Chương 1. Tổng quan về nghiên cứu. Tác giả tập trung giới thiệu lý do hình thành đề tài, mục tiêu của nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, và kết cấu của đề tài. Tổng quan cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu đi trước.
Chương này tác giả trình bày khái quát những lý thuyết liên quan về đình công tự phát, các học thuyết về thương lượng, tính tự phát trong hoạt động phản kháng, mô hình xã hội học.Từ đây, tác giả đưa ra các giả thuyết cũng như mô hình nghiên cứu đề xuất dựa trên các học thuyết và các nghiên cứu đi trước. Phương pháp nghiên cứu. Chương này tác giả sẽ tập trung trình bày phương pháp thu thập dữ liệu, xử lý dữ liệu và kiểm định các thang đo trong mô hình nghiên cứu thông qua hệ số tin cậy Cronbach's Alpha, EFA. Từ đó, sử dụng mô hình Binary Probit để ước lượng và dự đoán khả năng xảy ra quyết định đình công tự phát tại các khu chế xuất và công nghiệp trên địa bàn TP.
Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu. Chương này tác giả sẽ phân tích kết quả nghiên cứu cũng như tính toán khả năng xảy ra quyết định đình công tự phát dựa trên số liệu thu thập được. Kết luận và khuyến nghị chính sách.
Dựa vào kết quả nghiên cứu trong chương 4, tác giả sẽ đưa ra kiến nghị và một số giải pháp giúp các doanh nghiệp đã và đang hoạt tại các khu chế xuất và công nghiệp cũng như các doanh nghiệp đang có ý định tham gia những phương hướng để hạn chế tối đa khả năng xảy ra quyết định đình công tự phát, đồng thời đưa ra hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài. 7 Chương 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU ĐI TRƯỚC 2.1 Khái niệm về đình công Theo Bộ Luật Lao động 2012 định nghĩa "Đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của tập thể lao động nhằm đạt được yêu cầu trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động". Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) định nghĩa "Đình công là việc tạm dừng công việc được thực hiện bởi một hoặc nhiều nhóm người lao động nhằm thực thi hoặc đòi hỏi hoặc bày tỏ bất bình hoặc hỗ trợ các người lao động khác trong nhu cầu hoặc bất bình của họ”. Phân loại đình công Đình công hợp pháp: Theo Điều 210, 211, 212, 213 của Bộ Luật Lao động 2012 quy định một cuộc đình công là hợp pháp khi các điều kiện sau được đáp ứng: Chủ thể lãnh đạo đình công: Ở nơi có tổ chức công đoàn cơ sở thì đình công phải do Ban chấp hành công đoàn cơ sở tổ chức và lãnh đạo.
Ở nơi chưa có tổ chức công đoàn cơ sở thì đình công tự phát do tổ chức công đoàn cấp trên tổ chức và lãnh đạo theo đề nghị của người lao động. Nội dung đình công: Các tranh chấp lao động tập thể về lợi ích và sau thời hạn quy định tại khoản 3 Điều 206 của Bộ Luật Lao động 2012. Trình tự đình công gồm có các bước sau: 1. Lấy ý kiến tập thể lao động: Khi có trên 50% số người được lấy ý kiến đồng ý với phương án của Ban chấp hành công đoàn đưa ra thì Ban chấp hành công đoàn ra quyết định đình công bằng văn bản.
Ra quyết định đình công: Ra quyết định đình công phải có các nội dung sau đây: 8 a) Kết quả lấy ý kiến đình công; b) Thời điểm bắt đầu đình công, địa điểm đình công; c) Phạm vi tiến hành đình công; d) Yêu cầu của tập thể lao động; e) Họ tên của người đại diện cho Ban chấp hành công đoàn và địa chỉ liên hệ để giải quyết. Tiến hành đình công: Đến thời điểm bắt đầu đình công, nếu người sử dụng lao động không chấp nhận giải quyết yêu cầu của tập thể lao động thì Ban chấp hành công đoàn tổ chức và lãnh đạo đình công. Đình công bất hợp pháp: Theo Điều 215 của Bộ Luật Lao động 2012 thì những trường hợp sau đây được xem là đình công bất hợp pháp: 1. Không phát sinh từ tranh chấp lao động tập thể về lợi ích; 2.
Tổ chức cho những người lao động không cùng làm việc cho một người sử dụng lao động đình công; 3. Khi vụ việc tranh chấp lao động tập thể chưa được hoặc đang được cơ quan, tổ chức, cá nhân giải quyết theo quy định của bộ luật này; 4. Tiến hành tại doanh nghiệp không được đình công thuộc danh mục do Chính phủ quy định; 5. Khi đã có quyết định hoãn hoặc ngừng đình công.2 Khái niệm về người lao động Theo Điều 3, điều 5 của Bộ Luật Lao động 2012, người lao động là người đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.
Người lao động có các quyền sau đây: a) Làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp và không bị phân biệt đối xử; b) Hưởng lương phù hợp với trình độ kỹ năng nghề trên cơ sở thỏa thuận với người sử dụng lao động; được bảo hộ lao động, làm việc trong điều kiện bảo đảm về an toàn lao 9 động, vệ sinh lao động; nghỉ theo chế độ, nghỉ hàng năm có lương và được hưởng phúc lợi tập thể; c) Thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn, tổ chức nghề nghiệp và tổ chức khác theo quy định của pháp luật; yêu cầu và tham gia đối thoại với người sử dụng lao động, thực hiện quy chế dân chủ và được tham vấn tại nơi làm việc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; tham gia quản lý theo nội quy của người sử dụng lao động; d) Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật; e) Đình công. Người lao động có các nghĩa vụ sau đây: Thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể; Chấp hành kỷ luật lao động, nội quy lao động, tuân theo sự điều hành hợp pháp của người sử dụng lao động; Thực hiện các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và pháp luật về bảo hiểm y tế.3 Quan hệ lao động Theo Điều 7 của Bộ Luật Lao động 2012, quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động và người sử dụng lao động. Quan hệ lao động giữa người lao động hoặc tập thể lao động với người sử dụng lao động được xác lập qua đối thoại, thương lượng, thỏa thuận theo nguyên tắc tự nguyện, thiện chí, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau. Công đoàn, tổ chức đại diện người sử dụng lao động tham gia cùng với cơ quan nhà nước hỗ trợ xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ; giám sát việc thi hành các quy định của pháp luật về lao động; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động.4 Tranh chấp lao động Theo Điều 3 khoản 7 của Bộ Luật Lao động 2012, tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động.
Tranh chấp lao động bao gồm tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động và tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động. 10 Theo Điều 3 mục 8 của Bộ Luật Lao động 2012 tranh chấp lao động tập thể về quyền là tranh chấp giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động phát sinh từ việc giải thích và thực hiện khác nhau quy định của pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động, quy chế và thỏa thuận hợp pháp khác. Theo Điều 3 mục 9 của Bộ Luật Lao động 2012 tranh chấp lao động tập thể về lợi ích là tranh chấp lao động phát sinh từ việc tập thể lao động yêu cầu xác lập các điều kiện lao động mới so với quy định của pháp luật về lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động hoặc các quy chế, thỏa thuận hợp pháp khác trong quá trình thương lượng giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động.5 Đại diện người lao động Đại diện lao động được hiểu là tổ chức được thành lập hợp pháp hoặc người đứng đầu do tập thể lao động bầu ra tham gia vào pháp luật lao động để bảo vệ quyền lợi hợp pháp chính đáng của tập thể lao động. Theo quy định của pháp luật nước Cộng hòa liên bang Đức, các hình thức đại diện của tập thể lao động bao gồm 4 hình thức: - Công đoàn; - Hội đồng xí nghiệp; - Hội đồng giám sát; - Đại diện của nhóm người lao động.
Tuy nhiên, Bộ Luật Lao động 2012 không thừa nhận hình thức đại diện lao động do tập thể lao động cử ra. Theo đó, pháp luật hiện hành chỉ thừa nhận các hình thức đại diện lao động gồm: “Tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở là BCHCĐCS hoặc BCHCĐ cấp trên trực tiếp cơ sở ở nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở”. Hình thức đại diện lao động trong Bộ Luật Lao động 2012 có những đặc trưng cơ bản: - Luôn phát sinh, tồn tại gắn liền với quan hệ lao động. Ở đâu có quan hệ lao động xác lập giữa người lao động và người sử dụng lao động ở đó có hình thức đại diện lao động.
11 - Hình thức này chứa đựng yếu tố tự nguyện. Yếu tố này được xác lập cụ thể “công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, lập ra dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác (sau đây gọi chung là người lao động), cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động” (Điều 1). - Mục đích của hình thức đại diện lao động nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của tập thể lao động.