Chương I MỐI QUAN HỆ GIỮA LUẬT DÂN SỰ VÀ LUAT KINH TE 1. KHÁI QUÁT VỀ LUẬT KINH TẾ VÀ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 1. Khái quát về luật kinh tế Quan niệm về luật kinh tế Quan niệm về luật kinh tế được biết đến ở các nước tư bản từ những năm đầu của thế kỷ XX, khi trong nền kinh tế xuất hiện những nhân tố mới như: sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế, sự phát triển của kinh tế nhà nước, sự xuất hiện độc quyền v. Những người theo trường phái luật kinh tế cho răng, sự phân chia truyền thống pháp luật tư sản ra luật công và luật tư, trong hoàn cảnh đó không còn có ý nghĩa mà cần có một ngành luật mới đó là luật kinh tế (x03/ICTB€HHO€ IIDABO, economic law) - ngành luật nằm ở chỗ giáp ranh giữa luật công và luật tư.
Về vấn đề này, theo GS.TS Mazolin thì sự xuất hiện trường phái này (trường phái luật kinh tế) liên quan đến thời kỳ chuẩn bị chiến tranh thế giới thứ nhất, khi ở nước Đức, vấn đề tăng cường sự can thiệp của Nhà nước vào lĩnh vực các quan hệ kinh tế được đặt ra trước mắt để động viên các nguồn nhân lực, vật lực. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, cơ sở lý luận của luật kinh tế được các luật sư Đức (Keyman, Gedeman, Kleyzing), Y (Mocca) và Tay Ban Nha (Polo) nghiên cứu rất day đủ và chi tiết. Về sau, trường phái nay được thể hiện trong một số tác phẩm của các tác giả người Pháp (Amel, Lagard) [74, tr. Theo quan điểm của những người theo trường phái này, luật kinh tế điều chỉnh các quan hệ kinh tế phát triển dưới sự tác động và do sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế.
Nội dung của luật kinh tế gồm có: Luật thương mại, luật lao động, luật điều chỉnh sở hữu công nghiệp và một số chế định, quy phạm của luật dân sự có có áp dụng pháp luật công (quan hệ dân sự do các chế định, quy phạm này điều chỉnh có sự can thiệp của Nhà nước). Trong nội dung của luật kinh tế theo quan niệm này thì luật thương mại có vi trí quan trọng nhất. Cho đến nay, vấn dé này vẫn được GS.TS Friedrich Kubler khang định lại khi trả lời câu hỏi về sự độc lập của ngành luật kinh tế tại Hội thảo về pháp luật kinh tế Cộng hòa Liên bang Đức tháng 12/1990 tại Hà Nội. Theo ông, luật kinh tế không thuần túy thuộc công pháp hoặc tư pháp mà nó trùm lên cả công pháp và tư pháp, có vấn đề thuộc công pháp và có vấn đề thuộc tư pháp [36, tr.
Sau Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, cùng với việc thiết lập chính quyền chuyên chính vô sản, giai cấp công nhân và nhân dan lao động đã thiết lập chế độ sở hữu hoàn toàn mới - chế độ sở hữu XHCN về tư liệu sản xuất. Sở hữu XHCN về tư liệu sản xuất là cơ sở của nền kinh tế quốc dân XHCN. Hầu hết mọi chủ trương chính sách của các đảng cộng sản và các nhà nước XHCN đều nhằm phát triển tối đa hình thức sở hữu này. Các hình thức sở hữu khác (sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất) hầu như không được quan tâm đến.
Mặt khác, như GS, VS Laptev khẳng định: "Nhà nước xã hội chủ nghĩa không chỉ thực hiện quyền lực chính trị, mà chính nó còn kinh doanh” [72, tr. Như vậy, Nhà nước XHCN không chỉ là trung tâm quyền lực chính trị mà còn là trung tâm kinh tế. Với tư cách là người chủ sở hữu tư liệu sản xuất chủ yếu và là người nắm quyền lực chính trị, Nhà nước XHCN trực tiếp tiến hành hoạt động kinh tế và lãnh đạo hoạt động đó. Tất cả các tình tiết đó có ý nghĩa quan trọng để nhận thức bản chất của luật kinh tế trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung ở các nước XHCN nói chung và 6 nước ta nói riêng.
Mặc dù, ở các nước XHCN trước đây có các điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội tương đối giống nhau nhưng quan niệm về luật kinh tế cũng 10 không hoàn toàn thống nhất với nhau. TS Nguyễn Như Phát đã nhận xét: "Ngay trong phạm vi các nước XHCN trước đây, ở Liên Xô luật kinh tế chưa được chính thức công nhận, ở Cộng hòa dân chủ Đức nó được coi là một ngành luật độc lập và Tiệp Khác là quốc gia xã hội chủ nghĩa duy nhất có trong hệ thống luật của mình một Bộ luật Kinh tế” [51, tr. Thậm chí, ngay ở trong một nước như Liên Xô (cũ), trong mỗi thời kỳ lịch sử, cũng có nhiều quan niệm khác nhau về luật kinh tế. - Theo Tônxtôi và Alekxaev (người theo trường phái luật kinh tế là ngành luật tổng hợp), luật kinh tế được chia ra luật dân sự kinh tế và luật hành chính kinh tế, luật kinh tế được nghiên cứu như là một "cấu trúc thứ sinh” trong hệ thống pháp luật Xô viết [75, tr.
- Có trường phái khác lại cho rằng luật kinh tế điều chỉnh các quan hệ kinh tế trong lĩnh vực kinh tế nhà nước. Các quan hệ được coi là đối tượng điều chỉnh của luật kinh tế là những quan hệ sản xuất do Nhà nước tổ chức dưới hình thức hàng hóa - tiền tệ, giữa các tổ chức nhà nước và các bộ phận cấu thành của chúng [70, tr. Trường phái kinh tế này có thể tạm gọi là "trường phái hang hóa", bởi vì nó chỉ bao hàm những quan hệ kinh tế dưới hình thức hàng hóa - tiền tệ. - Theo Kraxavchikov, luật kinh tế là tổng thể văn bản pháp quy chứa đựng các quy phạm của nhiều ngành luật khác nhau có liên quan mật thiết với nhau [7], tr.VS Laptev - người đứng đầu trường phái luật kinh tế trong những năm 60, 70 thế kỷ trước: Là một ngành luật, luật kinh tế là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định trật tự quản lý và thực hiện các hoạt động kinh tế và điều chỉnh các quan hệ kinh tế giữa các tổ chức kinh tế XHCN cũng như các đơn vị cấu thành bên trong của nó với việc vận dụng nhiều phương pháp điều chỉnh khác nhau [72, tr.
Như vậy, những người theo trường phái luật kinh tế của GS.VS Laptev cho răng luật kinh tế là ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Xô viết, điều chính các quan hệ giữa các tổ chức kinh tế XHCN và các bộ phận cấu thành của chúng trong lãnh đạo và thực hiện các hoạt động kinh tế. Những quan hệ này được gọi là các quan hệ kinh tế và phát sinh trong quá trình tái sản xuất XHCN. Tất nhiên, đối tượng điều chỉnh của luật kinh tế không phải là tất ca các quan hệ phát sinh trong quá trình tái sản xuất XHCN ma chỉ một phần các quan hệ đó - các quan hệ kinh tế, với đặc trưng quan trọng nhất của chúng là trong các quan hệ đó bao giờ cũng kết hợp hài hòa yếu tố tài sản và yếu tố tổ chức - kế hoạch. Ngoài ra, những người theo trường phái này còn khẳng định rằng, luật kinh tế không chỉ có đối tượng điều chỉnh riêng mà còn có phương pháp điều chỉnh và các nguyên tắc riêng.
Ở Việt Nam, vào những năm 60, 70 của thế kỷ XX, nhân dân ta phải thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược, đó là giải phóng miền Nam thống nhất đất nước và xây dựng CNXH ở miền Bac. Trong quá trình xây dựng CNXH ở miền Bac chúng ta có những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cơ bản tương tự như Liên Xô và các nước Đông Âu, do đó chúng ta đã áp dụng cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung như các nước đó. Đó là lý do cơ bản để lý giải cho sự tác động của khoa học pháp lý của Liên Xô và các nước Đông Âu đối với khoa học pháp lý nước ta. Có thể nói, trong thời kỳ này, Việt Nam đã tiếp thu hoàn toàn các quan điểm lý luận về luật kinh tế là ngành luật độc lập của GS.VS Laptev mà không có sự tranh luận gay gắt nào xảy ra.
Lí giải cho thực tế này, TS Nguyễn Như Phát cho rằng, có hai lý do cơ bản: Thứ nhất, khi lý luận về luật kinh tế được truyền bá vào khoa học pháp lý Việt Nam thì nói chung toàn bộ hệ thống khoa học pháp lý Việt Nam còn non trẻ. Vì vậy, lý luận luật kinh tế không vấp phải sự phản kháng của những lực lượng khoa học 12 hùng mạnh. Thứ hai, vào những năm 70 các nhà khoa học tiền bối như Ta Như Khuê, Vũ Dinh Hoe, Nguyễn Ngọc Minh, Nguyễn Niên, Tran Trọng Huu. truyền bá hệ thống lý luận luật kinh tế vào Việt Nam thì lúc đó luật kinh tế ở Liên Xô và các nước Đông Âu dang thang thế va đã trở thành một ngành luật độc lập [50, tr.
Hơn nữa, nếu ở các nước Liên Xô và Đông Âu, sự ra đời của luật kinh tế vấp phải sự kháng cự quyết liệt của giới lý luận luật dân sự và luật hành chính thì ở Việt Nam cả luật dân sự lẫn luật hành chính tại thời điểm lý luận về luật kinh tế được du nhập vào Việt Nam còn chưa phát triển. Do đó, lý luận về luật kinh tế đã phát triển một cách khá thuận chiều. Chính vì vậy, quan niệm về luật kinh tế trong giới lý luận cũng như các nhà thực tiễn ở nước ta lúc bấy giờ không có gì khác so với quan niệm của GS.VS Laptev như đã trình bay ở trên. Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đã làm thay đổi cơ bản tính chất của các quan hệ trong kinh doanh.
Những quan hệ trong kinh doanh (trước đây thuộc đối tượng điều chỉnh của luật kinh tế) có những tính chất cơ bản giống những quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh. Trong hoàn cảnh đó, vào những năm 90 của thế kỷ XX, ở một số hội thảo khoa học đã xuất hiện việc tranh luận về sự tồn tại của luật kinh tế. Kết quả của việc tranh luận đó là tiếp tục công nhận sự tồn tại của luật kinh tế với tư cách là một ngành luật trong hệ thống pháp luật nước ta. Tuy nhiên, nội dung của luật kinh tế phải được đổi mới cho phù hợp với sự thay đổi của các quan hệ kinh tế, phải phản ánh được đời sống kinh tế - xã hội của đất nước.
Hiện nay ở nước ta, luật kinh tế vẫn được quan niệm là: "Tổng thể các quy phạm pháp luật.