CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE THU LY VU ÁN DAN SỰ 1. KHÁI NIEM, BAN CHAT VA Ý NGHĨA CUA THU LÝ VU ÁN DAN SU 1. Khái niệm vụ án dân sự và quyền khởi kiện vu án dân sự Vụ án dân sự, quyền khởi kiện VADS và thụ lý VADS là những vấn đề có mối liên hệ mật thiết với nhau. Khi chủ thé của quyền khởi kiện thực hiện quyền khởi kiện của mình thì Toà án mới xem xét thụ lý.
Vì vậy khái niệm thụ lý VADS được xem xét gan liền với khái niệm VADS và quyền khởi kiện VADS. Khai niém vu an dan su Trước khi BLTTDS ra đời, theo quy định của PLTTGQCVADS, PLTTGQCVAKT và PLTTGQCTCLD tổn tại 3 khái niệm vụ án dân sự, vu án kinh tế, vụ án lao động. Theo đó vụ án kinh tế bao gồm các tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh; các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thé công ty; tranh chấp liên quan đến việc mua bán cô phiếu, trái phiếu và các tranh chấp kinh tế khác theo quy định của pháp luật. Vụ án lao động bao gồm các tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động và người sử dụng lao động về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác; về thực hiện hợp đồng lao động và trong quá trình học nghé; tranh chấp lao động tập thể giữa tập thé người lao động và người sử dụng lao động về thực hiện thoả ước lao động tập thể; về quyền thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn.
VADS bao gồm những tranh châp và những việc không có tranh châp về dân sự và hôn nhân gia đình như: tranh chấp về quyền sở hữu, hợp đồng, bồi thường thiệt hai ngoài hợp đồng hoặc những tranh chấp khác; việc xác định công dân mất tích hoặc đã chết. Năm 2004 BLTTDS ra đời, khái nệm VADS được khái quát hơn. VADS bao gồm các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (gọi chung là vụ án dân sự) thuộc thâm quyền giải quyết của Toà án và có đương sự yêu cầu Toà án giải quyết. Khái niệm kinh tế được thay băng khái niệm kinh doanh thương mại.
Theo BLTTDS khái niệm VADS được mở rộng rất lớn xét theo phạm vi loại việc, bởi ngoài những tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình còn bao gồm các tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật kinh doanh, thương mại và lao động. Tuy vậy, BLTTDS lại thu hẹp về nội dung loại việc bởi VADS chỉ bao gồm những loại việc có tranh chấp [10, tr 30-31]. Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng “Vụ là việc, sự việc không hay, rắc rồi cần phải giải quyết” [47, trl279]; “Dân su (civil administration) thuộc việc của dân dé phân biệt với việc của quan” [47, tr36]. Theo Dai từ điển tiếng Việt “Án là vụ việc phải đưa ra xét xử ở toa” [45, tr34].
“Dân sự là việc liên quan đến dân nói chung” [45, tr 520]. Những việc liên quan đến dân gồm những quan hệ nhân thân, tài sản, những vẫn đề về hôn nhân gia đình, kinh tế, lao động. Trong các mối quan hệ này khi các bên trong quan hệ có mâu thuẫn, rắc rối, không thống nhất được ý kiến với nhau về quyền và lợi ích được gọi là xảy ra tranh chấp. Tranh chấp là sự giành giật, mâu thuẫn, bất đồng ý kiến về quyên và lợi ích giữa các chủ thé.
Như vậy ta có thé hiểu VADS là những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ liên quan đến dân và phải đưa ra xét xử ở Toà án. Theo nghĩa hẹp VADS chỉ bao gồm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình. Tuy vậy về cơ bản thủ tục giải quyết các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế và lao động là giống nhau, đều là tranh chấp giữa các cá nhân, cơ quan, to chức có quyền và nghĩa vụ tố tụng ngang nhau nên theo nghĩa rộng, vu án dân sự là các tranh chấp giữa các cá nhân, cơ quan, tô chức vé quyên và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, được dua ra Toa an giải quyết theo quy định của pháp luật to tụng dân sự. Trong luận văn tác giả đề cập đến khái niệm VADS theo nghĩa này.
Đặc trưng của VADS là có sự tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa hai bên hay nhiều bên đương sự trong mối quan hệ pháp luật. Trong quan hệ đó một bên có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, yêu cầu bên kia phải thực hiện nghĩa vụ là làm một việc hoặc không được làm một việc. Nghĩa vụ này phát sinh từ những quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được pháp luật bảo vệ. Yếu tố tranh chấp được coi là yếu tố quan trọng hàng đầu dé xác định có là VADS hay không.
Và đây cũng chính là yếu tố dé phân biệt giữa VADS và việc dân sự. Theo Điều 311 BLTTDS quy định "Việc dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu Toa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý làm căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, to chức khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyên về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động”. Trong VADS ta có thể xác định được các bên là nguyên đơn (người có đơn khởi kiện); bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng trong việc dân sự vì không có tranh chấp nên chỉ xác định được bên yêu cầu còn bên kia có thé xác định hoặc không xác định [44, tr 5]. Vì ở VADS giữa các đương sự có tranh chấp nên thủ tục giải quyết VADS có nhiều khác biệt với thủ tục giải quyết việc dân sự.
Theo quy định của BLTTDS khi giải quyết VADS, Toà án phải mở phiên toà với đầy đủ thành phần theo quy định của pháp luật tố tụng. Còn khi giải quyết việc dân sự Toà án chỉ mở phiên họp. Thời hiệu khởi kiện VADS là 2 năm trong khi thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là một năm và thời hạn chuẩn bị xét xử VADS dài hơn thời hạn giải quyết việc dân sự. Khi giải quyết VADS Toà án có thể phải ra một bản án còn khi giải quyết việc dân sự chỉ phải ra quyết định.
Do thủ tục giải quyết VADS và thủ tục giải quyết việc dân sự có những khác nhau cơ bản nên khi nhận đơn khởi kiện Toà án phải xác định ngay đó là VADS hay việc dân sự để thụ lý giải quyết đúng thủ tục. Khai niệm quyền khởi kiện vụ án dán sự Hiến pháp năm 1992 quy định: “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thé hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luat”(Diéu 50). Trong đó quyền dân sự có ý nghĩa rất quan trọng, theo đó cá nhân, tổ chức được thực hiện các hành vi theo quy định của pháp luật nhằm thoả mãn lợi ích của mình như lao động, sản xuất kinh doanh để tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu của bản thân và xã hội tham gia vào các giao dịch dân sự. Khi quyền và lợi ích của họ bị xâm phạm hay tranh chấp thì họ có quyền thực hiện những biện pháp mà pháp luật cho phép để bảo vệ và một trong những biện pháp đó chính là khởi kiện vụ án.
Quyền khởi kiện phát sinh từ quyền được pháp luật bảo hộ các quyền dân sự hợp pháp. Quyên khởi kiện vụ án dân sự là quyên năng t6 tụng cơ bản của cá nhân, cơ quan, tô chức theo quy định của pháp luật tô tung dân sự yêu câu Toà án bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác khi có tranh chấp về quan hệ dán sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mai, lao động. Theo Điều 4 và Điều 5 BLTTDS cá nhân, cơ quan, tô chức có quyền 10 khởi kiện VADS tai Toà án có thâm quyền dé yêu cầu Toa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác. Việc thực hiện quyền khởi kiện của đương sự phải tuân theo quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện, năng lực chủ thể, thâm quyền của toa án.
Khi quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm chủ thé có quyên và lợi ich bi xâm phạm có quyền tự định đoạt khởi kiện hoặc không khởi kiện đến Toà án yêu cầu bảo vệ. Việc khởi kiện được thực hiện bằng hình thức nộp đơn khởi kiện tại Toà án có thâm quyên. về nguyên tắc chỉ có cá nhân, cơ quan, tô chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có lợi ích bị xâm phạm mới có quyên khởi kiện để yêu cầu Toà án bảo vệ quyên lợi của minh. Nhung dé tất cả quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm đều được bảo vệ, pháp luật quy định “Cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình có quyên khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình trong trường hợp do Luật hôn nhân và gia đình quy định.
Công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của tập thé người lao động do pháp luật quy định. Cơ quan, tô chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Toà án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách”(Điều 162 BLTTDS). Tóm lại, theo quy định của pháp luật Việt Nam các đương sự hoàn toàn tự do lựa chọn các biện pháp dé bảo vệ quyên lợi của mình. Nhà nước chính thức xác nhận quyền khởi kiện VADS của các cá nhân, cơ quan, tô chức yêu cầu Toà án bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của mình.