Chương I. Hoàn thiện cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự phạm cụ thé trong việc xây dựng cơ sở pháp lý của TNHS. Đối với cl định các giai đoạn thực hiện tội phạm và đồng phạm, việc hoàn thiện cơ sở pháp lý của TNHS đang, đặt ra yêu cầu cần hoàn thiện các quy định của BLHS về các giai đoạn thực hiện tội phạm, về đồng phạm và về các vấn đề liên quan. Để có thể đáp ứng được yêu cầu này đòi hỏi phải có sự nghiên cứu, đánh gid thực trạng các quy định hiện hành của BLHS từ góc độ lý luận và thực tiễn và trên cơ sở đó cần đưa ra phương hướng hoàn thiện các quy định này của BLHS.
Các kết quả nghiên cứu theo hướng này sẽ được trình bày trong Chương II: “Các giai đoạn thực hiện tội phạm” và Chương III: “Thực hiện tội phạm và đồng phạm”. Trong bồi cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, hoàn thiện cơ sở pháp lý của TNHS còn đặt ra yêu cầu bổ sung vào BLHS quy định về những loại tội phạm mới, trong đó có tội phạm có tổ chức. Điều này đòi hỏi trước tiên phải quy định trong luật hình sự như thé nào là tổ chức tội phạm. Việc đưa chế định tổ chức tội phạm vào trong BLHS sẽ tạo.
cơ sở cho việc quy định và xác định tội phạm có tổ chức. Cơ sở lý luận, thực tiễn và yêu cầu của việc đưa chế định tổ chức tội phạm vào BLHS và quy định tội phạm có tổ êhức sẽ được trình bảy trong Chương IV: “Tội phạm có tổ chức và tổ chức tội phạm”. 23 Các giai đoạn thực hiện tội phạm, đồng phạm và tổ chức. Như vậy, chế định các giai đoạn thực hiện tội phạm, chế định đồng phạm và chế định tổ chức tội phạm là các nội dung quan trọng mà việc hoàn thiện có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoàn thiện cơ sở pháp lý của TNHS.
Hoan thiện cơ sở pháp lý của TNHS về mặt lý luận và lập pháp không chỉ đặt ra yêu cầu hoàn thiện những quy định về căn cứ xác lập TNHS cho tất cả các trường hợp phạm tội (theo hướng như đã nêu) mà bên cạnh đó còn đặt ra yêu cầu hoàn thiện quy định của luật hình sự về việc loại trừ và miễn TNHS. Các quy định của pháp luật hình sự về loại trừ và miễn TNHS góp phần giải quyết triệt để cơ sở pháp lý của TNHS. Những quy định đó là những căn cứ pháp lý để xác định các trường hợp tuy chủ thể có hành vi thỏa mãn các dấu hiệu khách quan của một CTTP nhưng do những lý do nhất định mà không có TNHS hoặc được miễn TNHS. Các quy định của pháp luật hình sự về căn cứ xác lập TNHS và về căn cứ loại trừ, miễn TNHS có mối liên hệ chặt chẽ với nhau (đều là những bộ phận cấu thành tống thể các quy định của pháp luật hình sự về TNHS) và bổ sung cho nhau dé giải quyết vấn đề có hay không có TNHS trong trường hợp có hành vi gây thiệt hai cụ thể.
Một hành vi gây thiệt hại chỉ có thể làm phát sinh TNHS của chủ thể nếu nó thuộc các 24 trường hợp được pháp luật hình sự quy định có TNHS và không rơi vào các trường hợp được loại trừ hoặc miễn TNHS theo quy định của BLHS. Vì vậy, hoàn thiện cơ sở pháp lý của TNHS đòi hỏi phải hoàn thiện những quy định về căn cứ xác lập TNHS và cả những quy định về căn cứ loại trừ và miễn TNHS, để không trường hợp nào có tội và không trường hợp nào gây thiệt hại nhưng không có TNHS mà không được luật hình sự quy định. Phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về căn cứ loại trừ và miễn TNHS được đưa ra dựa trên cơ sở đánh giá thực trạng của các quy định hiện hành về các trường hợp loại trừ và miễn TNHS. BLHS Việt Nam đã quy định một số trường hop gây thiệt hại khách quan được loại trừ TNHS do chủ thể không có lỗi.
Đó là: - Trường hợp không có năng lực TNHS (Điều 12, 13); - Trường hợp sự kiện bat ngờ (Điều 11); - Trường hợp phòng vệ chính đáng (Điều 15) và, ~ Trường hợp tình thé cấp thiết (Điều 16). Các trường hợp này có thể phân thành hai nhóm. Nhóm 1 gồm trường hợp không có năng lực TNHS và sự kiện bat 25 Các giai đoạn thực hiện tội phạm, đồng phạm và tô chức. Đó là các trường hợp chủ thể không có lỗi đối với hành vi gây thiệt hại khách quan của họ vì không có các yếu tố hợp thanh lỗi, biểu hiện ở chỗ chủ thể là người không có đủ điều kiện dé có lỗi hoặc hành vi gây thiệt hại không phải là kết quả của sự nhận thức và sự lựa chọn của chủ thể.
Nhóm 2 gồm phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết. Khác nhóm I, trong các trường hợp thuộc Nhóm 2 chủ thể không có lỗi do họ đã chủ động lựa chọn việc thực hiện hành vi tuy gây thiệt hại về khách quan nhưng phù hợp với lợi ích xã hội và được xã hội khuyến khích. Vì vậy, các trường hợp này được gọi là các tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Bên cạnh các trường hợp đã được BLHS quy định nêu trên, thực tiễn còn thừa nhận một số trường hợp khác được loại trừ TNHS mặc dù chủ thể đã gây thiệt hại về khách quan.
Đó là các trường hợp gây thiệt hại khách quan do: - Bị sai lầm hoàn toàn về sự việc; - Bị cưỡng bức hoàn toàn về tinh than; ~ Thi hành lệnh của cấp trên; ~ Thực biện chức năng nghề nghiệp; ~ Rui ro và, 26 Chương I. Hoàn thiện co sở pháp lý của trách nhiệm hình sự ~ Thực hiện việc bắt người phạm pháp)”. Để hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về căn cứ loại trừ TNHS, cần thiết phải quy định bổ sung vào BLHS các trường hợp được loại trừ TNHS đã được thực tiễn thừa nhận. Cụ thé, quy định bổ sung vào nhóm 1 trường hợp không có lỗi do bị sai lầm.
Các trường hợp còn lại có thé được quy định là các tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Cùng với việc hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về căn cứ loại trừ TNHS, cũng cần thiết phải sửa đổi. bỏ sung các quy định về miễn TNHS. Phương hướng hoàn thiện chế định tự ý nửa chừng cham dứt việc phạm tội theo quy định của Điều 19 BLHS và quy định bé sung về tự ý chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm sẽ được trình bay cụ thể trong Chương II và II.
'? Cụ thé về các trường hợp này có thé tham khảo trong: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phản chung, 1994 và Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam. Tập 1, Nxb CAND, Hà Nội, 2012, tr. 214-216 27 Chương II CÁC GIAI ĐOẠN-THỰC HIỆN TOI PHAM 1. Khái niệm các giai đoạn thực hiện tội phạm Nhiều nước trên thế giới, trong lý luận cũng như trên thực tiễn đều thống nhất thừa nhận quá trình thực hiện một i phạm có ý tiến triển qua ba giai đoạn: Chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành.
Nhưng việc quy định vấn đề này trong pháp luật của mỗi nước có sự khác nhau và liên quan chủ yếu đến giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt. Trong khi BLHS của nhiều nước quy định cụ thể về CTTP và trách nhiệm hình sự của hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt!” thì BLHS của một số nước khác lại chỉ quy định khái niệm và trách nhiệm hình sự của hành vi phạm tội chưa đạt, Ở Việt Nam cũng như ở nhiều nước khác, các giai đoạn thực hiện tội phạm được hiểu thống nhất trong khoa học '3 Ví dụ như BLHS của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, BLHS của Liên Bang Nga và BLHS của CHXHCN Việt Nam. ‘Vi dụ như BLHS của Cộng hỏa Liên Bang Đức. 28 Chương II.
Các giai đoạn thực hiện tội phạm luật hình sự là “các bước của qué trình có ý thực hiện tội phạm ""° hoặc “các mức độ thực hiện tôi phạm có ý "5, Tuy nhiên, nhận thức về từng nội dung cụ thể trong định nghĩa này có những điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng các bước (mức độ) của quá trình thực hiện tội phạm là các bước tiến triển nói tiếp nhau của quá trình thực iện tội phạm. Quá trình đó dừng lại ở giai đoạn nao thì xem xét trách nhiệm hình sự của người có hành vi ở giai đoạn đó. Việc xác định này không phụ thuộc vào nguyên nhân dừng lại.
Cho dù nguyên nhân dừng lại là nguyên nhân khách quan hay do chủ thê tự nguyện dừng lại thì vẫn đều xác định đó là chuẩn bị phạm tội hay phạm tội chưa đạt. Quan điểm khác lại cho rằng, các giai đoạn thực hiện tội phạm, nhất là chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt chỉ đặt ra đối với trường hợp bị dừng lại do nguyên nhân ngoài ý muốn. Các bước của quá trình thực hiện tội phạm bị dừng lại do sự tự nguyện của chủ thể không thuộc những khái này. BLHS Việt Nam thể rõ quan điểm này.
Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các bước của quá trình thực hiện tội phạm nhưng chỉ có thể là tội phạm cố ý '* Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, Phản chung, 1994, tr. 172 "© Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam. 29 Các giai đoạn thực hiện tội phạm, đồng phạm và tố chức. mà không phải là tất cả các tội phạm.
Về vấn đề này cũng, có hai quan điểm khác nhau. Thực tiễn xét xử ở Việt Nam từ trước đến nay không thừa nhận có giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt đối với những tội phạm với lỗi vô ý và cố ý gián tiếp. Trong các sách báo pháp lý, quan điểm phỏ biến cũng cho. rằng vấn đề các giai đoạn thực hiện tội phạm chỉ đặt ra đối với tội cố ý trực tiếp”.
Khác với quan quan điểm nay, có ý kiến cho rằng chuẩn bị phạm tội và đặc biệt là phạm tội chưa đạt vẫn có thể đặt ra đối với trường hợp phạm tội với lỗi cố ý gián tiếp'°, Chúng tôi cho rằng quan điểm này có cơ sở lý luận và đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn xét xử các tội phạm với lỗi cố ý gián tiếp.