Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết định hướng nghiên cứu pháp luật về giám sát dự án dau tư theo phương thức đôi tác công tư Chương 2: Lý luận về giám sát dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư Chương 3: Pháp luật về giám sát giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư Chương 4: Pháp luật về giám sát giai đoạn lựa chọn nhà đầu tư dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư Chương 5: Pháp luật về giám sát giai đoạn thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư 11 Chuong 1 TONG QUAN NGHIEN CUU VA CO SO LY THUYET DINH HƯỚNG NGHIÊN CỨU PHAP LUAT VE GIÁM SAT DỰ ÁN DAU TƯ THEO PHƯƠNG THỨC ĐÓI TÁC CÔNG TƯ 1.1 Tổng quan nghiên cứu những vấn đề pháp lý về giám sát dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư PPP là mô hình đã phát triển từ lâu trên thế giới, do đó số lượng các công trình nghiên cứu về PPP cũng rất đồ sộ. Không chỉ được nghiên cứu bởi các nhà nghiên cứu, PPP còn được nghiên cứu bởi các tổ chức quốc tế nhằm định hướng các quốc gia trong quá trình lập pháp. So với thế giới, mô hình PPP ở Việt Nam còn khá non trẻ khi chỉ mới chính thức được ghi nhận và áp dụng thí điểm từ năm 2010 theo Quyết định 71/2010/QĐ-TTg. Dù vậy, trong giai đoạn mà PPP được xem là “đũa thần” để phát triển hệ thống hạ tầng ở nước ta, mô hình này là chủ đề nóng nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu.
Có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về PPP được công bó, trong đó phân tích nhiều khía cạnh khác nhau của PPP theo nhiều góc độ, từ kinh tế học đến luật học. Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu của luận án chỉ tập trung vào khía cạnh giám sát dự án nên tác giả cũng sẽ chỉ tập trung phân tích những tai liệu nghiên cứu có liên quan đến khía cạnh này. Trên cơ sở đó, tác giả sẽ đánh giá kết quả đạt được của các nghiên cứu trước, chỉ ra những vấn đề còn bỏ ngỏ, từ đó định hướng nghiên cứu riêng cho luận án của mình.1 Các tài liệu nghiên cứu về giám sát dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tu 1.1 Các tài liệu nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, trong khoảng thời gian trước năm 2010 — thời điểm chính thức ghi nhận và thí điểm mô hình PPP, đã có một số tài liệu nghiên cứu về hợp đồng BOT, BTO và BT. Sau năm 2010, đặc biệt là sau năm 2015 (thời điểm Nghị định chính thức điều chỉnh mô hình PPP được ban hành), PPP thực sự trở thành chủ đề nóng được quan tâm nghiên cứu.
Có thé liệt kê một số công trình khá quy mô nghiên cứu về PPP như Luận án tiến sĩ Luật học “Hợp dong BOT trong pháp luật 12 hiện hành và thực tiễn áp dung tại Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Láng", Luận án tiến sĩ Kinh tế học “Hình thức hợp tác công tư (Public Private Partnership) dé phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ tại Việt Nam” của tác giả Huỳnh Thị Thúy Giang’, sách chuyên khảo “Phương thức đối tác công - tư (PPP): kinh nghiệm quốc tế và khuôn khổ thể chế tại Việt Nam” do tác giả Mai Thị Thu chủ biên và gần đây nhất là Luận án tiến sĩ Luật học “Pháp luật về dau tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam” của tác giả Doan Thị Hải Yến". Đây là những công trình nghiên cứu khá toàn diện về các khía cạnh của hợp đồng BOT và mô hình PPP ở cả góc độ luật học và kinh tế học. Riêng vấn đề giám sát dự án — một khía cạnh nhỏ của mô hình PPP — cũng đã được thể hiện trong nhiều nghiên cứu về PPP, nhưng chưa có tài liệu nghiên cứu độc lập. Nguyên nhân, theo nhận định của tác giả, đó là do trong giai đoạn đầu xây dựng cơ sở pháp lý về PPP, ca Nhà nước va các nhà nghiên cứu đều tập trung vào việc thiết kế quy trình thực hiện dự án để làm căn cứ triển khai dự án trên thực tế.
Khía cạnh giám sát dự án vì vậy chưa thực sự được quan tâm. Do không có tài liệu nghiên cứu độc lập về giám sát dự án PPP, nên trong mục này, tác giả sẽ chỉ chọn lọc và phân tích những tài liệu mà trong đó có đề cập đến vấn đề giám sát dự án. ( Về sự cần thiết của hoạt động giám sát dự án PPP Bài viết “Thúc day hình thức đối tác công tư trong dau tư xây dựng kết cấu ha tang giao thông đường bộ” của tác giả Nguyễn Thu Thuy’ chỉ ra những hạn chế, vướng mắc trong việc thu hút nguồn vốn tư nhân tham gia đầu tư theo hình thức PPP ở nước ta. Một trong số đó là do công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa + Nguyễn Thị Láng, Hợp đồng BOT trong pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phô Hỗ Chí Minh, TP.
5 Huỳnh Thị Thúy Giang, Hình thức hợp tác công tư (Public Private Partnership) để phát triển cơ sở hạ tang giao thông đường bộ tai Việt Nam, Luận án tiễn sĩ Kinh tế học, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, TP. © Mai Thi Thu và các đồng tác gia, Phương thức đối tác công - tư (PPP): kinh nghiệm quốc tế và khuôn khổ thể chế tại Việt Nam, Sách chuyên khảo, NXB Tri thức, Hà Nội, 2013. 7 Đoàn Thị Hải Yến, Pháp luật vẻ dau tư theo hình thức đối tác công tư ở Việt Nam, Luận án tiễn sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, 2020. 8 Nguyễn Thu Thủy, “Thúc day hình thức đối tác công - tư trong dau tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ”, Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 238/2015, tr.
13 được quan tâm thực hiện thường xuyên, đúng mức dẫn đến dự án chậm tiến độ giải ngân, thi công, đưa vào sử dụng; đồng thời tình trạng tham nhũng, sách nhiễu của một số cán bộ, công chức chưa được phát hiện và xử lý, ảnh hưởng uy tín của Nhà nước và niềm tin của nhân dân. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất rằng cơ quan nhà nước cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát dự án PPP nhằm đảm bảo tiến độ, chất lượng công trình, đồng thời tăng cường tính kỷ cương, kỷ luật, khắc phục tình trạng trì trệ, sách nhiễu, tiêu cực, tham nhũng trong thực thi công vụ, từ đó thu hút nhiều hơn nguồn vốn tư nhân tham gia dự án PPP. Quan điểm tương tự cũng được đưa ra trong bài viết “Một só dé xuất xây dựng hành lang pháp lý dau tư theo hình thức đối tac công — tw” của tác giả Nguyễn Huy Hoàng”. Tiếp cận ở một góc độ khác, bài viết “Tiêu chí quản lý thành công các dự án đối tác công tư Kinh nghiệm quốc tế và vận dụng ở Việt Nam”"® của tác giả Phạm Quốc Trường nhắn mạnh tầm quan trọng của hoạt động giám sát như là một trong những tiêu chí quản lý thành công dự án PPP.
Cụ thể, bài viết chỉ ra 19 yếu tố thành công cốt lõi (Critical Success Factors — CSF) cho dự án PPP theo kinh nghiệm của Vương quốc Anh. Trong đó, có một số yếu té liên quan đến hoạt động giám sát dự án như quy trình mua sắm cạnh tranh, minh bạch (tránh lợi ích nhóm và công bằng), cam kết trách nhiệm của hai bên đối tác (đảm bảo rõ ràng và trách nhiệm), chính sách kinh tế lành mạnh (loại bỏ chi phí không chính thống, tăng cơ hội thành công). Đây sẽ là những vấn đề mà chúng ta cần suy ngẫm khi thiết kế khung pháp lý về giám sát dự án PPP cũng như khi triển khai dự án PPP trên thực tế nhằm chắc chắn rằng các yếu tố cốt lõi trên sẽ được tồn tại. (ii) Về cơ chế giám sát tổng thể dự án PPP Bài viết “Cơ chế giám sát của Nhà nước đối với các du án BOT - Một số vấn đề đặt ra” của tác giả Trần Kim Chung và Võ Thị Hồng Lan!! trình bày cơ chế giám sát của Nhà nước đối với dự án BOT; đánh giá thực tiễn giám sát dự án BOT ° Nguyễn Huy Hoàng, “Một số đề xuất xây dựng hành lang pháp lý đầu tư theo hình thức đối tác công - tư”, Tạp chi Quản lý nhà nước, số 222/2014, tr.
© Phạm Quốc Trường, “Tiêu chí quan lý thành công các dự án đối tác công tư — Kinh nghiệm quốc tế và vận dụng ở Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 16/2020, tr. "| Trần Kim Chung, Võ Thị Hồng Lan, “Cơ chế giám sát của Nhà nước đối với các dự án BOT - Một số vấn đề đặt ra", Tạp chí Thanh tra, số 3/2019, tr. 14 ở Việt Nam, từ đó đề xuất giải pháp khắc phục bất cập trong công tác giám sát. Theo đó, cơ chế giám sát dự án BOT bao gồm hoạt động giám sát của cơ quan lập pháp, các tổ chức chính trị, xã hội; các bên hữu quan của dự án và cộng đồng.
Đánh giá hiệu quả giám sát dự án BOT thời gian qua, bài viết cho rằng chúng ta đã đạt được một số kết quả tích cực, nhưng đồng thời cũng còn khá nhiều bất cập. Các bat cập được liệt kê chủ yếu liên quan đến những khiếm khuyết của khung pháp lý về PPP; sự thiếu cơ chế giám sát chéo giữa các cơ quan nhà nước; thiếu cơ chế tham gia giám sát va phản hỗồi của người dân. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý cũng như nâng cao hiệu quả giám sát dự án BOT. Các kiến nghị chủ yếu xoay quanh việc xây dựng văn bản điều chỉnh việc triển khai dự án BOT; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước đối với dự án BOT; hoàn thiện hệ thống vi trí đặt trạm thu phí; hoàn thiện công tác truyền thông và tăng cường hoạt động giám sát của cộng đồng.
(iii) Về giám sát việc thực hiện hợp đồng dự án PPP Bài viết “Chính sách tài chính đói với dự án đầu tư theo hình thức đối tác công - tw ở Việt Nam” của nhóm tác giả Nguyễn Thị Ngọc Huyền và Nguyễn Thị Hồng Minh!? đề cập đến van dé giám sát việc thực hiện chính sách tài chính trong dự án PPP.