Chương I Thiên I Quyển thứ nhất BLTTDS của Cộng hòa Pháp ghi nhận “Các tình tiết cụ thể làm căn cứ cho các yêu cầu của mình” hay “Các đương sự có nghĩa vụ chứng minh theo luật định các tình tiết cần thiết làm căn cứ cho yêu cầu của mình”10. Trong khoa học pháp lý, chưa có định nghĩa rõ ràng về thu thập chứng cứ. Có quan điểm cho rằng thu thập chứng cứ là hoạt động góp nhặt, thu giữ chứng cứ và là một phần của hoạt động điều tra. Do đó, trong một chừng mực, thu thập chứng cứ trong các lĩnh vực tố tụng có cùng bản chất.
Ngoài ra, khoa học pháp lý của Liên Xô cũ cho rằng: Hoạt động điều tra là hoạt động tố tụng nhằm thu thập, củng cố và kiểm tra chứng cứ11. Quan điểm này xác định rõ điều tra là hoạt động thu thập chứng cứ nhưng bỏ qua phương pháp thực hiện nên có thể hiểu điều tra là hoạt động thu thập những chứng cứ có sẵn, tồn tại trước khi thực hiện cuộc điều 6 Trung tâm từ điển học và NXB Giáo dục (1994), Từ điển Tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. 7 Vư – sin – xki, Lý luận về chứng cứ tư pháp trong pháp luật Xô Viết, Phòng tuyên truyền – Tập san Tòa án nhân dân tối cao 1967, dịch theo bản tiếng Nga, tr. 8 Vư – sin -xki, sđd 7, tr.8 9 Nguyễn Ngọc Khánh biên dịch (2005), Bộ luật tố tụng dân sự 2003 của Liên bang Nga, NXB Tư pháp, Hà Nội.
10 Nhà pháp luật Việt – Pháp (1998), Bộ luật tố tụng dân sự của Cộng hòa Pháp, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.vn/hcmulaw/index.php?view=article&catid=109%3Actc20073&id=308%3Abcch tttths&tmpl=component&print=1&page=&option=com_content&Itemid=110 10 tra. Quan điểm này chưa đề cập đến chủ thể của hoạt động điều tra và có thể coi chứng cứ là cái có trước khi thực hiện các hoạt động điều tra, khác hẳn việc thực hiện hoạt động điều tra mang tính sáng tạo của chủ thể. Cũng có quan điểm cho rằng thu thập chứng cứ là mục đích của hoạt động điều tra. Nó xuất phát từ việc phát hiện, củng cố, thu giữ, bảo quản các thông tin thực tế trong hoạt động tố tụng12.
Quan điểm này phân biệt giữa khách thể của hoạt động điều tra với kết quả thu nhận được nhưng chưa thể hiện được nội dung của hoạt động nhận thức nhằm chuyển hóa thông tin trong quá trình thu thập chứng cứ. Một quan điểm khác thì nhận định: “Thu thập chứng cứ là một thể thống nhất bao gồm các hoạt động phát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ”13. Tuy nhiên cách nhìn nhận này chưa phản ánh hết đặc trưng của thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự. Thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự không chỉ đơn thuần là việc phát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ; sự đặc biệt về chủ thể, về cách thức thực hiện cũng là những nhân tố góp phần tạo nên đặc trưng riêng của hoạt động này.
Trước đây trong pháp luật Việt Nam, các lĩnh vực tố tụng dân sự, tố tụng hình sự, tố tụng kinh tế, tố tụng lao động đều sử dụng thuật ngữ “điều tra” trong quá trình chứng minh. PLTTGQCVADS, PLTTGQCVAKT và PLTTGQCTCLĐ quy định “điều tra, thu thập chứng cứ” là một giai đoạn trong thủ tục tố tụng. BLTTDS không đề cập thủ tục điều tra mà chỉ quy định hành vi thu thập chứng cứ, nghĩa vụ thu thập và cung cấp chứng cứ. Sự thay đổi thuật ngữ “điều tra” thành “thu thập chứng cứ” trong BLTTDS là bước tiến trong tư duy làm luật nhằm phân định hai lĩnh vực hình sự và phi hình sự.
Mặt khác, đây là sự cụ thể hóa nguyên tắc nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của đương sự - một đặc thù của tố tụng dân sự - điểm khác về cơ bản so với tố tụng hình sự khi mà trách nhiệm điều tra, thu thập chứng cứ để tìm ra sự thật của vụ án thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng. Ngoài ra, điều này cũng phân biệt giữa thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự và điều tra trong tố tụng hình sự khác nhau về cách thức, phương pháp và các biện pháp thực hiện. Trên cơ sở những phân tích trên, thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự có thể được định nghĩa như sau: 12 http://www.vn/hcmulaw/index.php?view=article&catid=109%3Actc20073&id=308%3Abcch tttths&tmpl=component&print=1&page=&option=com_content&Itemid=110 13 Đỗ Văn Đương (2006), “Nguyên tắc thu thập, đánh giá chứng cứ trong tố tụng hình sự Việt Nam”, Kiểm sát (4), tr. 11 Thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự là hành vi của các chủ thể chứng minh bao gồm phát hiện, thu giữ, tập hợp, tổng hợp, phân loại, bảo quản và cung cấp các chứng cứ theo một trình tự mà pháp luật quy định, là cơ sở cho việc củng cố và đánh giá chứng cứ của Tòa án khi giải quyết các tranh chấp dân sự.3 Định nghĩa thu thập chứng cứ trong giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án Quan hệ lao động là loại quan hệ mà sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia không thể hiện rõ nét như các quan hệ dân sự khác.
Đặc điểm này xuất phát từ mối quan hệ phụ thuộc giữa người sử dụng lao động với người lao động; Ngoài ra mối quan hệ khác như giữa người lao động với tổ chức Công đoàn, giữa người sử dụng với Bảo hiểm xã hội, quan hệ về việc làm và học nghề…cũng có những đặc trưng riêng biệt. Các TCLĐ là tranh chấp phát sinh trong quan hệ lao động. Quá trình giải quyết các TCLĐ làm phát sinh mối quan hệ giữa các bên tranh chấp và các cơ quan hoặc tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp gọi là các quan hệ và giải quyết tranh chấp lao động 14. Chính vì thế, khi giải quyết các TCLĐ cần chú ý đến sự khác biệt này để đạt được hiệu quả.
Giải quyết TCLĐ tại Tòa án là một trong những biện pháp giải quyết tranh chấp có sự tham gia của cơ quan tài phán. Trong đó, Tòa án với tư cách trung gian, đưa ra phán quyết để ổn định các mối quan hệ giữa người lao động, người sử dụng lao động và các đối tượng khác trên cơ sở các quy định của pháp luật. Để có được những quyết định đúng đắn, Tòa án cần dựa trên các chứng cứ mà các đương sự xuất trình, đồng thời cũng phải thu thập các chứng cứ khác làm căn cứ giải quyết vụ án. Về mặt lí luận, thu thập chứng cứ trong giải quyết TCLĐ tại Tòa án là việc các chủ thể có quyền, nghĩa vụ thu thập các căn cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình, trên cơ sở đó Tòa án giải quyết sự mâu thuẫn về quyền, lợi ích giữa các chủ thể tham gia trong quan hệ lao động.
TCLĐ có hai loại: TCLĐ cá nhân và TCLĐ tập thể. Tuy nhiên, sự nhầm lẫn giữa TCLĐ tập thể và thuật ngữ pháp lý khác khiến khái niệm về TCLĐ chưa thống nhất. Từ đó việc xác định chủ thể, phân định thẩm quyền thu thập chứng cứ thiếu nhất quán. Cụ thể: Có quan điểm đồng nhất TCLĐ với đình công vì cho rằng đình công là một dạng hay là sự biến tướng của TCLĐ, thậm chí giải thích đình công là phương 14 Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Khoa Luật (1999), Giáo trình Luật Lao động, tr.
12 thức giải quyết tranh chấp lao động15. Quan điểm này lí giải PLTTGQCTCLĐ đã quy định thủ tục giải quyết đình công nên đình công là TCLĐ và việc giải quyết các TCLĐ bao gồm cả giải quyết về đình công. Cách hiểu như trên chưa đầy đủ, thậm chí nếu đồng nhất hai khái niệm “đình công” với “tranh chấp lao động” là một sai lầm. Bởi lẽ, đình công là một trong những quyền cơ bản của người lao động, là sự ngừng việc của tập thể người lao động để đòi người sử dụng lao động thực hiện đúng các nghĩa vụ theo pháp luật.
Còn TCLĐ là những mâu thuẫn, bất đồng trong quan hệ lao động. Đã là một quyền luật định thì không thể xem đó là tranh chấp, mặc dù quyền này được thực hiện khi có tranh chấp xảy ra. Quan điểm thứ hai cho rằng: Đình công là một quyền cơ bản của người lao động do pháp luật quy định nên nhà nước có quyền kiểm soát và xác định tính chất pháp lý của việc sử dụng quyền đình công đó. Bản chất pháp lý của việc giải quyết đình công là nhà nước xác định tính hợp pháp hay bất hợp pháp của cuộc đình công chứ không phải là giải quyết xung đột.
Do đó, thủ tục quyết định tính hợp pháp của cuộc đình công là sự tiếp nối việc quy định quyền đình công của người lao động mà thôi. Chính vì vậy, đình công không phải là TCLĐ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, không chịu sự điều chỉnh của pháp luật tố tụng dân sự 16. Quan điểm này phân biệt được đình công và TCLĐ tập thể, tuy nhiên nhận định cho rằng “Bản chất pháp lý của việc giải quyết đình công là nhà nước xác định tính hợp pháp hay bất hợp pháp của cuộc đình công chứ không phải là giải quyết xung đột” và “đình công không phải là tranh chấp lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, không chịu sự điều chỉnh của pháp luật tố tụng dân sự” là chưa đầy đủ. Bởi lẽ vấn đề có tính mấu chốt khi giải quyết đình công là xét tính hợp pháp của cuộc đình công, nhưng đây không phải là vấn đề duy nhất được xem xét khi giải quyết đình công.
Khái niệm “giải quyết đình công” thường được hiểu theo nghĩa rộng hơn, bao gồm cả hoạt động xét tính hợp pháp của nó, giải quyết nguyên nhân, hậu quả của cuộc đình công. Giải quyết đình công là hoạt động được tiến hành nhằm dàn xếp những bất ổn do đình công gây ra, tiến tới chấm dứt đình công, tiếp tục thực hiện quan hệ lao động. Quá trình này có thể do các bên tự thương lượng thỏa thuận, có thể do bên thứ ba là trung gian giải quyết hoặc phán quyết về tính hợp pháp của đình công17. Khi có sự can thiệp của Nhà nước, thông qua Tòa án 15 Lưu Bình Nhưỡng (2005), “Dự thảo pháp lệnh thủ tục giải quyết các cuộc đình công”, Nghiên cứu lập pháp (59), tr.
16 Lưu Bình Nhưỡng, tlđd 15, tr. 17 Đỗ Ngân Bình (2005), “Một số vấn đề về giải quyết đình công trong điều kiện hiện nay tại Việt Nam”, Nhà nước và Pháp luật (7), tr. 13 giải quyết đình công, xem xét tính hợp pháp của đình công – tức là một phần trong giải quyết đình công được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tóm lại, TCLĐ tập thể, đình công là hai khái niệm khác nhau.