CHƯƠNG 1: LÝ LUAN VE DIEU TIẾT PHAN GIÁ TRI TANG THEM TU DAT DAI MÀ KHÔNG DO DAU TU CUA NGƯỜI SỬ DUNG DAT MANG LAI ll. Khai quátvề giá trị tăng thêm từ đất 1. Khái tiệm về giá trị tăng thêm từ dat Các van dé liên quan dén giá đất đều tác động trực tiép tới chính sách tải chính về dat đai, bao gồm cả việc điêu tiết giá trị tăng thêm từ đất Do đó, dé tim hiéu về giá tri tăng thêm từ dat thi trước tiên cân định ngiĩa thuật ngữ giá dat mà các nhà chính sách thường nhac đến trong van đề quản ly dat đai nói chung Khác với tài sản thông thường khác, đất dai là tai nguyên thiên nhiên, không phải là sản phẩm lao động của con người nên giá đất không phản ánh gid thành sản xuất hay giá trị vật chất của tải sản đất mà là giá trị các quyền và lợi ích thu được từ dat đai. Nói cách khác, giá đất thê hiện kha năng sinh lời từ đất cũng như hiệu quả đầu tư vào dat đem lại, giá dat không được xét dén dưới góc dé tư nhiên phải gin liên với sức lao động của con người.
Với chê độ sở hữu dat đai toàn dân, Việt Nam không công nhận quyên sở hữu tư nhân đôi với đất đai nên giá đất là giá mr của QSDD tính trên điện tích đất Có thé hiểu một cách tổng quát ring giá đất là giá trị bằng tiên ma một người phải trả để có QSDĐ, quyền được khai thác, hưởng lợi ích từ việc sử dung thủa dat phù hợp với quy đính pháp luật, Giá trị này khó có thé dong đếm mét cách chính xác mà mang tính ước lượng trong một thời điểm nhật định Nhà nước quyết định về giá đất như la mét công cụ dé quản ly và điều tiết quan hệ đất đai Do đó, ở nước ta, giá đất không chỉ nai về giá tri của QSDĐ được giao dịch trên thị trường mà còn là giá dat do Nhà nước ban hành. Giá đất bị chi phối không chỉ bởi nguyên nhân khách quan như kinh tê, vi tri dia lý, yêu tô môi trường, thoi hạn sử dung mục dich sử dụng đất ma còn bị ảnh: hưởng từ môi quan hệ giữa con người với con người nhw tâm lý xã hội, nhu cầu sử dung dat, khei thác dau tư vào đất. Dén một thời điểm nhật định, các yêu tô này tác ' Theo quy định tại Khoản 19 Điều3 Luật Dat dai 2013; 11 đông ngược trở lại giá đất, khién giá dat tăng lên theo thời gian, khi do sẽ dan dén van dé về giá trị tăng thêm từ dat. Hiên nay, pháp luật chưa có cách liệu chính thức và thống nhật về GTTT từ dat mà được các nhà làm luật nghiên cứu dưới góc độ lý luận Vé mặt từ ngữ, GTTT ám chỉ đền quá trình đóng góp của các nhân tổ khách quan và chủ quan lam tăng thêm giá trị một hàng hoa so với giá trị ban dau.
Các giá trị nay được đưa vào lưu thông, trao đôi vật chất và trở thành thu nhập cho người sở hữu hàng hóa đó. Do đất là loai hang hóa đắc biệt trong nên kinh tê, ban thân đất dai không có giá trị riêng ma cân có tác động từ việc con người sử dung đất và đính giá dat. Theo đỏ, có thé liều GTTT từ dat chính là quá trình mà cơn người khai thác va tạo nên lợi ích từ đất, tạo ra sự chênh lậch giá trị giữa giá trị sau khai thác so với giá trị đất đai ban đầu trước khi có sự tham gia sử dung, quản lý dat đai của con người. GTTT từ đât có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, có hai cach phân loại chính dựa trên đối tượng bi tác động và yêu tổ chủ thê.
- Căn cử theo đối tương bi tác động là dat dai, các yêu tô lam gia tăng giá tri bao gồm cả yêu tố tự nhiên thuộc về dat dai môi trường (như vi trí Khu vực, đô phi nhiéu, mau mỡ, dia hình, dia chất.) và yêu tô bên ngoài đất đai (như tài sản gắn liên với dat, công trình cơ sở ha tang tai các khu vực xung quanh, yêu tô văn hóa lich sử, tâm linh. Các yêu tô nay có môi quan hệ tương hỗ và tác động qua lai, một thửa dat có vị tri thuận lợi, dat đai màu mỡ nhiéu chất không bi tro hay căn cối sẽ dễ dàng được chú ý và đầu tư xây dụng công trinh, trồng trot, chăn nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên mà khu đất mang lại, thuận lợi phát triển cơ sở hạ tang dich vụ di kèm Ngược lại, thửa đất ở vị trí hiểm trở, khó tiếp cân, đất kém định dưỡng thi tan kém nhiêu chi phí để bôi dap, cải tao dat đai trước khi triển khai bat kỳ hoạt đông, dịch vụ nào khác. Cách phân chia này tập trung vào việc sử dụng đât phù hợp với mục dich sử dung dat theo quy đính, mac dù vay, no chưa thé hién đúng bản chat có sự tác động của cơn người làm tăng giá trị dat dei. Do đó, theo tác giã, cách phân chia này phù hợp hơn khi nghiên cứu vấn dé môi trường mà không phéi là pháp luật về quản lý va sử dung dat dai, quyên, nghĩa vu của người có quyên sử dung dat đối với đất dai.
- Căn cứ vào chủ thé, giá tri dat đai tăng thêm do ba chủ thé chính sau, bao gom (i) tác động trực tiếp từ NSDD như cải tao dat đai, xây dụng, tao dung nên tài sản gắn liên với thửa dat ma minh có quyền sử dụng, hoặc (ii) do chính sách quan lý dat đai của Nhà nước, Nhà nước có quyền của đại diện chủ sở hữu dat dai và quyết đính các vân đề như quy hoạch sử dụng dat, kê hoạch sử đụng dat, mục đích sử dung đất, thu hôi đất., hoặc (iii) do chr án dau tư có sử dung đất của nha dau tư. Việc phân chia này được đất ra 1a bởi đây là các đổi tượng gần gũi và có thể tác đông dén việc sử dung dat đai noi chung. Do chế dé sở hữu dat đai toàn dan nên can có sư tham gia quan lý từ Nhà nước và sự phối hợp với NSDĐ. Ngoài ra, chủ thé không thể thiêu là nhà dau tư chr án đầu tư có sử dụng dat.
Theo đó, vì mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, các dur án đầu tư được phê duyệt và cân diện tích dat đai nhất đính dé thực hiện dự án, khi các thừa dat trong không còn nhiêu thi việc phải thu gom đất dai từ NSDĐ là điều không tránh khỏi. Chính các dur án này sẽ tác động đến quyên lợi của NSDĐ nhưng ở khía canh kinh tế, hoat động của các nha đầu tư cũng đông thời làm tăng thêm giá trị đất đai do được đầu tư phù hợp với quy hoạch và nhu câu phát triển, chính sách từ Nhà nước. Mac di vậy, để Nhà đầu tư có thể thực biện được dự án thì không thé thiêu sự tác đông về mặt chính sách của Nha ước đã tao điều kiện cho Nhà đầu tư thực hién Do đó, trong SỐ các yêu tổ tạo nên. GTTT từ dat thì Nhà nước đóng vai trò trung tâm, có khả năng tạo ra giá tri gia ting lớn nhật, hiệu quả nhật va ôn định nhật, dong thời có công cụ dé điều tiết lại các lợi ích, nghĩa vụ của các chủ thé con lei thông qua các công cụ chính trị khác nhau Ngoài các yêu tô trên là cơ bản, trong tâm thi giá dat cũng có thé tăng mat cách tự nhiên do tính khan hiém và ngày cảng có xu hướng khan hiém hon.
Dat đai không thể sẵn sinh thêm song nhu câu cho tat cả các ngành, các lính vực va nhu cầu của mỗi chủ thé sử dụng về dat ngày càng có xu hướng tăng Do đó, da được đầu tư hay không đầu tư, yêu tô khan hiém cũng làm cho giá tri của dat dai tăng thêm 13 Với cách diễn giải trên, khi nói đến GTTT từ dat không do dau tư của NSDD mang lại chính là noi đến Việc loại trừ yêu đỗ đầu tư của NSDĐ và nhân mạnh vào vai trò tác động của Nhà nước đối với giá đất (thông qua quy hoạch sử dung dat, cho phép chuyên đổi mục đích sử dung đất, thông qua việc mở mang đô thị, khu công nghiệp, thông qua các chính sách tai chinh về dat dai. V ê lý luận, đã xác đính phân GTTT tử đất không do dau tư của NSDĐ mang lại thi cân phân biệt giá trị trước đầu tư và sau dau tư vào đất đai và giá trị nào do NSDĐ trực tiếp khai thác đầu tư (giá von ma NSDĐ bỏ ra), giá tri nào NSDĐ được hưởng lợi gián tiếp. Theo đó, NSDĐ đủ không có hoạt động gì làm tăng giá trị đất đai nhưng vẫn được hưởng lợi từ những hoat động của Nhà nước. Xem xét một dự án đầu tư đơn gién như sau: do nlm cầu tiếp cận nước sạch.
noi công cộng, chính quyên địa phương phê duyệt phương án lap đặt hệ thông phân phối nước tại các khu vực công công, đông dân cư Các công trình được xây dụng bởi Nhà dau tư (sử dung NSNN, ngân sách tư nhân hoặc kết hợp) và được chuyển giao cho bên vân hành khai thác quân lý thu phí đổi với dich vụ ha tang này. Việc lap dat hệ thong cập nước trong sẽ làm tăng giá trị dat ở do. Những loi ich ma người tiêu ding gan cho việc tiếp cân với nước máy sẽ được von hóa thành giá tri dat dai trong khu vực tiép cân NSDĐ hay nha đầu tư sẽ có thé năm bat được lợi ich từ giá trị dat bằng việc chuyên nhượng, chuyên quyên sử dung thửa dat sau khi đã được phát triển. Sự cạnh tranh trong thị trường sẽ đảm bảo rằng, miễn là lợi ích về giá trị dat dai từ việc xây dung các hệ thông nước sach vượt quá chi phí xây dựng, thì phạm vi lợi ích từ việc cung cập nước sẽ được mở rộng sang các thủa dat xung quanh.
Co thê thay, việc xác định đúng GTTT từ dat và chủ thê nào được hưởng loi hay chiu thiệt từ sự thay đổi giá trị dat đai không đơn giản Từ những phân tích trên. và trong phạm vi nghiên cửu pháp luật về điều tiệt GTTT tử dat, tác giả khái quát lại khái niém về GTTT từ dat rửư sau: GTTT từ đắt hay giá trị dat đai tăng thêm được hiểu là phần chênh lệch giá trị của một thửa dat theo thời gian và sau một quá trình dau tư, khai thác nhất định của 14 con người.