Chương 1 trình bày một số khái niệm, lý thuyết về kinh tế lao động và các lý thuyết về động viên làm cơ sở cho việc thiết kế khung phân tích.1 Một số khái niệm 1.1 Di dân từ nông thôn ra thành thị Theo Tống Văn Đường, Nguyễn Nam Phương ( 2007 ), di dân từ nông thôn ra thành thị là hiện tượng di dân từ tạm thời đến cố định và chủ yếu liên quan đến yếu tố kinh tế ( mong muốn có thu nhập cao hơn ).2 Lao động, lực lượng lao động, thị trường lao động Theo Phan Thúc Huân ( 2007 ), lao động là một loại hàng hóa đặc biệt, dịch vụ lao động cũng như những hàng hóa và dịch vụ khác được mua bán trên thị trường lao động. Lực lượng lao động bao gồm những người có việc làm hoặc đang tìm việc làm. Theo Tạ Đức Khánh ( 2009 ), thị trường lao động là thị trường mà ở đó tiến hành phân bổ lao động cho các công việc và điều phối các quyết định thuê mướn lao động.3 Tiền lương, tiền lương tối thiểu, tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế Tiền lương: Theo quan điểm của cải cách tiền lương năm 1993, “ tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành qua thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao động trong nền kinh tế thị trường”. Tiền lương tối thiểu: Trong các Bộ luật lao động các nước đều có các điểu khoản về tiền lương tối thiểu.
Theo Trần Kim Dung ( 2011 ), mức lương tối thiểu là định chế quan trọng bậc nhất của luật lao động nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người 6 lao động, nhất là trong nền kinh tế thị trường. Tiền lương tối thiểu cần đảm bảo nhu cầu tối thiểu về sinh học và xã hội học. Theo tổ chức Lao động Quốc tế ( ILO ), những yếu tố cần thiết để xác định mức lương tối thiểu phải bao gồm những nhu cầu của người lao động và gia đình họ, có chú ý tới các mức lương trong nước, giá cả sinh hoạt, các khoản trợ cấp an toàn xã hội và mức sống so sánh của các nhóm xã hội khác, những nhân tố kinh tế, năng suất lao động và mối quan tâm trong việc đạt tới và duy trì một sức sử dụng lao động cao. Tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế: Theo Trần Kim Dung ( 2011 ), tiền lương trả cho người lao động dưới hình thức tiền tệ là tiền lương danh nghĩa.
Cùng một số tiền như nhau sẽ mua được khối lượng hàng hóa dịch vụ khác nhau ở các vùng khác nhau hoặc trong cùng một vùng nhưng ở các thời điểm khác nhau, vì giá cả hàng hóa và dịch vụ thay đổi. Do đó, khái niệm tiền lương thực tế được sử dụng để xác định số lượng hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ mà người lao động có được thông qua tiền lương danh nghĩa. Tiền lương thực tế phụ thuộc vào hai yếu tố cơ bản: (1 ) Số lượng tiền lương danh nghĩa. Vì vậy, muốn cho thu nhập của người lao động tăng lên thì chỉ số tiền lương danh nghĩa phải tăng nhanh hơn chỉ số hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ.4 Động viên Theo Nguyễn Hữu Lam ( 2007 ), động viên là sự sẵn lòng thể hiện mức độ cao của nỗ lực để hướng tới các mục tiêu của tổ chức, trên cơ sở nhu cầu cá nhân.
Vì vậy, để động viên người lao động một cách hiệu quả thì việc xác định các nhu cầu, các giá trị, các ưu tiên của người lao động giúp họ đạt đến việc thỏa mãn các nhu cầu, giá trị… 1.2 Các lý thuyết về kinh tế lao động 1.1 Lý thuyết phát triển của Lewis 7 Vào những năm 1950 nhà kinh tế học người Mỹ gốc Jamaica Arthur Lewis đã đưa ra các giải thích về mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp trong quá trình tăng trưởng với tên gọi “ Mô hình hai khu vực cổ điển “. Mô hình này được John Fei và Gustav Ranis bổ sung, khai triển thêm. Mô hình hai khu vực của Lewis trở thành lý thuyết “ tổng quát ” về quá trình phát triển, vận động của lực lượng lao động ở các quốc gia đang phát triển. Trong mô hình tăng trưởng của Lewis, thứ nhất, khu vực nông thôn truyền thống ( traditional sector ).
Khu vực này tập trung phần lớn dân số và đang trong tình trạng dư thừa lao động, vì thế sản phẩm biên của lao động bằng không. Điều này có nghĩa là dù lực lượng lao động trong khu vực này tăng lên thì cũng không làm tăng sản lượng nông nghiệp, điều này cũng đồng nghĩa là lực lượng lao động dư thừa này có rút ra khỏi khu vực nông nghiệp thì vẫn không làm giảm sản lượng của nông nghiệp. Thứ hai, khu vực thành thị công nghiệp hiện đại ( modern sector ). Ở khu vực này nếu có thêm lao động thì sẽ làm tăng thêm sản lượng.
Mô hình này gợi ý về sự di chuyển lao động trong khu vực nông thôn, nơi mà có năng suất lao động bằng không sang khu vực thành thị công nghiệp hiện đại, nơi có năng suất lao động biên cao hơn nhiều so với khu vực truyền thống. Điều đó có nghĩa, tiền lương trong khu vực nông thôn truyền thống đang thấp hơn tiền lương trong khu vực thành thị công nghiệp hiện đại, điều này sẽ thu hút lao động trong khu vực truyền thống chuyển sang. Mô hình tăng trưởng Lewis cho thấy, trong điều kiện dư thừa lao động trong nông thôn, quá trình tăng trưởng và mở rộng nhân dụng của khu vực công nghiệp hiện đại được giả định tiếp tục cho đến khi tất cả số thặng dư lao động nông thôn được thu nhận hết vào các ngành công nghiệp mới mà khi đó, các ngành công nghiệp mới thu nhận thêm lao động không phải tăng thêm mức tiền công. Khu vực công nghiệp tiếp tục mở rộng sản xuất, cho đến khi lao động trở nên khan hiếm thì khu vực này phải tăng tiền lương lên một tỷ lệ nhất định.
8 Như vậy mô hình hai khu vực của Lewis cho thấy, có sự dư thừa lao động trong khu vực nông thôn truyền thống và người lao động sẽ dịch chuyển theo xu hướng từ những vùng có tiền lương thấp ( khu vực nông thôn truyền thống ) sang những vùng có cơ hội tiền lương cao hơn ( khu vực thành thị công nghiệp hiện đại ).2 Mô hình Harris – Todaro Theo Malcolm Gillis, Đây là một trong những lý thuyết nghiên cứu di cư nông thôn thành thị, tác động chủ yếu của quyết định di cư là động cơ kinh tế. Trong đó, tiền lương là nhân tố chính để quyết định địa điểm di cư. Theo mô hình Harris – Todaro, lao động nông thôn sẽ di cư ra thành thị khi tiền lương ở thành thị cao hơn tiền lương ở nông thôn và khi nào tiền lương ở thành thị còn cao hơn tiền lương ở nông thôn thì sự di cư từ nông thôn ra thành thị vẫn tiếp diễn. Ngược lại khi tiền lương ở nông thôn cao hơn ở thành thị thì lao động sẽ di cư ngược lại từ thành thị về lại nông thôn và quá trình này vẫn sẽ tiếp diễn khi tiền lương ở nông thôn vẫn còn cao hơn ở thành thị.
Mô hình này cho thấy, tác động của yếu tố kinh tế ( tiền lương ) là nguyên nhân của sự di cư.3 Mô hình chuyển dịch lao động Mô hình chuyển dịch lao động trong lý thuyết về kinh tế lao động của George J.Bonas cho rằng, việc di cư như một sự chuyển dịch lao động nhằm phân bổ một cách hợp lý vốn con người. Điều này có nghĩa là người lao động sẽ tính toán giá trị của những cơ hội việc làm trên những thị trường khác nhau sau khi đã trừ đi chi phí di chuyển và lựa chọn giải pháp nào tối đa hóa giá trị hiện tại của thu nhập. Mô hình này cho thấy, người lao động luôn muốn cải thiện tình hình kinh tế của họ, quyết định di cư dựa trên sự so sánh giá trị hiện tại của thu nhập khi thực hiện di cư và không di cư.3 Một số lý thuyết động viên 1.1 Thuyết nhu cầu của Maslow Đây là một trong những lý thuyết về động cơ thúc đẩy mà được mọi người biết đến nhiều nhất và phổ biến từ những năm đầu thập kỹ 60 của thế kỷ trước. Abraham Maslow cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ những nhu cầu cá nhân và những nhu cầu đó được sắp xếp theo một thứ tự từ thấp đến cao.
Ông xác định có năm loại nhu cầu của con người và được xếp theo thứ tự tăng dần về tầm quan trọng. ( 1 ) Nhu cầu sinh học (vật chất hay sinh lý): đây là các nhu cầu thiết yếu để tồn tại như không khí, thực phẩm, nghỉ ngủ… Maslow quan niệm rằng nếu thiếu nhu cầu này cuộc sống sẽ bị tổn hại, các nhu cầu khác không thúc đẩy được con người. Khi nhu cầu này được thỏa mãn thì sẽ tiến đến nhu cầu thứ hai. ( 2 ) Nhu cầu an toàn: đây là nhu cầu muốn tránh sự nguy hiểm về thân thể và mối đe dọa mất việc, mất tài sản.
( 3 ) Nhu cầu xã hội: đây là nhu cầu được hội nhập, được giao tiếp với con người xung quanh, được chấp nhận. ( 4 ) Nhu cầu được tôn trọng: theo Maslow, khi thỏa mãn nhu cầu được chấp nhận là thành viên thì họ có xu hướng tự tôn trọng và muốn người khác tôn trọng. Nhu cầu này dẫn đến sự thỏa mãn như: quyền lực, uy tín, địa vị. ( 5 ) Nhu cầu tự khẳng định mình: đây được xem là nhu cầu cao nhất trong cách phân cấp của Maslow, đó là sự mong muốn làm những việc mà họ có thể làm được.
Nhu cầu này là : chân, thiện, mỹ, tự chủ sáng tạo. Maslow cho rằng việc thỏa mãn nhu cầu cấp thấp dễ dàng hơn so với việc thỏa mãn các nhu cầu cấp cao vì các nhu cầu cấp thấp là có giới hạn và có thể thỏa mãn được từ bên ngoài. Ông cho rằng các nhu cầu này sẽ xuất hiện lần lượt. Ban đầu nhu cầu cấp thấp nhất sẽ xuất hiện, khi nào nhu cầu cấp thấp này được thỏa mãn thì nhu cầu cao hơn sẽ xuất hiện lần lượt theo thứ tự.
Có thể thấy, thuyết của Maslow giúp nhà quản lý cần chú ý tới các nhu cầu của người lao động, phải biết người lao động có nhu cầu nào, nhu cầu nào là chủ yếu 10 nhất rồi mới xét đến việc đáp ứng nhu cầu đó.