Chương 1: Những qui định chung của Luật số: 10/2012/QH13 đã được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2012). Quan hệ lao động: 1. Quan hệ lao động giữa người lao động hoặc tập thể lao động với người sử dụng lao động được xác lập qua đối thoại, thương lượng, thoả thuận theo nguyên tắc tự nguyện, thiện chí, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau. Công đoàn, tổ chức đại diện người sử dụng lao động tham gia cùng với cơ quan nhà nước hỗ trợ xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ; giám sát việc thi hành các quy định của pháp luật về lao động; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động.
Vai trò của tổ chức công đoàn trong quan hệ lao động 1. Công đoàn cơ sở thực hiện vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên công đoàn, người lao động; tham gia, thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện thỏa ước lao động tập thể, thang lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao động, quy chế dân chủ ở doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức; tham gia, hỗ trợ giải quyết tranh chấp lao động; đối thoại, hợp tác với người sử dụng lao động xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định, tiến bộ tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức. Quyền của cán bộ công đoàn cơ sở trong quan hệ lao động 1. Gặp người sử dụng lao động để đối thoại, trao đổi, thương lượng về những vấn đề lao động và sử dụng lao động.
Đến các nơi làm việc để gặp gỡ người lao động trong phạm vi trách nhiệm mà mình đại diện. Những nơi 17 chưa thành lập tổ chức công đoàn cơ sở, cán bộ công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở được thực hiện các quyền hạn quy định tại Điều này. Tổng hợp các tài liệu cho thấy, có sự thống nhất trong việc xem xét quan hệ lao động như là một loại quan hệ xã hội. Từ khi chuyển sang xã hội công nghiệp, quan hệ lao động được xem xét như là một loại quan hệ xã hội giữa người lao động và người sử dụng lao động cũng như các tổ chức hữu quan, được hình thành trong quá trình lao động (Thường Khải, 1995).
Quan hệ lao động tập thể Công đoàn Chủ D nghiệp ngp Phía Phía Quan thợ chủ Quan hệ nội hệ lao bộ công động đoàn cá biệt Đoàn viên Công nhân Hình 1.1: Kết cấu quan hệ lao động doanh nghiệp Nguồn: Thường Khải. Giảng nghĩa nghiên cứu quan hệ lao động. Viện nghiên cứu quan hệ lao động. Đại học nhân dân Trung Quốc.
Ở cấp độ doanh nghiệp, quan hệ lao động trước tiên được xem xét như là một loại quan hệ lao động cá biệt. Khi công nhân thành lập công đoàn, quan hệ lao động trong doanh nghiệp sẽ hình thành một loại quan hệ lao động tập thể. Kết cấu quan hệ lao động trong doanh nghiệp được mô hình hóa (xem hình 1. Môi trường của quan hệ lao động là điều kiện xã hội và bối cảnh xã hội cụ thể mà hệ thống quan hệ lao động đang vận hành.
Quan hệ lao động và môi trường xã hội của nó có liên quan trực tiếp đến nhau; tính chất và đặc điểm của quan hệ lao động trực tiếp chịu ảnh hưởng hoặc bị quyết định bởi môi trường xã hội của nó. 18 Môi trường của quan hệ lao động bao gồm môi trường kinh tế, môi trường chính trị và môi trường xã hội. Môi trường kinh tế của quan hệ lao động bao gồm cơ cấu kinh tế, thị trường, trình độ kỹ thuật, chế độ sở hữu và phân phối. Môi trường kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp nhất đến quan hệ lao động.
Môi trường chính trị của quan hệ lao động bao gồm các nhân tố: chính đảng, chính phủ và pháp luật. Môi trường xã hội của quan hệ lao động bao gồm các nhân tố chính như tình hình của cải xã hội, giáo dục xã hội và đẳng cấp xã hội. Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành và đặc điểm của quan hệ lao động. Chủ thể của quan hệ lao động bao gồm ba bên tham gia vào quan hệ lao động, tức phía thợ (người lao động và tổ chức công đoàn), phía chủ (chủ thuê và tổ chức giới chủ) và chính phủ.
Về lý luận, người lao động là nền tảng và thành viên tổ chức của công đoàn, công đoàn là tổ chức đại diện của người lao động. Nhưng trong thực tế, người lao động và công đoàn có mối quan hệ phức tạp. Phía chủ bao gồm người chủ/ người thuê lao động, người sử dụng lao động và tổ chức giới chủ. Chính phủ là chủ thể không thể thiếu trong hệ thống quan hệ lao động, đóng vai trò là người điều hoà quan hệ lao động, là người điều chỉnh (Regulator), người giám sát (Inspector), người kiểm soát tổn hại (Damage Control), người hoà giải và trọng tài (Mediator and Arbitrator) (Bill Taylor, 2003: 32-38).3 Xung đột trong quan hệ lao động Là một vấn đề phức tạp và có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiềm ẩn và xu hướng của xung đột.
Các tài liệu nghiên cứu đã sử dụng nhiều khái niệm khác nhau liên quan đến hiện tượng xung đột trong quan hệ lao động như tranh chấp lao động/ hành động công nghiệp, xung đột công nghiệp, hoặc xung đột xã hội,…. Do vậy, điều quan trọng là phải làm r ý nghĩa (nội hàm) của các khái niệm đó vì chúng thường được sử dụng trong các tình huống gần giống nhau nhưng hướng đến việc giải quyết các vấn đề khác nhau. 19 Thuật ngữ xung đột công nghiệp ám chỉ sự xung đột lợi ích và các tranh chấp có cường độ khác nhau, giữa cá nhân, nhóm và tổ chức trong hệ thống quan hệ lao động. Mối quan hệ giữa chủ sở hữu/ người quản lý và người lao động/ nhân viên thường được xem là một hình thức của xung đột bởi vì hai bên có sự khác biệt về mặt giá trị, lợi ích, nhu cầu và hành vi, do vậy, tiềm ẩn tình trạng không tương thích nhau.
Trong khi xung đột công nghiệp liên quan đến vấn đề quan hệ lao động, xung đột xã hội liên quan đến các vấn đề trong lĩnh vực chính trị và xã hội. Có nhiều lý thuyết về nguồn gốc của xung đột công nghiệp, từ các quan điểm Marxist theo định hướng giai cấp cấp tiến đến các lý thuyết quy hiện tượng xung đột là do sự va chạm, xung đột về lợi ích kinh tế trong mối quan hệ tại nơi làm việc, bởi vì công nhân/ nhân viên và người quản lý có lợi ích khác nhau về tiền lương và sự nỗ lực, sự đóng góp cho doanh nghiệp. Đồng quan điểm với Eurofound, từ điển xã hội học Oxford, định nghĩa, xung đột công nghiệp là một thuật ngữ đề cập đến mọi biểu hiện bất mãn trong mối quan hệ lao động giữa công nhân và giới chủ, nhất là bất mãn liên quan đến hợp đồng lao động và nỗ lực/thương lượng về nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên (effort bargain). Khái niệm hành động công nghiệp đề cập đến tình huống người sử dụng lao động hoặc người lao động có hành động tập thể để gây áp lực lên bên thương lượng tập thể khác để đạt được mục tiêu của mình.
Những quan điểm trên đã gây ra nhiều tranh cãi. Ví dụ, có cần thiết phải sử dụng hành động công nghiệp như là một phương tiện cưỡng chế để đạt được một thỏa thuận tập thể không? Và liệu việc thường xuyên sử dụng hành động công nghiệp có phải là điều kiện tiên quyết cần thiết để loại bỏ thương lượng tập thể không? Một số ý kiến thì cho rằng, đình công chỉ là những lý do trong các cuộc đàm phán hoặc đình công chỉ là phương tiện để khẳng định vai trò của các nghiệp đoàn. Những ý kiến khác cho rằng quyền thương lượng tập thể giả định rằng các đối tác xã hội có thể thành lập và duy 20 trì sự cân bằng về quyền thương lượng bằng cách sử dụng các hành động công nghiệp. Nhiều ý kiến thì cho rằng, đình công như là một cơ chế lọc và cơ chế thông tin vì qua đình công, công đoàn biết được thông tin về lợi nhuận của người sử dụng lao động và người sử dụng lao động nhận biết được mức độ đấu tranh của công đoàn cho quyền và lợi ích của người lao động.
Hệ quả là người sử dụng lao động/ chủ doanh nghiệp có lợi nhuận cao hơn sẽ nhanh chóng tăng lương cao hơn cho công đoàn, ngược lại, mức lợi nhuận thấp sẽ dẫn đến đình công kéo dài và lương của công đoàn sẽ thấp. Verma nhận định rằng, trong những thập kỷ vừa qua có ba quan điểm tiếp cận khác nhau về hiện tượng xung đột tại nơi làm việc và trong tổ chức: 1/ Quan điểm truyền thống (chiếm ưu thế từ cuối thế kỷ XIX đến giữa những năm 1940) giả định rằng xung đột là xấu, luôn có những tác động tiêu cực và dẫn đến giảm hiệu suất do mức độ xung đột gia tăng. Do đó, cần phải tránh xung đột. Trong quan điểm này, xung đột có liên quan chặt chẽ với tình trạng bạo lực, phá hoại, và phi lý do vậy, cần phải có hành động để làm giảm, ngăn chặn, hoặc loại bỏ xung đột.
Người quản lý có trách nhiệm phải giải quyết xung đột và họ thường sử dụng cách tiếp cận độc đoán để loại trừ xung đột. Trên thực tế cách tiếp cận độc đoán không phải lúc nào cũng hiệu quả vì khi xung đột bị đàn áp, khó có thể xác định được nguyên nhân gốc rễ của xung đột, và các khía cạnh tích cực của xung đột khó có thể xuất hiện. Quan điểm tiêu cực về xung đột này đã đóng vai trò thúc đẩy sự phát triển các công đoàn lao động. 2/ Quan điểm hành vi hoặc quan điểm hiện đại, còn được gọi là quan điểm về quan hệ con người, xuất hiện vào cuối những năm 1940 và được phát triển tới những năm 1970.
Quan điểm này cho rằng xung đột là tự nhiên và không thể tránh khỏi trong tất cả các tổ chức và nó có thể có tác động tích cực hoặc tiêu cực, tùy thuộc vào cách giải quyết xung đột. Hiệu suất hoạt động có thể tăng lên trong tình trạng có xung đột, nhưng chỉ đến một mức nhất định, và sau đó hiệu suất sẽ giảm nếu xung đột có chiều hướng gia tăng hoặc chưa được giải quyết.