Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận của hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự. Chương 3: Thực trạng pháp luật và hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự. Chương 4: Giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự.
6 C ươ g 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI Hoàn thiện pháp luật là một đòi hỏi khách quan trong hoạt động tư pháp của bất cứ nhà nước nào. Ở nước ta, trong xu thế hội nhập quốc tế và thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, tăng cường quản lý xã hội bằng pháp luật cũng đang đặt ra nhu cầu bức xúc về hoàn thiện pháp luật nói chung và hoàn thiện pháp luật về XLV L trong TH DS nói riêng. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII tại Đại hội VIII đã đưa ra quan điểm chỉ đạo công tác xây dựng pháp luật như sau: Ban hành các đạo luật cần thiết để điều chỉnh các lĩnh vực của đời sống xã hội. Ưu tiên các luật về kinh tế, về các quyền công dân và các luật điều chỉnh các hoạt động văn hóa, thông tin.
Coi trọng tổng kết thực ti n Việt Nam, nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, ban hành các văn bản luật với những quy định cụ thể, d hiểu, d thực hiện. Giảm dần các luật, pháp lệnh chỉ dừng lại ở những nguyên tắc chung, muốn thực hiện được phải có nhiều văn bản hướng dẫn thi hành [1]. Tại Đại hội IX, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh vai trò lập pháp của Quốc hội: "Kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, trọng tâm là công tác lập pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đổi mới quy trình ban hành và hướng dẫn thi hành luật" [2]. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX tại Đại hội X của Đảng cũng chỉ r : "Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định pháp luật" và "Đổi mới hơn nữa quy trình xây dựng luật, giảm mạnh việc ban hành pháp lệnh" [3].
Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ XI tiếp tục khẳng định chủ trương đẩy mạnh hoàn thiện pháp luật [4]. Bên cạnh đó, các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X và XI của Đảng đã khẳng định nhất quán chủ trương xây dựng, hoàn thiện bộ máy nhà nước cũng như hệ thống pháp luật Việt Nam cùng với quá trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 [10] và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 [11] của Bộ Chính trị ra đời có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là định hướng và cơ sở chính trị quan trọng để xây dựng, hoàn 7 thiện pháp luật, đáp ứng yêu cầu của thực ti n xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và đẩy mạnh hội nhập quốc tế. Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị đã đánh giá một cách khái quát về công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước ta.
Theo đó, sau gần hai mươi năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đã có những tiến bộ quan trọng. Tuy nhiên, nhìn chung, hệ thống pháp luật nước ta vẫn chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống. Trước thực trạng đó, Nghị quyết đã đặt ra mục tiêu: Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, góp phần đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 [10]. Có thể nói, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị đã định hướng r cho công cuộc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nước ta.
Những quan điểm chỉ đạo cơ bản của Nghị quyết là cơ sở và nền tảng để xây dựng, hoàn thiện pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật về XLV L trong TH DS nói riêng. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị đã xác định mục tiêu của cải cách tư pháp là "Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết cũng đã đề ra nhiều quan điểm tiến bộ, toàn diện, tổng thể và có tính đột phá cho tiến trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật và cải cách tư pháp. Trong đó, một trong những nhiệm vụ cơ bản được đề ra là cải cách tổ chức và hoạt động các cơ quan TH.
Nghị quyết xác định: Chuẩn bị điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để giao cho Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý công tác thi hành án. Xác định r trách nhiệm của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và của cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trong việc thi hành các 8 hình phạt không phải là hình phạt tù để thực hiện nghiêm túc các bản án của tòa án. Từng bước thực hiện việc xã hội hóa và quy định những hình thức, thủ tục để giao cho tổ chức không phải là cơ quan nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án [11]. Như vậy, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị đã xác định là cần đổi mới tổ chức và hoạt động cơ quan TH.
Đây cũng chính là cơ sở chính trị quan trọng để hoàn thiện pháp luật về TH DS nói chung, pháp luật về XLVPPL trong THADS nói riêng. Bên cạnh đó, vấn đề xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu khoa học, đáng chú ý là một số công trình, bài viết như sau: Cuốn "Nghiên cứu tư tưởng Hồ chí Minh về nhà nước và pháp luật" 1993 của Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp đã nghiên cứu và phân tích những nội dung cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh trong vấn đề xây dựng nhà nước và hệ thống pháp luật Việt Nam, trong đó, những kết quả nghiên cứu đã làm sáng tỏ và cho thấy những giá trị có tính chất nền tảng trong tư tưởng Hồ chí Minh về xây dựng và hoàn thiện nhà nước cũng như hệ thống pháp luật nước ta [12]. Cuốn "Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn" 2003 của tác giả Lê Minh Tâm đã nghiên cứu và làm sáng tỏ những nội dung chủ yếu về xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam. Trong đó, tác giả đã tập trung phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật như: Bản chất, chức năng, giá trị xã hội, hình thức, hiệu lực của pháp luật và những tiêu chí cơ bản để xác định mức độ hoàn thiện của pháp luật, xây dựng và hệ thống hóa pháp luật.
Đồng thời, tác giả cũng đã phân tích quá trình hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến nay. Trên cơ sở đó, tác giả nêu lên những phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam [82]. Cuốn "Góp phần bàn về cải cách pháp luật ở Việt Nam hiện nay" (2008) của tác giả Ngô Huy Cương đã đề cập đến vấn đề xây dựng, hoàn thiện pháp luật một cách khái quát, trong đó, tác giả đã phân tích và trình bày có hệ thống những vấn đề cơ bản về cải cách pháp luật trên cơ sở lý luận và từ thực ti n Việt Nam [43]. Cuốn "Xây dựng và hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay" 2010 do tác giả Nguy n Văn Động chủ biên đã phân tích, làm sáng r nhiều vấn đề quan trọng và cấp thiết đối với việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững như: Cơ sở khoa học trong 9 các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về phát triển bền vững và định hướng của việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật bảo đảm phát triển bền vững; mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa phát triển bền vững với xây dựng, hoàn thiện pháp luật; cách thức xác định các yếu tố phát triển bền vững trong nội dung pháp luật và lồng ghép chúng vào quá trình xây dựng, ban hành các văn bản Q L; tiêu chuẩn đánh giá mức độ bảo đảm yêu cầu phát triển bền vững trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật; hài hòa hóa pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật trước yêu cầu phát triển bền vững [54].
Đồng thời, tác giả Nguy n Văn Động cũng công bố hai bài nghiên cứu trên Tạp chí Luật học số 3 năm 2010 (Hoạt động xây dựng pháp luật trước yêu cầu phát triển bền vững của Việt Nam hiện nay) [55] và Tạp chí Luật học số 5 năm 2010 (Cách thức xác định các yếu tố phát triển bền vững của pháp luật và lồng ghép chúng vào quá trình xây dựng pháp luật) [56]. Hai bài viết này đã tập trung phân tích vấn đề xây dựng, hoàn thiện pháp luật trước yêu cầu phát triển bền vững; làm r cách thức xác định các yếu tố phát triển bền vững của pháp luật và vấn đề lồng ghép các yếu tố này vào quá trình xây dựng pháp luật.