Chương 1. Một số vấn dé lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra Chương 2. Thực trạng quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra Chương 3. Thực tiễn áp đụng và một số giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra.
10 PHAN NOI DUNG CHUONG 1. MOT SO VAN DE LY LUAN VE TRACH NHIEM BOI THUONG THIET HAI DO NGƯỜI CHUA THÀNH NIÊN GAY RA 1. Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hai do người chưa thành niên gây ra 1. Khái niệm bôi thường thiệt hai và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra “Trách nhiệm bồi thường thiệt hai” là một quy định quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của những người gánh chịu tôn thất đo hành vi vi phạm nghĩa vụ mà chủ thể khác gây ra.
Theo đó, khi người chưa thành niên là chủ thể gây thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra là căn cứ quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của những chủ thể bị thiệt hại. Người chưa thành niên được quy định tại khoản 1 Diéu 20 Bộ luật Dân sự 2015 “là người từ du 18 tuổi trở lên ”. Việc xác định một chủ thé là người chưa thành niên thông qua xác định độ tuổi căn cứ trên nhiều yếu tố bao gồm: Đặc điểm thé chat và tinh thần; khả năng nhận thức và làm chủ hành vi; quyền và nghĩa vụ pháp lý. Do người chưa thành niên là nhóm cá nhân chưa phát triển hoàn thiện về cả thể chất lẫn tâm lý, chưa có năng lực pháp luật đầy đủ nên họ chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân như người đã trưởng thành.
Bởi vậy, trong một số trường hợp, pháp luật quy định người chưa thành niên không thể tự mình thực hiện các giao dịch dân sự như người đã trưởng thành mà chỉ có thể thực hiện các giao dịch dân sự trong phạm vi pháp luật cho phép hoặc khi có sự đồng ý của người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra là một trong những trường hợp được quy định trong pháp luật dân sự. Dưới góc độ ngôn ngữ học, thiệt hại được hiểu là “mất mát, hư hong nang né về người va của "”. Dưới góc độ khoa học pháp lý, theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội, thiệt hại là “tồn thất về tinh mang, sức ? https://cspl.vn/Pages/T inTuc/tinchitiet.aspx?tintucid=138357, truy cập ngày 01/12/2023.
11 khỏe, danh du, uy tin, tai san của ca nhân, tô chức được pháp luật bảo vệ "3. Dưới góc độ luật thực định, Điều 305 Bộ luật dân sự 2005 quy định “Trach nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vat chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tôn thất về tinh than”. Bộ luật Dân sự 2015 không đề cập đến khái niệm “#ách nhiệm bồi thường thiệt hại ” mà chỉ quy định “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh du, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, loi ich hop pháp khác của người khác mà gây thiệt hai thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác ” (Điều 584). Như vậy, dưới góc độ ngôn ngữ học, khoa học pháp lý hay góc độ luật thực định thì thiệt hại bao gồm: Thiét hại về tinh than (sự tổn thất về cơ thể, sức khoẻ, sắc đẹp; sự tôn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín do người khác gây ra ảnh hướng đến tâm lý, gây suy sụp về cảm xúc nhưng không dẫn đến thiệt hại về tài sản); thiệt hại về vật chất (sự mat mát, hư hỏng do tài sản bị lay cắp, bị phá không lay lai duoc, không khôi phục được).
“Bồi thường” theo Dai từ điển tiếng Việt được hiểu là “đến bù những tốn thất đã gây ra”. Về mặt pháp lý, bồi thường được xác định như một trách nhiệm dân sự phát sinh để bù đắp các tổn thất về cả vật chất lẫn tinh thần cho bên bị hành vi vi phạm pháp luật hoặc không tuân thủ thỏa thuận gây ra thiệt hai. Do đó, bồi thường có thé được hiểu là việc bên gây ra thiệt hại phải bồi thường dé khắc phục mọi hậu quả về mặt vật chất và tinh thần do hành vi vi phạm đó gây ra. Trên cơ sở những nội dung vừa phân tích, tác giả đưa ra khái niệm bồi thường thiệt hại “là hinh thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên thực hiện hành vi gây thiệt hại bồi thường các ton thất về tai sản và tinh than cho bên bị thiệt hai”.
Về khái nệm “#ách nhiệm bồi thường thiệt hai”, trước hết, theo từ điển tiếng Việt, “rách nhiệm” có thê hiểu là phần việc được giao cho hoặc coi như giao cho, phải dam bảo hoàn thành, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu hậu quả; 3 Cao Cẩm Nhung (2015), Năng lực chịu trách nhiệm bôi thường thiệt hại ngoài hợp đông của cá nhân theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, tr. 4 Nguyễn Thị Oanh (2017), Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.8 12 cũng có thể là sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của họ, đảm bảo đúng đăn, nếu sai thì phải gánh chịu hậu quả”. Từ hai góc nhìn trên, có thé thấy “rách nhiệm” luôn bao gồm hai nội dung cơ bản: (1) những việc phải thực hiện, đã được thực hiện như nghĩa vụ, bến phận là nguyên nhân; (2) sự cam kết và chịu trách nhiệm đối với kết quả thực hiện nghĩa vụ, bến phận chính là kết quả tất yếu. Theo đó, trách nhiệm là các nhiệm vụ, công việc được giao, đòi hỏi cá nhân phụ trách phải cam kết thực hiện một cách đúng din và có trách nhiệm.
Trường hợp không thể đạt được kết quả mong muốn, người đó sẽ phải chịu trách nhiệm về hậu quả phát sinh. “Trach nhiệm pháp by” theo giáo trình lý luận Nhà nước và Pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội là: “hậu quả bất lợi (sự trừng phạt) đối với chủ thé vi phạm pháp luậi, thể hiện ở mối quan hệ đặc biệt giữa Nhà nước với các chủ thể vi phạm pháp luật, được các quy phạm pháp luật xác lập và điều chỉnh, trong đó chủ thể vi phạm pháp luật phải chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế được quy định ở chế tài các quy phạm pháp luật”.Š Như vậy, điểm đáng chi ý của trách nhiệm pháp lý chính là việc xác định và áp dụng các biện pháp hậu quả không mong muốn hoặc các biện pháp trừng phạt mà hệ thống pháp luật thiết lập dé thé hiện sự trừng phạt, răn đe đối với những hành vi vi phạm pháp luật và khôi phục lại tình trạng tương ứng với phần hậu quả mà người vi phạm đã gây ra do không thực hiện nghĩa vụ của minh. Các quốc gia khác nhau xây dựng quy định về trách nhiệm bôi thường thiệt hại khác nhau bao gồm phương pháp xác thiệt hại và hình thức bồi thường được áp dụng cho từng quốc gia. (1) Điều 709 Bộ luật Dân sự Nhật Bản quy định “Mộ/ người vi phạm do cổ ý hoặc do cầu thả mà vi phạm quyên của người khác thì phải bồi thường thiệt hại phát sinh từ việc vi phạm ây”.h (2) Diéu 1382 Bộ luật Dân sự 5 Viện Ngôn ngữ học, Trung tâm Từ điển học (2002), Tir điển tiéng Liệt, NXB.
Da Nẵng, tr. ® Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr.508 7 Ninh Thuy Ngọc (2015), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp dong do người chưa thành niên gây ra theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, tr.8 13 Pháp quy định “Bat cứ ai làm việc gì gây thiệt hại cho người khác thì người đó phải bồi thường thiệt hai do lỗi của minh gây ra ”. Dù nội dung thé hiện khác nhau nhưng những quy định này đều hướng tới một mục đích chung, chính là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể bị thiệt hại do hành vi vi phạm của chủ thể gây thiệt hại. Tương tự pháp luật của các quốc gia khác, pháp luật Việt Nam cũng không quy định cụ thể khái niệm “#ách nhiệm bồi thường thiệt hai” mà chi tập trung vào quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm, nguyên tắc bồi thong, chủ thé chịu trách nhiệm bôi thường.
tại Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015. Từ những phân tích nêu trên, có thé nhận thấy rằng mặc du có nhiều định nghĩa khác nhau về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nhưng tất cả đều mang một đặc điểm chung là khi một cá nhân gây ra thiệt hại cho người khác thông qua hành vi của minh, thì phải chịu trách nhiệm với hậu quả tiêu cực do hành động đó gây ra bằng cách bôi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại. Điều này là đúng với quy luật của xã hội, dù là người thành niên hay người chưa thành niên cũng phải đều tôn trọng nguyên tắc chung của cuộc sống, không được phép xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thê khác vì lợi ích của mình. Dựa trên khái niệm người chưa thành niên và những phân tích về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, tác giả rút ra khái niệm về trách nhiệm bôi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra /à rách nhiệm pháp lý mà theo đó, chủ thé có trách nhiệm và khả năng bồi thường thiệt hại phải dén bù các tồn thất về vật chất và tinh thần do hành vi trái pháp luật của người chưa thành niên gây ra.
Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra là một loại trách nhiệm pháp lý đặc biệt, không chỉ mang những đặc điểm chung của trách nhiệm bôi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà còn có những đặc điểm riêng biệt: 8 Ninh Thuý Ngọc (2015), Trach nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người chưa thành niên gay ra theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, tr.