Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VE DỊCH VỤ, DỊCH VỤ CÔNG, XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CONG VÀ PHÁP LUAT VE XÃ HỘI HÓA DỊCH VỤ CÔNG 1. Dich vụ và Dịch vụ công 1. Dịch vụ Có nhiều quan niệm khác nhau về hoạt động trao đổi được gọi chung là dịch vụ và ngược lại dịch vụ bao gồm nhiều loại hình hoạt động và nghiệp vụ trao đổi trong các lĩnh vực và ở cấp độ khác nhau. Để hiểu rõ hơn về dịch vụ, luận văn khái quát những quan niệm hiện có về dịch vụ: Theo Từ điển Tiếng Việt: dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công [27, tr.
256] Định nghĩa về dịch vụ trong kinh tế học được hiểu là những thứ tương tự như hàng hoá nhưng phi vật chất [Từ điển Wikipedia]. Theo quan điểm kinh tế học, bản chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu như: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức khoẻ.và mang lại lợi nhuận. Từ điển Bách Khoa Việt Nam: dịch vụ (kinh tế) là những hoạt động phục vụ nhằm thỏa mãn những nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt. Do nhu cầu rất đa dạng tùy theo sự phân công lao động nên có nhiều loại dịch vụ.
Dịch vụ phục vụ sản xuất, kinh doanh; dịch vụ phục vụ sinh hoạt công cộng; dịch vụ cá nhân dưới mọi hình thức những dịch vụ gia đình; những dịch vụ tỉnh thần dựa trên những nghiệp vụ đòi hỏi tài năng đặc biệt (hoạt động môi giới, nghiên cứu, quảng cáo); những dịch vụ liên quan đến đời sống và sinh hoạt cộng đồng (sức khỏe, giáo dục, giải trí); những dịch vụ về chỗ ở. Sự phát triển dịch vụ hợp lý có chất lượng cao là một biểu hiện của nền kinh tế phát triển và một xã hội văn minh. [24, tr 671 — 672] Tóm lại, mặc dù dịch vụ được tiếp cận dưới những góc độ khác nhau nhưng tựu chung được cho rằng: dịch vụ là hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người một cách có chủ đích và mang tính chuyên nghiệp. Đặc điêm của dịch vụ là không tồn tại ở dang sản phẩm cụ thé (hữu hình) như hàng hoá nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội.
Dịch vụ cũng là một loại hoạt động của con người, với ý nghĩa con người bằng việc tiêu hao sức lực và thời gian để tác động lên hiện thực khách quan tạo ra sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người, của xã hội. Sản phẩm do dịch vụ tạo ra do không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thé như hang hóa nhưng giá trị và sự có ích của nó rất hữu ích đối với con người và xã hội. Quá trình trao đổi sản phâm có thể diễn ra trong hai trường hợp: (1) Trao đổi trực tiếp (hoặc trao đổi không có tính mua bán) và trao đổi gián tiếp. Dịch vụ truyền thông, dẫn dắt công luận, truyền bá tư tưởng.
mục đích chính của trao đổi là giá trị của sản phẩm, hay các dịch vụ quốc phòng, bảo vệ môi trường, cây xanh, chiếu sáng. đây là sản phẩm mà người thụ hưởng không phải bỏ phí mà vẫn được sử dụng. Những dịch vụ này không thể đem ra mua bán mà phải có sự can thiệp và điều tiết của Nhà nước dé phục vụ mục tiêu chung của xã hội. (2) Trao đổi gián tiếp (trao đổi có tính mua bán, thị trường), sản phẩm của loại hình này thường có tính hai chiều của nó, người thụ hưởng phải bỏ tiền hoặc mắt phí để sử dụng và sản phẩm của dịch vụ khi trao đổi phải bao hàm cả giá trị và giá trị sử dụng.
Trong trường hợp này có thể gọi sản phẩm này là hàng hóa được đem ra trao đổi trên thị trường (có cung — cầu). Dịch vụ công Thuật ngữ “Dịch vụ công” trong những năm gần đây được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu bởi đây là một thuật ngữ mới trong nghiên cứu khoa học. Mặc dù mới xuất hiện nhưng lại có khá nhiều cách tiếp cận cũng như cách hiểu khác nhau. Để làm rõ khái niệm dịch vụ công, cần xem xét những thuật ngữ liên quan.
Hàng hóa công cộng (HHCC) Theo nghĩa Hán Việt HHCC được ghép bởi hai từ hang hóa (Hàng hóa theo nghĩa kinh tế học, là sản phẩm của quan hệ xã hội với các đặc điểm: có giá trị sử dụng và giá trị (giá trị trao đổi); công cộng có nghĩa là chung (cùng nhau, chung nhau) có tính chung và tính cộng đồng. HHCC là các sản phẩm, các tiện ích được cung cấp nhằm đáp ứng nhu cầu chung và có thuộc tính không loại trừ và không có tính cạnh tranh. Gồm có HHCC thuần túy và HHCC không thuần túy. Cũng có học giả chia làm hàng hóa công với đặc tính không loại trừ (ngược lại với hàng hóa tư có tính loại trừ phải là chủ sở hữu hoặc được chủ sở hữu cho phép).
HHCC thuần túy là loại hàng hóa mà tất cả mọi người đều có quyền sử đụng không loại trừ bất kỳ cá nhân, tổ chức nào sử dụng nó và việc tiêu dùng, sử dụng HHCC của người này không làm giảm hoặc ảnh hưởng đến việc tiêu dùng, sử dụng của người khác. HHCC không thuần túy là những hàng hóa chỉ thỏa mãn một trong hai đặc trưng trên. Ngoài ra còn có HHCC khuyến dụng hoặc HHCC có tính cá nhân (loại hàng hóa có thể phân chia dé định giá theo khâu phan sử dung) thể hiện ở sơ đồ sau: HÀNG HÓA CC HHCC HHCC KHÔNG HHCC HHCCCÓ TÍNH THUAN TUY THUAN TUY KHUYEN CA NHAN - Quéc phong - Cau, đường DỰNG - Điện, nước sinh - Cứu hỏa - Công viên - Đội mũ bảo hoạt - Chiếu sáng - Hệ thống thoát hiểm - Giáo dục công cộng nước - Nghiên cứu -Ytễ - VV. Sự nghiệp (Sự nghiệp công) Theo nghĩa Hán Việt: sự nghiệp dùng để chỉ những hoạt động phi sản xuất vật chất, phục vụ nhu cầu, lợi ích công cộng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội như y tế, giáo dục, văn hóa — xã hội, nghệ thuật, thể dục thể thao.
do các đơn vị chuyên môn thực hiện và được hỗ trợ bằng ngân sách Nhà nước. Ở nước ta, trong tiến trình hội nhập và nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như nâng cao vai trò và uy tín của Nhà nước trong việc quản lý với các đơn vị sự nghiệp thì hiện tại các đơn vị này hoạt động theo Nghị định số 43/2006/QĐ-CP ngày 25/4/2006. Cũng theo Nghị định nay đơn vi sự nghiệp thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, là đơn vị dự toán độc lập, có con dấu và tài khoản riêng. những đơn vi này tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vu, tô chức bộ máy, biên chế và tài chính các đơn vị sự nghiệp do cơ quan Nhà nước có thâm quyền thành lập.
Hành chính công Thuật ngữ Hành chính công xuất hiện và được sử dụng rộng rãi, phố biến ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển mạnh, nơi mà khu vực tư nhân đóng vai trò quan trọng. Thuật ngữ này cũng được tiếp cận từ rất nhiều góc độ khác nhau và cũng có nhiều quan niệm khác nhau. Đoàn Trọng Truyến: “Hành chính học đại cương” [16, tr. Hành chính công là “hoạt động của Nhà nước, của các cơ quan Nhà nước, mang tính quyền lực Nhà nước, sử dụng quyền lực Nhà nước để quản lý công việc của Nhà nước, nhằm phục vụ lợi ích chung hay lợi ích riêng hợp pháp của công dân”.
Như vậy, hành chính công là một dạng hoạt động nhằm thực hiện các »”? nhiệm vụ công vì lợi ích công (lợi ích chung của toàn xã hội), được thực hiện bởi các pháp nhân công (chủ thé của quyền lực công). Dịch vụ công Một số các quốc gia trên thế giới thuật ngữ “dịch vụ công” đồng nghĩa với bộ máy Chính phủ (lý do được đưa ra là tất cả các dịch đo chính phủ cung cấp cho người dân đều được coi là dịch vụ công). Dịch vụ công theo nghĩa hẹp là những hàng hóa và dich vụ do chính phủ cung cấp hoặc có trách nhiệm quản ly | tổ chức công tác cung cấp dịch vụ công đảm bảo mức độ hài lòng của người dân [4, tr 261]. (1) Các nước phương Tây nói chung, có cách hiểu khá thống nhất về dịch vụ công, cho đó là công việc của Chính phủ, phục vụ nhằm mang lại lợi ích cho cộng đồng xã hội; cung cấp hàng hóa và dich vụ thiết yếu cho công dân và tổ chức xã hội; tuy nhiên, có thể thấy sự không thống nhất hoàn toàn khi nghiên cứu thuật ngữ dịch vụ công ở các nước.
Theo từ điển Oxford, “Dịch vụ công: 1. Các dịch vụ như giao thông hoặc sức khỏe do chính phủ hoặc các tổ chức chính thức cung cấp cho mọi người nói chung đặc biệt là xã hội 2. Làm một việc gì đó để giúp mọi người hơn là kiếm lợi nhuận 3. Chính phủ hoặc các cơ quan Chính phủ”, (Oxford, 2000, tr.1024) [21]: Từ điển về Chính quyền và Chính trị Hoa Kỳ, Dịch vụ công được xác định là: 1.
Sự tham gia vào đời song xã hội; hành động tự nguyện vi cộng đồng của một người nao đó. Việc do Chính phủ; toàn bộ người làm của một cơ quan quyên lực, toàn bộ công nhân viên chức trong khu vực công cộng của quốc gia. Việc làm mà chính quyền làm cho cộng đồng của mình: sự bảo vệ của cảnh sát, thu dọn rác thải. Một cơ sở công ích địa phương.
Nghĩa vụ của một người đối với Nhà nước. [21] (2) Ở Việt Nam, dịch vụ công được coi là lĩnh vực mới và có rất nhiều nhà nghiên cứu tuy nhiên các tác giả lại có những quan niệm không thống nhất về dịch vụ công, xin nêu một SỐ vi dụ: PGS. Chu Văn Thành (Bộ Nội vụ) đưa ra một định nghĩa dịch vụ công như sau: “Dịch vụ công là những hoạt động của các t6 chức Nhà nước hoặc của các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tư nhân được Nhà nước uy quyén dé thuc hién nhiém vu do phap luat quy dinh, phuc vu truc tiép nhu cau thiét yếu chung của cộng đồng, công dân; theo nguyên tắc không vụ lợi; dam bảo sự công bằng và ổn định xã hội”.