Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, chủ trương kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững luôn giữ vị trí trọng tâm. Việt Nam là một trong 30 quốc gia đầu tiên trên thế giới và là quốc gia đầu tiên ở châu Á áp dụng chuẩn nghèo đa chiều, đo lường mức độ thiếu hụt ở 6 chiều dịch vụ xã hội cơ bản (việc làm, y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, thông tin). Trong hệ thống các công cụ tài chính công, tín dụng chính sách xã hội (CSXH) được xác lập như một kênh dẫn vốn ưu đãi dành riêng cho người nghèo và các đối tượng dễ bị tổn thương, hoạt động theo nguyên tắc phi lợi nhuận.

Kể từ khi Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ ban hành và Ngân hàng Chính sách Xã hội (NHCSXH) được thành lập, hoạt động tín dụng CSXH đã vận hành hơn 20 năm. Tuy nhiên, bối cảnh kinh tế - xã hội thay đổi cùng yêu cầu phát triển mới đòi hỏi phải rà soát, đánh giá toàn diện khuôn khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động này. Khóa luận tốt nghiệp "Thực trạng pháp luật về tín dụng chính sách xã hội và giải pháp hoàn thiện tại Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hân (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2023) được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu thực tiễn và lý luận nói trên.

Về mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài xác định 4 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Làm rõ một số vấn đề lý luận về tín dụng CSXH (khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa kinh tế - xã hội).
  2. Làm rõ khái niệm, nội hàm và cấu trúc của pháp luật điều chỉnh tín dụng CSXH.
  3. Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về tín dụng CSXH tại Việt Nam; chỉ rõ các kết quả tích cực, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế.
  4. Đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị hoàn thiện các quy phạm pháp luật nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều chỉnh đối với hoạt động tín dụng CSXH.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ thống quy định pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật về tín dụng CSXH, thực tiễn thi hành tại Việt Nam cùng một số quan điểm, chuẩn mực quốc tế về tài chính vi mô.

Phạm vi nghiên cứu được xác định:

  • Phạm vi thời gian: Từ ngày Nghị định số 78/2002/NĐ-CP có hiệu lực thi hành (04/10/2002) đến quý II năm 2023.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, đồng thời có liên hệ đối chiếu với một số chuẩn tắc quốc tế về tài chính vi mô.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về khung lý thuyết và khái niệm nền tảng, nghiên cứu tiếp cận bản chất của tín dụng CSXH từ học thuyết tài chính vi mô (microfinance) hình thành năm 1976 bởi Muhammad Yunus (thông qua mô hình Ngân hàng Grameen tại Bangladesh), định nghĩa của Ủy ban Châu Âu (European Commission - 2000, Quy định Regulation EU 2021/1057), và hướng dẫn nguyên tắc giám sát tài chính vi mô của Christen, Lyman và Rosenberg (2003) thuộc Nhóm Tư vấn Hỗ trợ Người nghèo (CGAP - World Bank). Tại Việt Nam, nghiên cứu dựa trên cơ sở pháp lý trực tiếp gồm Điều 17 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Nghị định số 78/2002/NĐ-CP, Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg và Quyết định số 16/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Hoạt động tín dụng chính sách tại Việt Nam được phân chia thành 3 phân nhóm: tín dụng hỗ trợ đầu tư phát triển, tín dụng hỗ trợ xuất khẩu (giao cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam) và tín dụng hỗ trợ giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội (giao cho NHCSXH).

Phương pháp nghiên cứu được triển khai dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp nghiên cứu pháp lý và kinh tế - xã hội chuyên ngành theo từng chương:

  • Chương 1: Sử dụng phương pháp phân tích quy phạm, tổng hợp lý thuyết, so sánh và đối chiếu giữa mô hình tín dụng thương mại và tín dụng CSXH nhằm định hình khung lý luận.
  • Chương 2: Kết hợp phương pháp thực chứng pháp lý, thu thập và thống kê số liệu, phân tích tổng hợp các báo cáo thực tiễn để đánh giá thực trạng quy định và hiệu quả áp dụng pháp luật.
  • Chương 3: Vận dụng phương pháp logic học, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và phương pháp dự báo pháp lý để kiến nghị giải pháp lập quy.

Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật (Luật, Nghị định, Quyết định, Thông tư), báo cáo định kỳ và tài liệu đào tạo nghiệp vụ của NHCSXH, cơ sở dữ liệu Global Findex (2011) và Báo cáo đánh giá nghèo của Ngân hàng Thế giới (2012), Tạp chí Cộng sản, cùng các công trình nghiên cứu khoa học liên quan trực tiếp như luận án tiến sĩ của Dương Quyết Thắng (2015), luận văn thạc sĩ của Trần Thị Ngọc Ánh (2020), đề tài của Mai Phương Lan và cộng sự (2012), và đề tài nghiên cứu hệ thống của Nguyễn Văn Tùng (2023).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về tín dụng chính sách xã hội và pháp luật về tín dụng chính sách xã hội

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về tín dụng CSXH và pháp luật điều chỉnh. Khóa luận xác định tín dụng CSXH là hoạt động Nhà nước tổ chức huy động các nguồn lực tài chính để cho vay ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác nhằm tạo việc làm, cải thiện đời sống, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo và bảo đảm an sinh xã hội. Hoạt động này mang 7 đặc điểm pháp lý và nghiệp vụ riêng biệt:

  1. Chủ thể cấp tín dụng là tổ chức tín dụng do Nhà nước thành lập hoặc chỉ định (cụ thể là NHCSXH).
  2. Kênh tín dụng hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, bảo toàn vốn và bù đắp chi phí.
  3. Đối tượng vay vốn được chỉ định theo các quyết định, chương trình mục tiêu của Chính phủ.
  4. Nguồn vốn cho vay có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, vốn nhận ủy thác và vốn huy động đặc thù.
  5. Cơ chế cho vay có tính ưu đãi vượt trội về lãi suất, thời hạn trả nợ và điều kiện bảo đảm tiền vay.
  6. Thẩm quyền quyết định chính sách tín dụng thuộc về Chính phủ hoặc người được ủy quyền.
  7. Phương thức cho vay kết hợp linh hoạt giữa cho vay trực tiếp và cho vay ủy thác.

Về ý nghĩa kinh tế - xã hội, tín dụng CSXH thúc đẩy bình đẳng giới, nâng cao vị thế phụ nữ nông thôn, hạn chế sự mở rộng của tín dụng đen (trong bối cảnh cơ sở dữ liệu Global Findex năm 2011 ghi nhận 79% dân số Việt Nam chưa tiếp cận tài chính chính thức), đồng thời góp phần làm giảm tỷ lệ hộ nghèo từ gần 60% vào đầu thập niên 1990 xuống còn 20,7% vào năm 2010 (theo Báo cáo Đánh giá Nghèo Việt Nam 2012 của Ngân hàng Thế giới).

Khóa luận đưa ra định nghĩa: Pháp luật về tín dụng CSXH là tổng thể các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước và hoạt động cấp tín dụng chính sách, bảo vệ quyền lợi của các chủ thể, bảo đảm an toàn, hiệu quả hoạt động và thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững. Cấu trúc nội dung của pháp luật về tín dụng CSXH bao gồm 4 nhóm chế định: quy định về chủ thể, quy định về quy trình cấp tín dụng, quy định về hợp đồng tín dụng, và quy định về quản lý nhà nước đối với tín dụng CSXH.

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về tín dụng chính sách xã hội tại Việt Nam

Chương 2 phân tích chuyên sâu các quy định pháp luật thực định và đánh giá thực tiễn thi hành. Về mặt pháp lý:

  • Quy định về chủ thể: NHCSXH được pháp luật trao các đặc quyền tài chính theo Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 78/2002/NĐ-CP gồm: được Nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán, tỷ lệ dự trữ bắt buộc 0%, không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản phí nộp ngân sách. Bộ máy quản trị được thiết kế theo mô hình đặc thù 3 cấp (Trung ương, Tỉnh, Huyện), có sự tham gia của đại diện nhiều Bộ, ngành và 4 tổ chức chính trị - xã hội theo hình thức kiêm nhiệm. Đề tài chỉ ra điểm bất cập là địa vị pháp lý của NHCSXH chưa được luật hóa trong văn bản luật riêng mà chủ yếu quy định tại các văn bản dưới luật (Nghị định số 78/2002/NĐ-CP, Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg, Quyết định số 16/2003/QĐ-TTg) ban hành đã hơn 20 năm. Đối với bên vay vốn là hộ gia đình, văn bản số 5650/NHCS-TDNN ngày 28/12/2016 của NHCSXH hướng dẫn thực hiện Bộ luật Dân sự năm 2015 còn gặp vướng mắc do sự thiếu thống nhất trong khái niệm "thành viên hộ gia đình" giữa Bộ luật Dân sự năm 2015, Khoản 2 và Khoản 16 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, và Điều 10 Luật Cư trú năm 2020.
  • Quy trình cấp tín dụng: Vận hành theo hai phương thức: cho vay trực tiếp và cho vay ủy thác từng phần. Trong phương thức ủy thác, quy trình tổng thể gồm 9 công đoạn; NHCSXH ủy thác 6 công đoạn (thành lập và quản lý Tổ Tiết kiệm và Vay vốn - Tổ TK&VV; họp bình xét cho vay; thông báo phê duyệt; kiểm tra, giám sát sử dụng vốn; hướng dẫn hồ sơ xử lý nợ; thu lãi và tiền gửi tiết kiệm) cho 4 tổ chức chính trị - xã hội (Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên). NHCSXH trực tiếp thực hiện 3 công đoạn then chốt: giải ngân đến hộ vay, thu hồi nợ gốc, và hạch toán kế toán - lưu trữ hồ sơ. Quy trình phê duyệt cho vay ủy thác diễn ra qua 5 bước chặt chẽ.
  • Quy định về xử lý nợ bị rủi ro: Căn cứ Quyết định số 50/2010/QĐ-TTg (thay thế Quyết định số 69/2005/QĐ-TTg), Quyết định số 15/QĐ-HĐQT năm 2011 và Quyết định số 08/2021/QĐ-TTg, pháp luật thiết lập 3 biện pháp xử lý rủi ro do nguyên nhân khách quan: gia hạn nợ, khoanh nợ và xóa nợ (gốc, lãi). Khóa luận phát hiện hạn chế: các biện pháp xử lý nợ còn mang tính hành chính đơn thuần, chưa áp dụng cơ chế thị trường, chưa hoàn thiện quy chế xử lý rủi ro do nguyên nhân chủ quan, và hồ sơ pháp lý chứng minh nguyên nhân khách quan còn thiếu chặt chẽ.
  • Thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm: Thực hiện theo Nghị định số 26/2014/NĐ-CP, Nghị định số 43/2019/NĐ-CP và Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Khóa luận chỉ ra sự xung đột pháp luật giữa Điều 467 Bộ luật Dân sự năm 2015 (buộc bên cho vay phải thực hiện thủ tục nhắc nhở trước khi có quyền thu hồi nợ trước hạn) và Khoản 1 Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (cho phép tổ chức tín dụng chấm dứt cấp tín dụng và thu hồi nợ trước hạn ngay khi phát hiện khách hàng vi phạm hợp đồng hoặc cung cấp thông tin sai sự thật).

Về mặt thực tiễn, dưới sự chỉ đạo của Chỉ thị số 40-CT/TW năm 2014 của Ban Bí thư, hoạt động tín dụng CSXH đã đạt nhiều thành quả trong triển khai Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (theo 19 tiêu chí tại Quyết định số 263/QĐ-TTg) và Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (theo Quyết định số 861/QĐ-TTg).

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về tín dụng chính sách xã hội tại Việt Nam

Dựa trên kết quả phân tích bất cập tại Chương 2, Chương 3 định hình các định hướng và nhóm giải pháp lập pháp cụ thể:

  1. Hoàn thiện quy định về chủ thể: Nâng cao địa vị pháp lý của NHCSXH bằng việc xây dựng Nghị định mới thay thế Nghị định số 78/2002/NĐ-CP, tiến tới luật hóa mô hình ngân hàng chính sách trong đạo luật chuyên ngành; sửa đổi, chuẩn hóa quy định về tư cách chủ thể hộ gia đình tham gia vay vốn nhằm bảo đảm sự tương thích giữa pháp luật dân sự, cư trú và hôn nhân gia đình.
  2. Hoàn thiện quy trình cấp tín dụng và cơ chế ủy thác: Bổ sung quy định pháp lý minh định quyền hạn, trách nhiệm và chế tài xử lý vi phạm đối với các tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác; rà soát, tinh giản hồ sơ thủ tục xét duyệt tại cấp cơ sở nhằm hạn chế tình trạng quá tải cho cán bộ tín dụng và chính quyền cấp xã.
  3. Hoàn thiện cơ chế xử lý nợ rủi ro: Ban hành quy chế xử lý nợ bị rủi ro do nguyên nhân chủ quan; hoàn thiện tiêu chí xác định nguyên nhân khách quan; đa dạng hóa các công cụ xử lý nợ dựa trên nguyên tắc thị trường kết hợp với nguồn tài chính từ Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng.
  4. Khắc phục xung đột pháp luật: Sửa đổi, hoàn thiện các quy định về thu hồi nợ trước hạn, thống nhất quy chuẩn giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật các Tổ chức tín dụng nhằm bảo vệ quyền thu hồi vốn hợp pháp của NHCSXH khi khách hàng sử dụng vốn sai mục đích.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp các dữ liệu thực tiễn phản ánh hiệu quả vận hành của pháp luật tín dụng CSXH thông qua các chỉ số cụ thể:

Lĩnh vực / Chương trình mục tiêu Dữ liệu, kết quả thực tiễn ghi nhận trong văn bản
Xây dựng nông thôn mới (Năm 2021) - Tạo việc làm cho hơn 648 nghìn lao động (trong đó có hơn 2,2 nghìn lao động làm việc có thời hạn ở nước ngoài).
- Hỗ trợ 37 nghìn học sinh, sinh viên vay vốn học tập.
- 1.357 doanh nghiệp vay vốn trả lương cho hơn 379 nghìn lao động phục hồi sản xuất kinh doanh do ảnh hưởng dịch Covid-19.
- Xây dựng hơn 1,3 triệu công trình nước sạch, vệ sinh môi trường; hơn 7 nghìn căn nhà ở cho đối tượng chính sách.
- Góp phần giúp 5.615 xã đạt chuẩn nông thôn mới (503 xã nâng cao, 43 xã kiểu mẫu); 213 đơn vị cấp huyện và 14 tỉnh đạt chuẩn.
- Tỷ lệ hộ nghèo giảm 0,52% (từ 2,75% xuống 2,23%); hộ cận nghèo giảm 0,34% (từ 3,71% xuống 3,37%).
Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Tính đến 30/6/2023) - Tổng doanh số cho vay đạt 87,9 nghìn tỷ đồng.
- Tổng dư nợ đạt 107,97 nghìn tỷ đồng.
- Quy mô khách hàng: hơn 2,8 triệu khách hàng còn dư nợ, với 20,6 triệu lượt khách hàng vay vốn.
- Tỷ lệ hộ nghèo tại các huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP giảm bình quân 3% - 4%/năm.

Khóa luận đóng góp về mặt khoa học pháp lý qua việc chỉ ra 3 điểm nghẽn thể chế cơ bản:

  1. Sự thiếu hụt văn bản luật điều chỉnh trực tiếp địa vị pháp lý của NHCSXH, khi toàn bộ khung pháp lý hiện hành đều đặt ở cấp văn bản dưới luật (Nghị định và Quyết định đã có tuổi thọ trên 20 năm).
  2. Xung đột thẩm quyền và quy chuẩn kỹ thuật lập pháp giữa Điều 467 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Khoản 1 Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với quyền đơn phương thu hồi nợ trước hạn.
  3. Sự chồng chéo trong việc xác định tư cách thành viên hộ gia đình vay vốn giữa pháp luật dân sự, pháp luật cư trú và pháp luật hôn nhân gia đình.

So với các công trình nghiên cứu đi trước vốn chỉ tập trung vào khía cạnh quản trị ngân hàng (Dương Quyết Thắng, 2015), quản lý rủi ro tín dụng đơn lẻ (Trần Thị Ngọc Ánh, 2020), hoặc huy động nguồn vốn (Nguyễn Văn Tùng, 2023), khóa luận của Nguyễn Thị Ngọc Hân là công trình chuyên khảo pháp lý tiếp cận toàn diện hệ thống quy phạm điều chỉnh từ khâu chủ thể, xác lập hợp đồng, phân cấp ủy thác đến thanh tra, giám sát và giải quyết tranh chấp trong tín dụng CSXH.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu gắn liền với giới hạn dữ liệu và nguồn tư liệu khảo sát trong văn bản:

  • Phạm vi dữ liệu thực tiễn và số liệu hoạt động tín dụng CSXH mới được cập nhật đến thời điểm quý II năm 2023, chưa bao quát được các biến động pháp lý và kinh tế - xã hội ở giai đoạn tiếp theo.
  • Khóa luận chủ yếu tập trung đánh giá hệ thống pháp luật thực định Việt Nam; các bài học kinh nghiệm quốc tế mới dừng lại ở việc viện dẫn lý luận đại cương (mô hình Grameen, hướng dẫn CGAP của World Bank, quy định của Liên minh Châu Âu) mà chưa phân tích chi tiết quy phạm cụ thể trong pháp luật chuyên ngành của các quốc gia tương đồng.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được mở ra từ đề tài bao gồm:

  • Nghiên cứu đánh giá sự tác động của việc sửa đổi, bổ sung Luật các Tổ chức tín dụng đối với hoạt động của ngân hàng chính sách.
  • Xây dựng mô hình lập pháp chi tiết cho một đạo luật độc lập về ngân hàng chính sách xã hội tại Việt Nam.
  • Nghiên cứu cơ chế tích hợp các công cụ tài chính phái sinh và cơ chế thị trường vào hoạt động xử lý nợ xấu, chuyển giao nợ trong hệ thống tín dụng chính sách.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị thực tiễn và học thuật cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính - Ngân hàng, Luật Hành chính: Tài liệu cung cấp hệ thống phân tích quy phạm rõ ràng về chế định hợp đồng tín dụng đặc thù, cơ chế ủy thác và các xung đột pháp lý giữa luật chung (Bộ luật Dân sự) và luật chuyên ngành (Luật các Tổ chức tín dụng).
  • Cán bộ nghiên cứu, quản lý tại NHCSXH và các tổ chức chính trị - xã hội nhận ủy thác: Phần phân tích 9 công đoạn ủy thác, trách nhiệm của Ban đại diện Hội đồng quản trị các cấp và thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp xã là tài liệu tham khảo trực tiếp cho công tác quản trị rủi ro và hoàn thiện quy chế nghiệp vụ.
  • Nhà nghiên cứu chính sách an sinh xã hội và giảm nghèo: Cung cấp hệ thống dữ liệu thống kê có căn cứ về đóng góp của tín dụng ưu đãi đối với các tiêu chí xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Câu hỏi thường gặp

1. NHCSXH được hưởng những đặc quyền pháp lý nào theo quy định tại Nghị định số 78/2002/NĐ-CP?
Theo Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 78/2002/NĐ-CP, NHCSXH hoạt động không vì mục đích lợi nhuận và được Nhà nước bảo đảm các đặc quyền: Nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán; tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0%; không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi; được miễn thuế và các khoản phí phải nộp ngân sách nhà nước.

2. Điểm mâu thuẫn giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật các Tổ chức tín dụng trong việc thu hồi nợ trước hạn là gì?
Điều 467 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định bên cho vay chỉ có quyền đòi lại tài sản vay trước thời hạn nếu bên vay sử dụng sai mục đích "và đã được nhắc nhở mà vẫn tiếp tục vi phạm". Trong khi đó, Khoản 1 Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cho phép tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn ngay khi phát hiện khách hàng vi phạm hợp đồng hoặc cung cấp thông tin sai sự thật mà không bắt buộc phải qua bước nhắc nhở.

3. Pháp luật quy định các biện pháp và điều kiện xử lý nợ bị rủi ro do nguyên nhân khách quan tại NHCSXH như thế nào?
Theo Quyết định số 50/2010/QĐ-TTg và Quyết định số 08/2021/QĐ-TTg, có 3 biện pháp xử lý:

  • Gia hạn nợ: Áp dụng khi mức độ thiệt hại về vốn và tài sản dưới 40%; thời gian tối đa 12 tháng với khoản vay ngắn hạn và tối đa không quá 1/2 thời hạn vay với khoản vay trung/dài hạn.
  • Khoanh nợ: Thiệt hại từ 40% đến dưới 80% được khoanh nợ tối đa 3 năm; thiệt hại từ 80% đến 100% được khoanh nợ tối đa 5 năm.
  • Xóa nợ (gốc, lãi): Áp dụng khi khách hàng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh hoặc biến động chính sách, đã hết thời gian khoanh nợ mà vẫn không trả được nợ sau khi đã tận thu mọi nguồn; nguồn xóa nợ lấy từ Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng của NHCSXH.

4. Mô hình ủy thác cấp tín dụng chính sách qua các tổ chức chính trị - xã hội được phân chia như thế nào?
NHCSXH thực hiện ủy thác một số công đoạn qua 4 tổ chức chính trị - xã hội gồm: Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh và Đoàn Thanh niên. Trong 9 công đoạn của quy trình cấp tín dụng, các tổ chức chính trị - xã hội đảm nhiệm 6 công đoạn (gồm công đoạn 1, 2, 3, 5, 6, 7 liên quan đến thành lập Tổ TK&VV, bình xét đối tượng, thông báo, đôn đốc giám sát, lập hồ sơ rủi ro và thu lãi/tiết kiệm theo ủy nhiệm); NHCSXH trực tiếp thực hiện 3 công đoạn còn lại (công đoạn 4: giải ngân trực tiếp; công đoạn 8: thu nợ gốc; công đoạn 9: hạch toán kế toán và lưu trữ hồ sơ).

5. Kết quả triển khai tín dụng chính sách tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tính đến ngày 30/6/2023 đạt mức nào?
Tính đến ngày 30/6/2023, tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, tổng doanh số cho vay đạt 87,9 nghìn tỷ đồng; tổng dư nợ đạt 107,97 nghìn tỷ đồng với trên 2,8 triệu khách hàng còn dư nợ và 20,6 triệu lượt khách hàng được tiếp cận vốn vay; tỷ lệ hộ nghèo tại các huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP giảm bình quân 3% - 4%/năm.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hân đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về tài chính vi mô và khung pháp lý điều chỉnh hoạt động tín dụng chính sách xã hội tại Việt Nam. Tác phẩm làm rõ các kết quả thực tiễn nổi bật trong công cuộc giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2002 - 2023, đồng thời bóc tách các điểm nghẽn thể chế về địa vị pháp lý của NHCSXH, xung đột pháp luật trong thu hồi nợ trước hạn và hạn chế của cơ chế xử lý nợ hành chính. Hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật được đề xuất mang tính đồng bộ, có giá trị đóng góp thiết thực cho quá trình hoàn thiện thể chế an sinh xã hội của Việt Nam trong thời kỳ mới.