Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG CẦM CỐ CHỨNG KHOÁN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm, đặc điểm hợp đồng cầm cố chứng khoán 1. Khái niệm hợp đồng cầm cố chứng khoán Hợp đồng cầm cố chứng khoán là một giao dịch bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dƣới hình thức cầm cố. Hợp đồng cầm cố chứng khoán đƣợc xác lập nhằm bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ chính (nghĩa vụ trả tiền vay) đƣợc xác lập trƣớc đó.
Nhƣng chứng khoán là tài sản thuộc loại giấy tờ có giá, đồng thời chúng đƣợc điều chỉnh bởi pháp luật chứng khoán, nên khi nghiên cứu một hợp đồng dân sự có tính chất đặc trƣng, thì ngoài việc căn cứ vào những quy định chung về cầm cố tài sản của BLDS 2005, thì còn phải dựa vào các quy định pháp luật chuyên ngành và các văn bản pháp luật có liên quan để có thể tiếp cận vấn đề một cách toàn diện hơn. Để có đƣợc một cái nhìn khái quát nhất về vấn đề này, chúng ta sẽ tìm hiểu xem khái niệm cầm cố chứng khoán là gì? Và mục đích của việc cầm cố chứng khoán để làm gì? Cầm cố chứng khoán tại NHTM là việc các ngân hàng thƣơng mại nhận chứng khoán làm tài sản bảo đảm cho khoản tiền vay của khách hàng tại ngân hàng. Quan hệ cầm cố chứng khoán đƣợc xác lập giữa bên cầm cố (nhà đầu tƣ) và bên nhận cầm cố (các NHTM). Trên cơ sở quy định trong BLDS 2005 về hợp đồng cầm cố tài sản, thì có thể hiểu Hợp đồng cầm cố chứng khoán là sự thỏa thuận của các bên, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao chứng khoán thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Đặc điểm hợp đồng cầm cố chứng khoán Là một dạng của hợp đồng cầm cố tài sản, hợp đồng cầm cố chứng khoán cũng là một biện pháp bảo đảm nghĩa vụ đối vật, theo đó bên cầm cố phải giao chứng khoán cho bên nhận cầm cố, đồng thời bên nhận cầm cố chứng khoán cũng có quyền xử lý chứng khoán cầm cố khi đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ chính mà bên cầm cố không thực hiện. Bên cạnh đó, hợp đồng cầm cố chứng khoán có một số đặc trƣng riêng sau: - Nghĩa vụ đƣợc bảo đảm trong hợp đồng cầm cố là nghĩa vụ trả tiền vay ở các TCTD, là nhằm để bảo đảm cho một nghĩa vụ là nghĩa vụ trả tiền vay của bên vay với mục đích đầu tƣ chứng khoán, hoặc có thể bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ nhƣng cũng với mục đích để đầu tƣ chứng khoán. Điều đó khác biệt với một hợp đồng cầm cố tài sản đơn thuần, có thể xác lập để bảo đảm cho một nghĩa vụ bất kỳ khi có nghĩa vụ phát sinh đƣợc bảo đảm. - Trong hợp đồng cầm cố chứng khoán đã niêm yết luôn có sự tham gia của các thành viên lƣu ký chứng khoán – tham gia với tƣ cách là chủ thể của hợp đồng để thực hiện việc cầm cố hay nhận cầm cố chứng khoán hoặc tham gia với tƣ cách đƣợc đại diện theo ủy quyền của các bên trong hợp đồng cầm cố chứng khoán để thực hiện việc chuyển giao hoặc nhận chứng khoán cầm cố.
Sự hiện diện của thành viên lƣu ký chứng khoán trong hợp đồng cầm cố chứng khoán là hoàn toàn hợp lý, bởi lẽ các thành viên lƣu ký vốn là nơi nhà đầu tƣ đăng ký lƣu ký và thực hiện các dịch vụ thanh toán chứng khoán, lẽ dĩ nhiên họ sẽ biết đƣợc rõ hơn cách thức cũng nhƣ đặc điểm của từng loại chứng khoán, từ đó sẽ đƣa ra những nhận định đúng đắn hơn về chứng khoán cầm cố. Thêm vào đó, thành viên lƣu ký là tổ chức đƣợc thành lập và thực hiện cầm cố chứng khoán sẽ thuận lợi hơn trong việc chuyển giao hay nhận chứng khoán cầm cố. - Tài sản cầm cố là chứng khoán - một loại tài sản vô hình, mặc dù 8 z chúng hiện diện dƣới một tờ cổ phiếu hay trái phiếu (là bằng chứng xác nhận sự tồn tại của chứng khoán trên thực tế) nhƣng bản thân tồn tại vật chất đó không đƣợc xem là tài sản. Chính vì vậy, việc chuyển giao chứng khoán cầm cố cũng đƣợc thực hiện một cách vô hình, thông qua các tài khoản đƣợc mở tại TTLKCK thông qua các thành viên lƣu ký.
Về bản chất thì chứng khoán là một loại giấy tờ có giá, chúng đƣợc xem là tài sản đặc biệt, và đƣợc giao dịch trên một thị trƣờng riêng biệt. Với những tính chất đặc trƣng đó, theo quy định của Luật chứng khoán năm 2006 sửa đổi bổ sung năm 2010 thì: “Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người chủ sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử” [22, Điều 6]. Đặc điểm nổi bật của chứng khoán là tính sinh lời – ngƣời sở hữu chứng khoán sẽ nhận đƣợc một khoản lợi nhuận trong tƣơng lai từ ngƣời phát hành.
Ngoài ra, chứng khoán còn có tính rủi ro, đối với chứng khoán đƣợc giao dịch trên thị trƣờng tập trung thì rủi ro về giá cả có thể xảy ra bất cứ lúc nào, chỉ cần một biến động nhỏ nào đó của thị trƣờng hay về phía chủ thể phát hành, hoặc có sự thay đổi về chính sách pháp luật có liên quan, hoặc thậm chí chỉ cần một tin đồn thất thiệt nào đó thôi, thì ngay lập tức giá chứng khoán sẽ giảm một cách nhanh chóng, khiến các nhà đầu tƣ trở tay không kịp. Hơn thế nữa, một khi chủ thể phát hành chứng khoán bị phá sản thì rủi ro có thể nói là rất lớn đối với nhà đầu tƣ. Bên cạnh đó, chứng khoán còn có tính vô hình, tuy tồn tại dƣới hình thức là cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ hay một dữ liệu điện tử chẳng hạn, nhƣng đó chỉ là bằng chứng thể hiện những quyền hợp pháp đối với một lợi ích nào đó ở hiện tại hoặc trong tƣơng lai. Giá trị của chúng không liên quan gì đến hình thức mà những quyền đó đƣợc thể hiện.
Mà giá trị của chứng khoán sẽ tồn tại dƣới dạng những con số hoặc những ký hiệu và đƣợc giao dịch thông qua các tài khoản. Thêm vào đó, một 9 z trong những đặc tính quan trọng không thể thiếu của chứng khoán đó chính là tính thanh khoản – là khả năng chuyển đổi thành tiền mặt. Phân loại chứng khoán: Căn cứ theo tính chất: Chứng khoán vốn (Cổ phiếu, cổ phiếu ƣu đãi, chứng chỉ quỹ), chứng khoán nợ (trái phiếu); Căn cứ theo tiêu chuẩn pháp lý: Chứng khoán ký danh (có ghi tên ngƣời nắm giữ chứng khoán); chứng khoán vô danh (không ghi tên ngƣời nắm giữ chứng khoán). Ngoài ra nếu phân loại theo mục đích phát hành thì còn có các loại chứng khoán phái sinh nhƣ: quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua…Tuy nhiên, do các loại chứng khoán này chƣa phát triển trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam.
Vì vậy, trong phạm vi đề tài này chỉ xoay quanh tìm hiểu hợp đồng cầm cố các loại chứng khoán cơ bản nhƣ cổ phiếu, trái phiếu và chứng chỉ quỹ và tựu chung lại gọi là hợp đồng cầm cố chứng khoán. + Cổ phiếu – là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành. Cổ phiếu có thể đƣợc phát hành dƣới dạng chứng chỉ vật chất hoặc bút toán ghi sổ, cổ phiếu thể hiện mối quan hệ đồng sở hữu của ngƣời phát hành và nhà đầu tƣ. Khi cần huy động vốn công ty cổ phần phát hành cổ phiếu và sẵn sàng chia sẻ quyền sở hữu công ty giữa những ngƣời mua cổ phiếu, với tƣ cách là ngƣời chủ sở hữu của một phần công ty.
Ngƣời sở hữu cổ phiếu (gọi là cổ đông) đƣợc hƣởng các quyền đối với công ty với mức độ tƣơng ứng với tỷ lệ cổ phiếu nắm giữ, đồng thời nếu công ty làm ăn thua lỗ thì cổ đông phải gánh chịu thiệt hại cùng với công ty. Đây là biểu hiện đặc trƣng của tính rủi ro tồn tại ở chứng khoán. Xét về nội dung thì một cổ phiếu cần có những nội dung chủ yếu sau đây: Tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty; số và ngày cấp chứng nhận đăng ký kinh doanh; số lƣợng cổ phần và loại cổ phần, mệnh giá mỗi cổ phần và tổng mệnh giá số cổ phần ghi trên cổ phiếu; chữ ký của ngƣời đại diện theo 10 z pháp luật và con dấu của công ty và một số nội dung khác theo quy định đối với từng loại cổ phiếu cụ thể. Đặc điểm: ngƣời sở hữu chúng đƣợc quyền chuyển nhƣợng, tặng cho hoặc thực hiện một số giao dịch khác theo quy định của pháp luật chứng khoán, đƣợc quyền nhận cổ tức, đây là đặc điểm đặc trƣng của cổ phiếu để phân biệt các loại chứng khoán khác.
Vì khi sở hữu cổ phiếu, ngƣời sở hữu sẽ đƣợc trả cổ tức theo quy định của tổ chức phát hành mà sẽ không đƣợc hoàn vốn (trừ loại cổ phiếu ƣu đãi hoàn lại hoặc trƣờng hợp tổ chức phát hành bị phá sản, giải thể); thể hiện quyền sở hữu đối với công ty vì bản chất của cổ phiếu là các cổ phần của công ty phát hành (cổ phần là phần vốn của công ty chia làm nhiều phần bằng nhau) nên sở hữu cổ phần đƣợc xem nhƣ sở hữu của công ty. Phân loại cổ phiếu: Mặc dù pháp luật chứng khoán không phân loại cổ phiếu, nhƣng tùy theo mục đích cũng nhƣ tính chất của đợt phát hành mà Luật doanh nghiệp 2014 sẽ phân chia cổ phiếu thành các loại tƣơng ững với các loại cổ phần khi phát hành: bao gồm cổ phiếu phổ thông, cổ phiếu ƣu đãi biểu quyết, cổ phiếu ƣu đãi cổ tức, cổ phiếu ƣu đãi hoàn lại và các loại cổ phiếu ƣu đãi khác. Cổ phiếu phổ thông là loại cổ phiếu phổ biến nhất mà hầu hết các các công ty cỏ phần khi đủ điều kiện sẽ đƣợc quyền phát hành loại cổ phiếu này. Đặc trƣng của cổ phiếu phổ thông là có mệnh giá, có lãi suất không cố định, không có thời hạn đáo hạn.
Cổ phiếu phổ thông mang lại những quyền lợi sau cho cổ đông: quyền hƣởng cổ tức, quyền mua cổ phiếu mới, đƣợc tự do chuyển nhƣợng cổ phần, quyền tham dự các cuộc họp và bỏ phiếu biểu quyết trong cuộc họp.