nhiệm của một chủ thể thứ ba có tư cách là người có nhu cầu thuê mướn lao động. Nhìn chung những qui định này cho thấy tư tưởng tiến bộ vượt bậc của Nhà nước ta so với Nhà nước Phong kiến trước kia. Chế độ HĐLĐ đã được thừa nhận trong thực tế song không có một khái niệm chính thức nào về HDLD được qui định.
Các quy định về thuê mướn lao động theo hai sắc lệnh này chịu ảnh hưởng rất lớn của Luật dân sự. Sau khi Chính phủ nước ta ký kết Hiệp định Giơ- Ne- Vơ năm 1954, Miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, Miền Nam đấu tranh thống nhất nước nhà, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng hơn đến vấn đề lao động do những đòi hỏi khách quan của công cuộc xây dựng đất nước, HĐLĐ đã bắt đầu được định nghĩa về mặt pháp lý Thông tư số 21/LD - TT ngày 8/11/1961 của Bộ lao động quy định chi tiết hướng dẫn việc tuyển dụng nhân công làm việc tạm thời và việc ký kết HĐLĐ giữa đơn vị sử dụng và nhân công. Thông tư này có đưa ra khái niệm HDLD như sau: “HDLD là sự thoả thuận trên nguyên tắc tự nguyện giữa don vi sử dụng và tập thể hoặc cá nhân người làm công. Một bên là tập thể hoặc cá nhân làm công, cam kết hoàn thành công việc do đơn vị sử dụng giao cho và được hưởng các chế độ quyền lợi theo công việc mình làm.
Một bên là đơn vị sử dụng cam kết bao dam thi hành đúng các chế độ lao động hiện hành cho người di làm công và tạo mọi điều kiện cho người di làm công có thể hoàn thành tốt nhiệm vu”. Pháp lệnh HDLD được Hội đồng nhà nước ban hành ngày 30/8/1990, khái niệm về HDLD được quy định tại Điều 1 Pháp lệnh như sau: “HDLD là sự thoả thuận giữa người lao động với người sử dụng, thuê mướn lao động ( gọi chung là NSDLD), về việc làm có trả công, mà hai bên cam kết với nhau về điều kiện sử dụng lao động và điều kiện lao động, về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động” [19, tr. Các định nghĩa về HDLD trong giai đoạn này chưa có tính khái quát cao, các qui định thường có tính chất liệt kê các dấu hiệu và nội dung của HDLD. Điều nay một mặt do trong thực tế HDLD hầu như không được thực hiện, bởi nó hầu như không có cơ sở kinh tế để tồn tại hay nói cách khác đời sống kinh tế, xã hội không có nhu cầu về loại quan hệ này.
Các quan hệ lao động trong giai đoạn này chủ yếu dưới dạng tuyển dụng vào biên chế Nhà nước. Mặt khác, nó thể hiện sự hạn chế về khoa học luật Lao động cũng như kỹ thuật lập pháp lúc bấy giờ, đồng thời cũng thể hiện sự chưa định hình rõ ràng của quan hệ lao động làm công ăn lương trong điều kiện mô hình nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Nói chung quan niệm về HĐLĐ trong thời kỳ này còn giản đơn, chưa phan ánh được những dấu hiệu pháp lý có tính khái quát của HDLD. Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VI năm 1986 nước ta chuyển mô hình từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang mô hình nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa.
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân được thành lập ngày càng nhiều, dẫn đến nhu cầu tuyển dụng lao động rất lớn, hình thức tuyển dụng lao động vào biên chế Nhà nước không còn phù hợp nữa, hình thức tuyển dung lao động qua HDLD trở nên phổ biến và cần thiết. Trên cơ sở đúc rút kinh nghiệm xây dựng và thực hiện pháp luật HĐLĐ ở nước ta qua các thời kỳ cũng như những đòi hỏi bức thiết của đời sống xã hội cần phải có hệ thống pháp luật Lao động đầy đủ và hoàn chỉnh Ngày 23/6/1994 Bộ luật lao động được Quốc hội nước ta thông qua và có hiệu lực từ ngày 1/1/1995. Khái niệm HDLD được quy định tại Điều 26: “ HDLD là sự thoả thuận giữa người lao động và người SDLĐ về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của môi bên trong quan hệ lao động)”. Định nghĩa trên đã thể hiện được ba vấn đề: bản chất, chủ thể và nội dung của HDLD.
Về ban chất, HDLD luôn thể hiện được cái cốt lõi tinh thần bên trong của mọi loại hợp đồng đó là sự thoả thuận của các bên chủ thể. Nhưng HĐLĐ lại được phân biệt với các loại hợp đồng khác bởi khía cạnh chủ thể và nội dung của nó. Chủ thể của HDLD không phải là bất kỳ ai mà chỉ có thể là NLD và NSDLD ( NSDLĐ là người nắm giữ tư liệu sản xuất và có nhu cầu sử dụng sức lao động, NLD là người chủ sở hữu sức lao động đồng thời có nhu cầu bán sức lao động). Hai chủ thể thoả thuận với nhau về một công việc - đối tượng của HDLD, theo đó NLD có nghĩa vụ thực hiện công việc đã thoả thuận và được hưởng tiền công từ việc thực hiện nghĩa vụ đó.