Chương 1 LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CÁC GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG GIAO DỊCH TẬP TRUNG 1. TONG QUAN VE GIAO DICH CHUNG KHOAN TREN THI TRƯỜNG GIAO DỊCH TẬP TRUNG 1. Khái niệm thị trường giao dịch tập trung 1.1 Khái niệm thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán được xem là đặc trưng cơ bản, là biểu tượng của nên kinh tế hiện đại. Là một bộ phận cấu thành của thị trường tài chính, thi trường chứng khoán được hiểu một cách chung nhất là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các chứng khoán giữa các chủ thể tham gia.
Việc trao đổi mua bán này được thực hiện theo những quy tắc ấn định trước [65, tr. Trong các văn bản pháp luật về thị trường chứng khoán của các nước, hầu như không đưa ra định nghĩa như thế nào là thị trường chứng khoán. Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về thị trường chứng khoán, song chủ yếu các quan điểm này nghiên cứu thị trường chứng khoán dưới góc độ kinh tế và gắn nó trong mối quan hệ với thị trường tài chính. Theo Giáo trình Thị trường Chứng khoán của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân tổng kết một số quan điểm về thị trường chứng khoán như sau: (i) quan điểm thứ nhất cho rằng thị trường chứng khoán va thị trường vốn là một, chỉ là tên gọi khác nhau của cùng một khái niệm: thị trường tư ban (capital market).
Nếu xét về mặt nội dung thì thị trường vốn biểu hiện các quan hệ bản chất bên trong của quá trình mua bán các chứng khoán. Thị trường chứng khoán là biểu hiện bên ngoài, là hình thức giao dịch vốn cụ thể. Do đó, các thị trường này không thể phân biệt, tách rời nhau mà thống nhất và cùng phản ánh các quan hệ bên trong và bên ngoài của thị trường tư bản. (ii) Quan điển thứ hai cho rằng thị trường chứng khoán được đặc trưng bởi thị trường vốn chứ không phải đồng nhất là một.
Như vậy, theo quan điểm này, thị trường chứng khoán và thị trường vốn là khác nhau, trong đó thị trường chứng khoán chỉ giao dịch, mua bán các công cụ tài chính trung và dài hạn như trái phiếu chính phủ, cổ phiếu và trái phiếu công ty. Các công cụ tài chính ngắn hạn được giao dịch trên thị trường tiền tệ, không thuộc phạm vi hoạt động của thị trường chứng khoán. (iii) Quan điển thứ ba dựa trên các quan sát thực tế hoạt động của đa số các Sở giao dịch chứng khoán và cho rằng thị trường chứng khoán là thị trường mua bán cổ phiếu do các công ty cổ phần phát hành ra để huy động vốn. Theo quan điểm này, thị trường chứng khoán được đặc trưng bởi thị trường mua bán các công cụ tài chính mang lại quyền tham gia sở hữu, còn những công cụ nợ khác thì không thuộc phạm vi của thị trường này [65, tr.
Các quan điểm về thị trường chứng khoán dưới góc độ kinh tế mặc dù ở khía cạnh này hay khía cạnh khác đều phản ánh được tính chất và biểu hiện của thị trường chứng khoán song đã đi từ chỗ quá rộng (đồng nhất với thị trường vốn) đến chỗ quá hẹp (chỉ là thị trường cổ phiếu). Các quan điểm này cũng không nêu bật được đặc thù của thị trường chứng khoán thể hiện qua những đặc tính cơ bản của hàng hoá giao dịch trên thị trường. Quan điểm thứ hai đã bước đầu tiếp cận đưới góc độ đặc tính cơ ban của hàng hoá là chứng khoán, song cũng chỉ mới dừng lại ở tính kỳ hạn của chứng khoán (thị trường chứng khoán chỉ giao dịch, mua bán các công cụ tài chính trung và đài hạn như trái phiếu chính phủ, cổ phiếu và trái phiếu công ty. Các công cụ tài chính ngắn hạn được giao dịch trên thị trường tiền tệ, không thuộc phạm vi hoạt động của thị trường chứng khoán).
Tuy nhiên, đây chưa phải là những đặc tính quan trọng nhất của chứng khoán. Một số cuốn Từ điển về thuật ngữ tài chính trên thế giới có đưa ra khái niệm thị trường chứng khoán dựa trên loại hàng hoá mà nó giao dịch nhưng cũng không dé cập cu thể tới tính chất của hàng hoá đó. Ví dụ Từ điển kỹ thuật về thị trường chứng khoán và thị trường tài chính (Le dictionnaire technique de la Bourse et des Marches financiers) định nghĩa: “Thị trường chứng khoán là thị trường chính thức và công khai, nơi niêm yết và giao dịch các loại chứng khoán đã đăng ký niêm yét” (104, tr.72], hoặc Từ điển Pháp luật Barron (Barron’s Law Dictionary) định nghĩa: “Thị trường chứng khoán là thị trường có tổ chức, nơi các cổ phiếu và trái phiếu được giao dịch một cách sôi động thông qua Sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trường OTC” [100, tr. Định nghĩa nêu trên khiến người đọc không có một hình dung rõ ràng về sự khác biệt giữa thị trường chứng khoán và các thị trường hàng hoá khác.
Dưới góc độ pháp lý, tác giả luận án cho rằng cần tiếp cận khái niệm thị trường chứng khoán dựa trên những đặc trưng pháp lý cơ bản của hàng hoá giao dịch trên thị trường, đó là: thi trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dich mua \ Ee bán, trao đổi các loại chứng khoán. Chứng khoán được hiểu là các loại giấy tờ có giá hay bút toán ghi số, nó cho phép chủ sở hữu có quyền yêu cầu về thu nhập và tài sản của tổ chức phát hành hoặc quyên sở hữu. Các quyền yêu cầu này có sự khác nhau giữa các loại chứng khoán, tuỳ theo tính chất sở hữu của chúng. Khái niệm này, theo tác giả, phản ánh được đặc trưng của thị trường chứng khoán so với các thị trường hàng hoá khác thể hiện ở tính chất đặc thù của loại hàng hoá được giao dịch trên thị trường đó (xem chi tiết phần 1.
Thị trường giao dịch tập trung — khái niệm và nguyên tắc hoạt động Căn cứ vào sự luân chuyển vốn, thị trường chứng khoán được chia thành (i) thị trường sơ cấp và (ii) thị trường thứ cấp. (i) Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành. Trên thị trường này vốn từ nhà đầu tư được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua chứng khoán mới phát hành và vì vậy thị trường sơ cấp là nơi huy động vốn cho doanh nghiệp [32, tr. (1) Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường so cấp.
Thị trường thứ cấp có hai chức năng: thit nhất là tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành, tức là tạo điều kiện cho việc mua bán chứng khoán được tiến hành nhanh chóng và thuận tiện; thiz hai, xác lập giá chứng khoán căn cứ theo cung cầu thị trường [32, tr. Thị trường thứ cấp được tổ chức theo ba phương thức: thị trường giao dịch tập trung, thị trường phi tập trung và thị trường thứ ba. Thị trường giao dịch tập trung là thị trường mà các giao dịch được tổ chức tập trung theo một địa điểm vật chất dưới dạng các Sở giao dịch chứng khoán 10 (58, tr.17], tại đó người mua và người bán (hay đại diện và những nhà môi giới của họ) gặp nhau để tiến hành giao dịch. Vì vậy "người ta còn gọi Sở giao dịch chứng khoán là thị trường tập trung, nơi giao dịch mua bán, trao đổi các chứng khoán cua các công ty lớn, hoạt động có hiệu qua" [65, tr.
Giá cả của chứng khoán tại thị trường giao dịch tập trung được xác lập chủ yếu qua cơ chế đấu lệnh tập trung. Thị trường giao dich tập trung phân biệt với thi trường giao dich phi tập trung (Over-the-counter, OTC) ở ché: thị trường OTC là thị trường mà hoạt động giao dịch được thực hiện thông qua mạng lưới máy tính điện tử diện rộng chứ không có địa điểm giao dịch tập trung như đối với thị trường giao dịch tập trung. Cơ chế xác lập giá trong thị trường OTC chủ yếu là cơ chế thương lượng giá giữa bên mua và bên bán chứ không bằng đấu giá tập trung như thị trường sở giao dịch. Chứng khoán giao dịch trên thị trường OTC chủ yếu là chứng khoán của các công ty vừa và nhỏ, công ty công nghệ cao, công ty mới thành lập nhưng có tiềm năng phát triển tốt, cũng có thể nói là chứng khoán chưa đủ tiêu chuẩn niêm yết và có độ rủi ro cao hơn so với chứng khoán trên thị trường giao dịch tập trung.
Tuy nhiên, với sự phát triển của thị trường chứng khoán hiện đại và với những ứng dụng ngày càng sâu rộng của công nghệ thông tin vào hoạt động của thị trường chứng khoán, sự phân biệt giữa thị trường giao dịch tập trung và thị trường giao dịch phi tập trung ngày càng mờ nhạt và chỉ mang tính tương đối. Đây cũng chính là quan điểm của nhiều nhà quản lý đối với thị trường OTC hiện _đại [26, tr6]. Tác giả Lê Thị Mai Linh cho rằng, cần phải phân biệt giữa thi trường OTC truyền thống và thị trường OTC hiện đại. Thị trường OTC truyền thống là thị trường có hình thức tổ chức giao dịch mua bán phi tập trung với nghĩa là không có địa điểm, vị trí giao dịch tập trung giữa bên mua và bên bán như đốt với thị trường giao dịch tập trung.
Còn thị trường OTC hiện đại là thị trường có thể kết hợp các hình thức giao dịch tập trung và phi tập trung, trong đó hình thức giao dịch tập trung được tổ chức giống Sở giao dịch (ví dụ, NASDAQ là thị trường OTC nổi tiếng nhất của Mỹ ngày 13/1/2006 vừa qua đã được Uỷ ban H1 Giao dịch và Chứng khoán Mỹ phê chuẩn để trở thành một Sở giao dịch chứng khoán), còn hình thức giao dịch phi tập trung cũng được tổ chức “tập trung” hơn Sở giao dịch chứng khoán và thị trường OTC truyền thống nhờ có mạng máy tính điện tử diện rộng [71, tr. Ngoài hai loại thị trường nêu trên, người ta còn nói đến thi trường thứ ba là thị trường trong đó hoạt động giao dịch chứng khoán được thực hiện tự do, phân tán, không qua thị trường giao dich tập trung và cũng không qua thị trường OTC. Cho dù hiện nay thị trường phi tập trung đã có những biến thái đa dạng, thậm chí phát triển gần giống thị trường tập trung, song thị trường giao dịch tập trung vẫn được coi là thị trường truyền thống, điển hình và là thị trường cơ bản, là bộ mặt của mọi thị trường chứng khoán. Khi nhắc đến thị trường chứng khoán của một quốc gia, trước tiên người ta nhắc đến thị trường giao dich tập trung - Sở giao dịch chứng khoán của quốc gia đó, ví dụ: Sở giao dịch chứng khoán New York, SỞ giao dịch chứng khoán Tokyo.